Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Nhân Quyền Và Kinh Doanh

21/08/200700:00:00(Xem: 7321)

...thế giới đã nhìn ra vấn đề và đang có giải pháp thiết thực với các chính quyền độc tài và tham ô...

Cách đây hai tuần, cơ quan IFC của Ngân hàng Thế giới và Liên hiệp quốc đã công bố việc kết hợp nghiên cứu về ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đối với nhân quyền tại các nước nghèo. Theo kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, kết quả nghiên cứu sẽ được tổ chức Liên hiệp quốc áp dụng vào năm tới, và sẽ chi phối lề lối kinh doanh của các tập đoàn quốc tế lẫn phương thức cai trị của các chính quyền sở tại. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về vấn đề trên qua cuộc trao đổi sau đây do Nguyễn Khanh thực hiện hầu quý thính giả.

Hỏi: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, hôm mùng bảy vừa qua, cơ quan International Finance Corporation của Ngân hàng Thế giới, hay gọi tắt là IFC, và ông Đặc sứ Liên hiệp quốc về Kinh doanh và Nhân quyền vừa công bố kế hoạch nghiên cứu hỗn hợp về đầu tư trực tiếp của nước ngoài và nhân quyền tại các nước nghèo. Giới quan sát kinh tế và nhân quyền cho rằng công trình nghiên cứu đó sẽ chi phối tình hình kinh doanh và nhân quyền tại các nước đang phát triển. Vì vậy, chúng tôi đề nghị là trong chương trình kỳ này của Diễn đàn Kinh tế, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vấn đề ấy.

Câu hỏi trước tiên của chúng tôi là vì sao lại có nỗ lực phối hợp nghiên cứu giữa một cơ quan chuyên trách về tài trợ tư doanh và một văn phòng về kinh doanh và nhân quyền của Liên hiệp quốc"

Thưa ông, việc nghiên cứu là kết quả của một tiến trình kéo dài từ nhiều năm và đúng như ông nói, nội dung nghiên cứu sẽ chi phối hai lãnh vực là lề lối kinh doanh của các tập đoàn quốc tế lẫn đường lối cai trị của chính quyền các nước nghèo, là điều mà Việt Nam nên theo dõi rất sát. Theo sự thông báo của IFC, công trình nghiên cứu sẽ là cơ sở cho một chính sách mới sẽ được Liên hiệp quốc áp dụng trên toàn thế giới kể từ năm tới trở đi.

Hỏi: Như thông lệ, chúng tôi xin đề nghị ông trình bày cho thính giả đài Á châu Tự do về bối cảnh của vấn đề trước khi chúng ta bước vào chi tiết của việc nghiên cứu và áp dụng.
Từ hai chục năm nay, việc phát triển các dự án công nghiệp tại các nước nghèo - theo yêu cầu của các chính quyền và sự thực hiện của các doanh nghiệp quốc tế - có đưa tới nhiều thay đổi kinh tế, đồng thời cũng ảnh hưởng tới môi sinh và đời sống người dân ở nơi đây. Khi tiến trình công nghiệp hoá ấy chi phối môi trường sinh sống, thậm chí xâm phạm vào nhân quyền của người dân, thì ai sẽ phải chịu trách nhiệm và làm sao ngăn ngừa được"

Hỏi: Đây quả là vấn đề đáng chú ý, thí dụ như khi người ta xây đập, hay lập nhà máy, và phải giải phóng mặt bằng để thi công, với những lạm dụng có thể xảy ra ở các xứ này.
Câu hỏi ấy trở thành bức xúc hơn từ năm năm qua, khi tiến trình toàn cầu hoá lan rộng và gây phản ứng chống đối toàn cầu hoá, chống kinh tế thị trường và đả phá cái gọi là quy luật mù quáng của lợi nhuận. Nhưng bài toán đặt ra cho các nước đang phát triển là làm sao công nghiệp hoá và hiện đại hóa xứ sở mà đồng thời vẫn ngăn ngừa được những lạm dụng phương hại tới đời sống người dân" Như trong mọi loại phản ứng, ta thấy có hiện tượng thái quá từ nhiều phía; và trong cách ứng phó, Liên hiệp quốc gặp nhiều lúng túng khi cần dung hoà ngần ấy quan điểm khác biệt. Việc tiến hành một nghiên cứu hỗn hợp như ta vừa nói có thể vượt qua được những mâu thuẫn đã gặp và đặt ra một luật chơi mới.

