Hôm nay,  

Bi Kịch Tây Tạng

10/03/200700:00:00(Xem: 10740)

Bi Kịch Tây Tạng

Trong một thế giới đóng kịch, dân Tây Tạng lại sống rất thực...

DHARAMSALA - Ngày hôm nay, Thứ Bảy mùng 10 tháng Ba, người dân Tây Tạng có một sinh hoạt đặc biệt.

Họ kỷ niệm ngày nổi dậy của dân Tây Tạng tại thủ đô Lhasa - mùng 10 tháng Ba năm 1959 - khi Trung Quốc đưa quân từ các tỉnh miền Đông, mà họ đã chiếm đóng từ 10 năm trước, tấn công Lhasa và đặt ách cai trị từ đó cho đến nay.

Từ hôm trước, nhiều xe phóng thanh đã len lỏi trên các đường dốc của Lhasa về lễ kỷ niệm nay. Thật ra, những bích chương biểu ngữ nhắc nhở biến cố đau buồn trên đã xuất hiện từ nhiều ngày trước. Xe phóng thanh - những chiếc xe con cóc nhỏ xíu - chỉ bắc loa kêu gọi từ sau ba rưỡi chiều. Trước đó, hầu như cả thị trấn Dharamsala chỉ thấy vang vọng lời thuyết giảng của đức Đạt Lai Lạt Ma trong khoá dạy của Ngài, bắt đầu từ mùng ba.

Từ ngôi đền thờ chính, nằm đối diện với "Cung điện" của Chính phủ Lưu vong Tây Tạng và nơi nghỉ ngơi của đức Đạt Lai Lạt Ma, người Tây Tạng đã bắc loa truyền thanh bài giảng của Ngài. Nhưng, tân kỳ hơn thế, người ta còn phóng lời cầu kinh và những giải thích về Phật pháp của đức Đạt Lai Lạt Ma lên băng tần FM.

Nhà nào trong khu vực cũng có thể bật radio lên nghe và dân Ấn Độ cũng vậy, vì lời giảng được trực tiếp phiên dịch ra Anh ngữ và nhiều thứ tiếng khác.

Cho tới khi khoá giảng trong ngày kết thúc, xe phóng thanh bắt đầu xuất hiện và nhắc đến ngày 10 tháng Ba. Và tối thứ Sáu, nhiều nơi đã có chiếu phim hoặc băng hình về cuộc nổi dậy 1959, và về những vụ đàn áp khác đã xảy ra tại Tây Tạng trước sự thờ ơ của thế giới.

Thế giới loài người có biệt tài.... đóng kịch!

Từ hơn ngàn năm nay, dân Tây Tạng đã có một sự chuyển hoá... đầy lợi hại nhờ Phật giáo. Tây Tạng từ bỏ chiến tranh, và hoàn toàn mưu cầu hoà bình theo lời Phật dậy. Ấy là mặt "lợi" nhìn từ đạo pháp. Mặt "hại" là xứ này không có khả năng tự phòng vệ trước những sức mạnh vốn không coi đạo pháp là gì!

Trong lịch sử Tây Tạng, có hai đế quốc đã triệt để khai thác điều ấy và làm thế giới bị lầm lạc về Tây Tạng. Trước hết là đế quốc Anh, kế tiếp là Trung Quốc. Hai xứ này tự coi là và được thế giới tưởng như là hai quốc gia am hiểu nhất về Tây Tạng. Và họ đóng kịch rồi cho cả thế giới vô tình đóng theo cùng một vở.

Năm 1904, cách đây trăm năm, đế quốc Anh nhòm ngó Tây Tạng nhưng không muốn đế quốc Nga xía vào cuộc chơi lớn này (the "Great Game" theo các nhà địa dư chính trị học) và cũng không muốn đế quốc Mãn Thanh mất lòng. Họ trình bày cho thế giới rằng Tây Tạng là một đất phụ dung của Trung Quốc. Nhưng, về thực chất, họ biết Tây Tạng là một xứ độc lập, có chủ quyền, nên ký kết những thỏa ước riêng với Lhasa.

