Hôm nay,  

Ngân Hàng Sau WTO

04/04/200700:00:00(Xem: 9152)

Cơn sốt địa ốc mới bùng nổ làm dân chúng càng lao vào...

Sau khi chính thức gia nhập tổ chức WTO kể từ đầu năm nay, Việt Nam đang chứng kiến một cơn sốt ngân hàng với hàng loạt đơn xin thành lập ngân hàng mới, với việc ngân hàng chưa thành lập thì cổ phiếu đã được rao bán, trong khi nhà đầu tư nước ngoài sẽ được phép thành lập ngân hàng con với 100% vốn ngoại quốc kể từ ngày mùng một vừa qua. Sự sôi nổi đó của thị trường khiến Diễn đàn Kinh tế đài RFA trao đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về một hiện tượng tâm lý đáng ngại cho giới hữu trách. Tiết mục chuyên đề này sẽ do Việt Long thực hiện sau đây:

Hỏi: Kính chào kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, từ 10 năm nay, Việt Nam chưa hề cấp giấy phép cho thành lập một ngân hàng mới. Vậy mà từ cuối năm ngoái cho đến tháng Ba vừa qua, đã có một chục hồ sơ xin lập ngân hàng và riêng trong mươi ngày qua còn có thêm 10 hồ sơ nữa được đệ nạp lên Ngân hàng Nhà nước. Hiện tượng ấy khiến dư luận trong nước nói đến một "cơn sốt ngân hàng" tại Việt Nam sau WTO, chúng tôi xin đề nghị là trong chương trình tuần này, chúng ta sẽ đề cập tới những khía cạnh đáng chú ý của một sự kiện khá đặc biệt trên thị trường....

Thưa vâng, và điều đáng chú ý nhất ở đây là giới chức hữu trách về ngân hàng trong Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ lại chưa được chuẩn bị vì chưa có Nghị định về Quản trị, Tổ chức và Hoạt động của các ngân hàng thương mại làm nền tảng pháp lý cho việc cứu xét và chấp thuận. Đã thế, cũng theo khuôn khổ cam kết của Việt Nam về dịch vụ với Tổ chức Thương mại Thế giới WTO thì từ ngày mùng một tháng Tư, các ngân hàng nước ngoài có quyền thành lập ngân hàng con với 100% vốn ngoại quốc.

Dù trong số 10 hồ sơ vừa đệ nạp có hai hồ sơ của nước ngoài, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa thể cứu xét vì chưa có Thông tư áp dụng một Nghị định ban hành từ cuối tháng Hai năm ngoái về tổ chức và hoạt động của các ngân hàng hay cơ quan tín dụng có vốn ngoại quốc. Vì vậy, chúng ta đang lại chứng kiến một hiện tượng thật ra không mới lạ là thị trường chạy trước chính trường, hay nhà nước đi sau những yêu cầu của dân chúng.

Hỏi: Nhưng vì sao lại có hiện tượng chậm lụt ấy"

Vì khuôn khổ tư duy và luật lệ chưa có. Cơn sốt ngân hàng là biểu hiệu của chênh lệch cung cầu, y như trên thị trường chứng khoán, mà hệ thống luật lệ sơ sài và gò bó không thể đáp ứng nổi. Khi có thất quân bình như vậy, lạm dụng và lường gạt rất dễ xảy ra, như ông vừa trình bày, ngân hàng chưa hoạt động thì cổ phiếu đã được rao bán ngoài chợ theo kiểu song phương qua quầy, OTC. Thậm chí nhiều ngân hàng đang bị kiểm soát và ngưng hoạt động từ lâu mà cổ phiếu vẫn thấy được lưu hành, trao đổi, ở ngoài chợ!

Hỏi: Từ giác độ kinh tế, ông nói ngay đến hiện tượng chênh lệch cung cầu dường như phản ánh dưới nhiều dạng khác nhau. Ông có thể minh diễn thêm điều ấy chăng"

Trên thị trường chứng khoán, dân chúng có tiền muốn mua cổ phiếu để kiếm lời, số cổ phiếu của các doanh nghiệp được yết giá lại quá ít nên chênh lệch cung cầu - giữa số hiện kim khả dụng quá nhiều và cơ hội kiếm lời quá ít - đã thổi giá cổ phiếu lên, từ đấy mới phát sinh phản ứng đầu cơ và những rủi ro suy sụp. Trên thị trường bất động sản cũng vậy, khả năng xây dựng cho kịp yêu cầu vẫn còn quá chậm, xây chưa xong đã bán sạch,  nên cơn sốt địa ốc mới bùng nổ làm dân chúng càng lao vào thị trường đó với phản ứng đầu cơ và sẽ lại bị hiện tượng bể bóng đầu cơ như chúng ta đã từng đề cập tới gần đây.