Hỏi: Nói đến những phản ứng thái quá và nỗ lực dung hoà quan điểm, ông có thể nêu ra một số thí dụ được không"
Từ khi khối Xô viết sụp đổ và kinh tế thị trường trở thành phương thức phát triển được các nước áp dụng một cách phổ biến trên toàn cầu, chúng ta thấy xuất hiện một xu hướng mới là phong trào đấu tranh của các tổ chức ngoài chính phủ, ta hay gọi tắt là NGO, nhằm bảo vệ môi sinh, nhân quyền, hay điều kiện lao động của người dân, thậm chí của thiếu nhi tại các nước nghèo. Phản ứng thái quá là quy tội cho các doanh nghiệp đã vì lợi nhuận mà bóc lột hoặc gây ô nhiễm môi sinh cho các nước nghèo.
Nhưng thiếu loại dự án công nghiệp ấy thì kinh tế các xứ này lại khó phát triển và mức sống người dân không được cải thiện. Từ năm năm nay, các phong trào chống đối toàn cầu hoá hoặc kinh tế thị trường đã nhìn ra vai trò thật ra cũng có mặt tích cực của doanh nghiệp đầu tư và đồng thời cũng nhìn ra trách nhiệm không nhỏ của các chính quyền khi cho thi hành các dự án này.

Hỏi: Nếu có thể, xin đề nghị ông đi vào chi tiết để nói đến nỗ lực của Liên hiệp quốc nhằm dung hoà các quan điểm đối nghịch ấy.
Thưa vâng, năm 2003, Liên hiệp quốc có đề ra một chương trình gọi là "Quy phạm Kinh doanh và Nhân quyền - tạm dịch từ U.N. Norms - nhằm minh định trách nhiệm hỗn hợp của hai thực thể khác biệt là doanh nghiệp, tức là các công ty đầu tư nước ngoài, và của nhà nước, là bộ máy công quyền tại các nước đang phát triển. Khi đi vào áp dụng, người ta mới thấy có nhiều điểm bất cập và khó thi hành.
Thí dụ cụ thể là doanh nghiệp đầu tư có thể bị dân cư địa phương kiện nếu không đảm bảo phúc lợi cho công nhân viên hay cộng đồng địa phương hoặc không cản trở được những vi phạm nhân quyền ở nơi ấy. Nếu áp dụng quy luật này thì các doanh nghiệp sẽ tránh đầu tư và gây thiệt hại cho các nước nghèo. Vả lại, nếu có nạn vi phạm nhân quyền trong việc thi hành dự án đầu tư thì chính quyền sở tại cũng có trách nhiệm.
Tháng Tư năm 2005, Tổng thư ký Liên hiệp quốc của thời ấy là ông Kofi Annan mới mời Giáo sư John Ruggie làm Đại sứ Đặc biệt của Liên hiệp quốc về Kinh doanh và Nhân quyền để nghiên cứu lại việc áp dụng quy phạm của Liên hiệp quốc, hầu đề ra một quy tắc hành xử thực tiễn hơn. Xin nói thêm rằng Giáo sư Ruggie của Đại học Harvard từng là Trợ lý Tổng thư ký Liên hiệp quốc kiêm Cố vấn trưởng về Trù hoạch Chiến lược của Liên hiệp quốc trong nhiều năm liền. Giờ đây, việc vị Đặc sứ Liên hiệp quốc hợp tác nghiên cứu cùng cơ quan chuyên về tài trợ và phát triển tư doanh của Ngân hàng Thế giới là IFC để đệ nạp Liên hiệp quốc quyết định vào năm tới là một bước tiến bộ. Trong tháng tới, người ta đã có thể nghe vị Đặc sứ này trình bày những báo cáo sơ khởi làm nền tảng quyết định cho Liên hiệp quốc kể từ năm 2008 trở đi.