Vừa độc quyền khai thác quan hệ song phương với Tây Tạng, vừa cho nhà Mãn Thanh uống nước đường về một tư thế không hề có tại Lhasa, họ vừa củng cố được vị trí của mình tại Hong Kong! Chuyện thiên hạ đại thế - geopolitics - của Anh vì vậy là một hài kịch.

Trung Quốc dưới triều Đại Thanh cũng biết rõ bài bản của vở kịch hơn ai hết.

Y như Thiên triều Bắc Kinh đối với Việt Nam thời xưa, họ biết rõ Tây Tạng không phải là chư hầu, một nước phụ dung hay trực trị. Họ hưởng cái hư vị của một đại cường có ảnh hưởng mà chẳng có thẩm quyền gì về thực tế.  Lý do là dân Tây Tạng luôn luôn nghĩ mình là người Tây Tạng, không hề là và không muốn là người Trung Hoa, hay thần dân của nhà Mãn Thanh.

Trước đó cũng thế, họ nhập nhằng gọi xứ này là Tây Tạng và giải thích chữ "Tạng" là tàng, là kho báu ở miền Tây - của Trung Quốc. Một kho báu họ với không tới vì ở quá xa và quá cao.

Đến khi Cộng sản Trung Hoa xuất hiện với Mao Trạch Đông, Trung Quốc trở nên thực tiễn hơn các Hoàng đế phong kiến thời xưa. Vừa chiếm được Hoa lục, Mao liền xua quân chiếm miền Đông Tây Tạng, với khẩu hiệu sau này trở thành quen thuộc: "giải phóng".

Trước là giải phóng Tây Tạng khỏi chế độ phong kiến lạc hậu, sau - năm 1959 - là giải phóng Tây Tạng khỏi sự xâm lăng của "đế quốc", dù khi đó Lhasa chỉ có chừng tám học giả hay các nhà nghiên cứu Tây phương đang tìm hiểu về xứ sở huyền bí này!

Dân Tây Tạng vốn đã từ bỏ việc đao binh từ lâu nên không thể đương cự nổi. Và từ 1959, hơn một triệu dân Tây Tạng đã được giải phóng khỏi kiếp sống. Nôm na là bị giết, bị đấu tố đến chết. Và đền đài hay kho báu Phật giáo của họ bị phá tan.

Giết người chưa đủ, họ muốn thủ tiêu luôn nền văn minh Tây Tạng và tiến hành cải tạo văn hoá, tư tưởng. Họ đưa bảy triệu người Hoa vào sống với sáu triệu Tạng dân và đang biến dân Tây Tạng thành người Hoa. Họ khai thác tài nguyên hết sức phong phú của xứ này, và từ 1987 mới "trả lại" chút đỉnh, chừng 5% theo ước tính của giới lãnh đạo Tây Tạng, bằng hệ thống cầu đường - và gọi đó là "hiện đại hóa".

Cách đây hơn nửa thế kỷ, nhân loại đã ngoảnh mặt làm ngơ khi chín triệu người Do Thái bị Đức quốc xã sát hại. Ngày nay, sáu triệu người Tây Tạng sẽ không bị đẩy vào lò hỏa thiêu - nhân loại vốn đã văn minh hơn - nhưng di sản văn hoá và tôn giáo của họ đang bị tiêu diệt. Và họ có thể bị biến chất trước sức mạnh vật chất của một đế quốc quái quỷ.

Nhìn trên toàn cảnh như vậy, người ta mới thấy ra vị trí của đức Đạt Lai Lạt Ma và vai trò của người Tây Tạng lưu vong.

Trong lễ kỷ niệm ngày hôm nay, vị lãnh đạo tinh thần Tây Tạng sẽ có một thông điệp nhắc nhở, kế tiếp là bài diễn văn của vị Thủ tướng Chính phủ Lưu vong Tây Tạng.

Còn lại, thế giới có muốn tiếp tục là đồng lõa cho vở bi kịch Tây Tạng không" Lòng tham - một thị trường đông dân nhất thế giới - và sự khiếp nhược - ai dám đụng vào cái vảy ngược của con rồng - là những cám dỗ rất lớn!

Chỉ có dân Tây Tạng là không chịu sống trong vở kịch đó. Đáng kính vô cùng!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.