Bây giờ, người ta tưởng rằng cứ có tiền là đi lập ngân hàng để kiếm lời, vì vậy nội vài tháng đã có hai chục hồ sơ thành lập được đệ nạp, dù nhà nước có nâng mức vốn điều lệ lên hơn một ngàn tỷ đồng và sẽ còn tăng nữa cho các ngân hàng thành lập sau này. Chính loại quy định lụp chụp chạy theo thị trường càng khiến người ta vội chạy trước. Nhưng, rốt cuộc thì cho đến tuần này, nhà nước vẫn chưa có cơ sở pháp lý thông thoáng minh bạch để cứu xét và phê chuẩn việc thành lập đó. Nói nôm na thì nhà cái chưa mở sòng, các con bạc đã muốn chồng tiền đánh bạc!

Hỏi: Bây giờ, có lẽ chúng ta nên lùi lại để nhìn trên toàn cảnh về hệ thống ngân hàng của Việt Nam trước khi tìm hiểu về từng loại vấn đề của hệ thống đó.

Thưa vâng, sau chiến tranh, vì sai lầm tai hại của chủ nghĩa cộng sản, nhà cầm quyền Việt Nam đã phá hủy hệ thống ngân hàng tại miền Nam, một hệ thống có kiến thức và kinh nghiệm lâu đời và đã vượt qua những thử thách của thời chiến tranh và bén nhạy không thua kém gì các ngân hàng Đông Á thời ấy. Sai lầm chủ yếu thời ấy là lãnh đạo không hiểu gì về khái niệm tiền tệ và tín dụng trong kinh tế. 

Trong thời kỳ "cải tạo" kéo dài 15 năm sau 1975, Việt Nam chỉ có hệ thống ngân hàng "một tầng" của Ngân hàng Nhà nước và các chi nhánh, chủ yếu giữ vai trò thủ quỹ lo việc chi thu cho cả nền kinh tế quốc dân, một loại tổng ngân khố có hiệu năng rất tồi. Các ngân hàng thương mại tư nhân bị quốc hữu hoá để thành chi nhánh của hệ thống ngân khố kỳ lạ này! Khủng hoảng tất nhiên đã xảy ra!

Hỏi: Thế rồi mọi sự bắt đầu đổi mới sau đó"

"Đổi mới" chỉ là học lại cách sinh hoạt cũ đã có ở miền Nam và khắp nơi trên thế giới. Nhưng vẫn là đổi mới nửa mùa, nửa vời, vì cái gọi là "định hướng xã hội chủ nghĩa". Người ta lập ra hệ thống ngân hàng "hai tầng", gồm có "tầng một" là Ngân hàng Nhà nước tập tành học hỏi quy cách làm việc của một ngân hàng trung ương và biệt lập với các nghiệp vụ ngân sách hay chi thu của nhà nước; và "tầng hai" là các ngân hàng thương mại tập tành học hỏi về nghiệp vụ ngân hàng. Cái định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam đã dẫn tới hiện tượng tai hại là các ngân hàng thương mại này, trước sau là những chi nhánh của ngân hàng nhà nước được tách ra, đã giữ vị trí độc quyền cấp phát tín dụng và chủ yếu cấp phát tín dụng cho doanh nghiệp của nhà nước, theo diện chính sách mà bất cần tới yếu tố rủi ro kinh doanh hay lợi nhuận. Đó là từ 1991 trở về sau.

Hỏi: Nhưng sau đó, tình hình có cải tiến hay không"

Tình hình có thay đổi, không do sự chủ động cải cách của lãnh đạo mà do áp lực của thị trường, sau khi đã bị vấp ngã nhiều lần, như vụ phá sản tập thể của hệ thống cơ quan tín dụng. Người ta đã cho thành lập các ngân hàng thương mại cổ phần mà chưa thấy ra bức tranh toàn cảnh của hệ thống ngân hàng trong một nền kinh tế thị trường. Nôm na là vừa làm vừa học và sai đâu sửa đấy mà sửa rất chậm vì sợ chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Đã vậy, có lúc chính quyền Việt Nam còn tưởng rằng sẽ học được kinh nghiệm Nhật Bản và Hàn Quốc với hệ thống ngân hàng của nhà nước là rường cột tài chính cho các tổng công ty cũng của nhà nước giữ vai trò xương sống cho toàn nền kinh tế quốc dân để thi hành kế hoạch kinh tế do chính quyền vẽ ra. Hậu quả là tình trạng hôm nay, khi Việt Nam vừa gia nhập tổ chức WTO và thiên hạ đổ xô thành lập ngân hàng tư nhân.

Hỏi: Xin đề nghị ông trình bày chi tiết hơn những vấn đề trong hệ thống ngân hàng này.

Một cách tương đối, trong hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đã học bài nhanh nhất vì được viện trợ nhiều nhất để hiểu ra và cố hoàn thành chức năng của ngân hàng trung ương. Đó là trù hoạch hay đề nghị chính sách tiền tệ và tín dụng cho quốc gia hầu đảm bảo sự ổn định tiền tệ, và vật giá đồng thời đảm nhiệm nghiệp vụ thanh tra và kiểm soát hệ thống ngân hàng để bảo vệ quyền lợi của người ký thác và khách nợ.