Hỏi: Sau phần trình bày về bối cảnh của vấn đề, qua phần thứ nhì, thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, khi theo dõi bước tiến của Liên hiệp quốc từ nhiều năm nay, ông có thấy ra chiều hướng sắp tới của những quy tắc hành xử trong mối quan hệ giữa hai lĩnh vực là kinh doanh và nhân quyền hay không"
Giáo sư John Ruggie là người am hiểu về các vấn đề kinh doanh lẫn cai trị trên bình diện quốc tế và chiến lược. Khi ông được mời ra làm Đặc sứ Liên hiệp quốc về Nhân quyền và Kinh doanh, chúng ta có thể đoán rằng Quy phạm Liên hiệp quốc đề ra năm 2003 có những giới hạn của nó và cần được điều chỉnh lại. Theo dõi nhiều công trình nghiên cứu hay phát biểu của Giáo sư Ruggie, tôi thiển nghĩ rằng ông ta thấy ra một sự thể là không nên bó buộc các doanh nghiệp quá chặt chẽ mà bỏ qua trách nhiệm của các chính quyền.
Mặt khác, vì là định chế am hiểu quy luật kinh doanh và có chức năng phát triển tư doanh tại các nước nghèo, từ hơn 10 năm nay, cơ quan IFC của Ngân hàng Thế giới cũng có khảo hướng thiết thực là minh định trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc thi hành hợp đồng đã ký kết với các chính quyền. Trách nhiệm ấy khởi sự từ đâu và chấm dứt ở đâu"
Nếu kết hợp cả hai nỗ lực của Liên hiệp quốc lẫn IFC thì người ta thấy ra một vai trò và trách nhiệm then chốt của bộ máy công quyền tại các nước nghèo trong việc bảo vệ nhân quyền của người dân.

Hỏi: Nói cho nôm na dễ hiểu thì không thể đơn giản quy tội cho doanh nghiệp hay nhà đầu tư nước ngoài nếu có những vi phạm nhân quyền tại các nước nghèo. Thưa ông, có phải như vậy không"
Thưa đúng như vậy. Chúng ta không quên rằng Ngân hàng Thế giới từng bị phê phán vì tài trợ nhiều dự án phát triển hạ tầng tại các nước nghèo, thí dụ như tại Trung Quốc, và gây nhiều xáo trộn cho đời sống cư dân địa phương. Khi trường hợp ấy xảy ra, những ai sẽ phải chịu trách nhiệm" Nhà nước ở mấy xứ đó; hay doanh nghiệp quốc tế đi vào xây dựng cầu đường, nhà máy; hay cơ quan viện trợ của quốc tế" Mà làm sao quy định trách nhiệm khi ta không xét vào từng hợp đồng được ký kết để thực hiện dự án"
Một thí dụ cụ thể là khi lập ra một nhà máy sản xuất, thì yêu cầu về điện nước cho nhà máy là một đòi hỏi tất yếu của doanh nghiệp. Nếu cư dân địa phương thiếu điện hay thiếu nước thì đấy không thể là lỗi của doanh nghiệp mà là một vấn đề do nhà chức trách ở địa phương phải chu toàn. Nhìn rộng ra ngoài, một dự án liên doanh giữa một doanh nghiệp nhà nước và một công ty đầu tư nước ngoài cũng có thể gây vấn đề cho nhân quyền mà sở dĩ vẫn thực hiện là vì có sự chấp thuận của bộ máy công quyền sở tại, của nhà nước.

Hỏi: Như ông trình bày, khi nhìn rộng ra ngoài, chúng ta có thể nghĩ rằng một cơ quan viện trợ như Ngân hàng Thế giới hay IFC, hoặc cả Ngân hàng Phát triển Châu Á có khả năng từ chối tài trợ các dự án được coi là xấu. Nhưng liên doanh giữa doanh nghiệp nhà nước ở xứ nghèo với tổ hợp đầu tư ở các xứ giàu vẫn có thể tìm ra nguồn tài trợ khác, thí dụ như các ngân hàng của tư doanh. Và trường hợp lạm dụng vẫn có thể xảy ra"
Thưa đúng như vậy. Trên diễn đàn này, trong một kỳ trước, chúng ta có nói đến quy tắc hành xử Ecuador do các ngân hàng tự nguyện cam kết. Theo quy tắc ấy, các ngân hàng sẽ từ chối tài trợ loại dự án vi phạm nhân quyền hay liên hệ đến tham nhũng. Mà các ngân hàng quốc tế ấy là nguồn tài trợ cho 80% các dự án phát triển tại các nước nghèo. Đồng thời, luật lệ Hoa Kỳ cũng trừng phạt nặng các doanh nghiệp Mỹ can tội cấu kết với tham nhũng ở các nước nghèo.
Nhưng, nếu không có nguồn tài trợ của một ngân hàng đã cam kết tuân phủ quy tắc Ecuador, hoặc nếu không liên doanh với một tập đoàn Mỹ thì doanh nghiệp nhà nước ở các xứ nghèo, thí dụ như Việt Nam, vẫn có thể tìm ra nguồn tài trợ của ngân hàng khác, hoặc thực hiện lấy dự án mà khỏi cần liên doanh với ai.
Trong những trường hợp ấy, nạn chà đạp nhân quyền vẫn có thể xảy ra, như các vụ biểu tình khiếu kiện của dân oan tại Việt Nam đang cho thấy. Vì vậy, chiều hướng mới của Liên hiệp quốc là phải lập ra một cơ chế cưỡng hành có thực lực và nhất là phải minh định trách nhiệm của chính quyền và viên chức gian tham tại các nước nghèo.
 