Ở bên dưới là hệ thống ngân hàng thương mại, các định chế bị chìm dưới núi nợ của doanh nghiệp nhà nước và không đáp ứng yêu cầu đích thực của nền kinh tế vì thiếu khả năng thẩm xét rủi ro tín dụng để tài trợ. Các ngân hàng này phải được chấn chỉnh về kế toán và quản trị để tư nhân hoá, y hệt như các doanh nghiệp nhà nước mà việc ấy vẫn cứ bị trì hoãn mãi từ nhiều năm nay. Việc cải tiến Ngân hàng Nhà nước và cải cách ngân hàng thương mại quốc doanh vì vậy là một ưu tiên cấp bách và phải là đề mục vận động viện trợ kỹ thuật quan trọng nhất.

Ở vòng ngoài là hệ thống hơn ba chục ngân hàng thương mại cổ phần, có chung một số nhược điểm là thiếu vốn, khả năng cạnh tranh kém nếu không dựa vào một số quan hệ của cá nhân, và chủ yếu là thiếu nhân sự am hiểu về chuyên môn, về kinh doanh ngân hàng. Chính là sự yếu kém ấy lại là một nguồn cổ võ mạnh mẽ cho thiên hạ mơ tưởng rằng thành lập ngân hàng để kiếm lời nhanh là một chuyện không khó!

Nói chung, trên toàn cảnh thì Việt Nam vẫn thiếu một nền tảng luật lệ tài chính, ngân hàng và kinh doanh cần thiết cho sự thành hình của thị trường tư bản tài chính trong một nền kinh tế đang phải hội nhập vào luồng trao đổi toàn cầu. Cho đến tuần này, Việt Nam đang chờ đợi Ngân hàng Nhà nước trình duyệt lên Chính phủ dự thảo Nghị định về các Ngân hàng Thương mại làm cơ sở cứu xét việc cho thành lập thêm ngân hàng mới.

Hỏi: Và tuần này, các ngân hàng của nước ngoài cũng chờ đợi việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép thành lập ngân hàng con có 100% vốn ngoại quốc"

Thưa vâng, đó là theo những cam kết của Việt Nam với WTO. Thật ra, từ khi ký kết Hiệp định Thương mại Song phương với Hoa Kỳ năm 2001 thì vấn đề ấy đã được đặt ra, tức là năm năm trước khi có những cam kết với WTO. Tuy nhiên, việc thẩm xét ấy của Việt Nam vẫn còn bị khựng vì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chưa soạn thảo xong Thông tư hướng dẫn việc thực hiện một Nghị định được ban hành từ ngày 28 tháng Hai năm ngoái về tổ chức và hoạt động của các ngân hàng ngoại quốc, đó là Nghị định 22/CP.

Rốt cuộc ta thấy là ngân hàng của Việt Nam chờ đợi một nghị định về ngân hàng thương mại, trong khi ngân hàng của ngoại quốc thì chờ đợi văn kiện hướng dẫn áp dụng một nghị định từ năm ngoái về ngân hàng thương mại ngoại quốc và cam kết với WTO thì đòi hỏi một quy chế bình đẳng giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam và nước ngoài!

Nôm na là thị trường bên ngoài đang gõ cửa réo gọi, bên trong các nhà làm luật mới lúi húi nghiên cứu việc đáp ứng yêu cầu của thị trường!

Hỏi: Câu hỏi cuối của chúng tôi, thưa ông, là trong hoàn cảnh ông gọi là bối rối này, đâu là những sai lầm nên tránh để khỏi bị những hậu hoạ còn tai hại hơn về sau"

Tôi thiển nghĩ rằng giới chức hữu trách ở nhà cũng đã thấy, đó là không nên vội cho thành lập ra các ngân hàng mới khi mà khuôn khổ pháp lý vẫn chưa đầy đủ và minh bạch.

Thứ hai, ngoài điều kiện mà Việt Nam đã thấy là nâng cao mức vốn tối thiểu lên hơn một ngàn tỷ đồng, tức là một triệu triệu đồng bạc Việt Nam, người ta còn phải chú ý đến các điều kiện về tổ chức và nhân sự chuyên môn. Nghĩa là ngân hàng mới phải có người am hiểu tối thiểu về nghiệp vụ ngân hàng vì sự lầm lẫn kỹ thuật chuyên môn của họ có thể gây thiệt hại cho công chúng. Thí dụ như muốn mở phòng mạch thì phải có y sĩ, mở dược phòng phải có dược sĩ thì lập ngân hàng cũng vậy, phải có người biết về chuyên môn ngân hàng chứ không phải cứ có tiền là đủ. Việc ngân hàng nước ngoài tham gia hoạt động nhiều hơn sau này có thể là một yếu tố tích cực cho trình độ nghiệp vụ ngân hàng của Việt Nam. Trong khi chờ đợi và trước sự khát khao của thị trường, Việt Nam phải sớm hoàn tất việc cổ phần hoá các ngân hàng thương mại của nhà nước để có thêm cổ phần rao bán trên thị trường hầu làm thuyên giảm cơn sốt chứng khoán và ngân hàng!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.