Hỏi: Chúng ta thấy rằng doanh nghiệp và ngân hàng của các nước công nghiệp đang gặp sức ép rất nặng của công luận nếu là đồng lõa với độc tài và tham nhũng nên họ phải thận trọng trong từng quyết định đầu tư hay kinh doanh của mình. Ngược lại, chính quyền các nước nghèo nay cũng bị áp lực là phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng nhân quyền trong một địa hạt mà ít ai thấy ra là kinh doanh và quản lý kinh tế"
Thưa đúng như vậy, như tại Việt Nam tuần qua, sự kiện tập đoàn Intel của Hoa Kỳ đề xướng việc tuân thủ năm quy tắc hành xử nội bộ trong đó có việc chối từ hối lộ tại Việt Nam cho thấy là họ nhạy cảm và thận trọng trong quyết định đầu tư vì trách nhiệm tâm lý, đạo đức hay pháp lý đối với xã hội, cả xã hội Hoa Kỳ lẫn Việt Nam.
Nhưng trong khi ấy, bộ máy công quyền tại Việt Nam vẫn có thể nhắm mắt làm bậy, thí dụ như với sự toa rập của doanh nghiệp Đông Á, hoặc qua trung gian của các tổng công ty của nhà nước. Tình trạng ấy rồi đây sẽ phải chấm dứt vì thế giới đã nhìn ra vấn đề và đang có giải pháp thiết thực với các chính quyền độc tài và tham ô. Người dân Việt Nam cần thấy ra điều ấy để đấu tranh nhằm bảo vệ quyền lợi và nhất là quyền làm người của chính mình. 

Xin cám ơn ông Nguyễn Xuân Nghĩa và hy vọng là khi Liên hiệp quốc ban hành những quy định rõ rệt về nhân quyền trong kinh doanh, chúng ta sẽ trở lại đề tài này để người dân trong nước thấy rõ quyền lợi của mình và trách nhiệm của nhà nước Việt Nam. Xin kính chào ông.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Như vậy là bao trùm mọi lĩnh vực quốc phòng, an ninh xã hội có nhiệm vụ bảo vệ đảng và chế độ bằng mọi giá. Nhưng tại sao, giữa lúc tệ nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái đạo đức, lối sống và tình trạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn ngổng ngang thì lại xẩy ra chuyện cán bộ nội chính lừng khừng trong nhiệm vụ?
Nhật báo Washington Post của Mỹ ghi nhận là: “Tổng thống Pháp Macron vốn dĩ đã rất tức giận khi được tham vấn tối thiểu trước khi Mỹ rút khỏi Afghanistan. Điều đó bây giờ đã tăng lên. Chính quyền Biden nên xem xét sự không hài lòng của Pháp một cách nghiêm túc. Hoa Kỳ cần các đối tác xuyên Đại Tây Dương vì đang ngày càng tập trung chính sách đối ngoại vào cuộc cạnh tranh cường quốc với Trung Quốc. Và trong số này, Pháp được cho là có khả năng quân sự cao nhất.
Sau khi tấm ảnh người đàn ông đi xe máy chở người chết cuốn chiếu, chạy qua đường phố của tỉnh Sơn La (vào hôm 12 tháng 9 năm 2016 ) được lưu truyền trên mạng, Thời Báo – Canada đã kêu gọi độc giả góp tay ủng hộ gia đình của nạn nhân. Số tiền nhận được là 1,800.00 Gia Kim, và đã được những thân hữu của toà soạn – ở VN – mang đến tận tay gia đình của người xấu số, ở Sơn La.
Công bằng mà nói, ngày càng có nhiều sự đồng thuận là chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa để ngăn chặn các hành động của Trung Quốc trong khu vực. Sự răn đe đòi hỏi những khả năng đáng tin cậy. Liên minh mới này phù hợp với lý luận đó.
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.