Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Điều Kiện Ắt Có Của Học Viên Tâm Linh Học

28/08/201000:00:00(Xem: 5131)

Điều Kiện Ắt Có Của Học Viên Tâm Linh Học

Phương Chính Nguyễn Quang Đạt
(Annie Besant, trong loạt thuyết trình về sự lập hạnh)
“Điều Kiện Ắt Có Của Học Viên Tâm Linh Học” là một trong những bản dịch rất đặc sắc của cố giáo sư Huỳnh Thanh Nhạn  (cựu giám học trường Gia Long trước năm 1975) từ nguyên bản “A Stage on the Path that Leads to the Masters of Wisdom” của Annie Besant,  mà người viết đã có cơ hội được giáo sư trao tặng để làm tài liệu nghiên cứu. 
  Mặc dầu với số tuổi gần 80, và thân thể suy yếu luôn bị đau đớn bởi chứng bệnh thấp khớp, giáo sư đã để hết tâm huyết trong việc sưu tập, chuyển dịch, biên soạn những tài liệu về tâm linh học cho các hội viên tham  khảo.  Tháng 7 năm 1995, giáo sư đã ra đi trong sự tiếc nhớ và kính yêu của toàn thể hội viên và thân hữu.
Nhận thấy sự giá trị của những bài dịch nhất là công sức mà giáo sư đã ngày đêm gỏ từng nét trên bàn máy chữ để hoàn thành, người viết xin mạn phép được lần lượt phổ biến lại một số ít tài liệu để khỏi phụ lòng mong ước của cố giáo sư.
Điều Kiện Ắt Có Của Học Viên Tâm Linh Học
“Loạt bài này nhắm vào những người đang bị hấp dẫn về siêu hình, những người muốn noi gương các Thầy, tìm đường phục vụ.  Thường thường họ là những người mà trong vô số kiếp trước kia đã được dắt dẫn về bộ môn này; đến nay nhân duyên đưa họ đến gặp một người, một nhóm, một tổ chức cùng nhắm về một hướng.  Lại cũng có những người khác đang được dẫn dắt làm quen với bộ môn này trong kiếp hiện tại và đang dò dẫm các bước đi.  Họ đều cần biết các điều kiện tiên quyết, các tiêu chuẩn tối thiểu  để được chấp nhận nghiên cứu sâu hơn, cũng có thể được dắt dẫn đến hết con đường để hoàn thành ước vọng của mình.
Họ phải là những người có thái độ dứt khoát với điều dữ.  Sự ác trược không được còn lảng vảng trong tâm tư dù chỉ là những bóng lờ mờ.  Họ không lần lựa với cái xấu, cái bất nhân, bất nghĩa, mặc dầu trong khi lần mò tìm con đường chánh họ có thất bại nhiều lần.
Họ phải đặt mục tiêu và hiểu mục tiêu họ nhắm tới.  Công trình khi đã bắt đầu không được bỏ dở dang.  Họ phải chấp nhận cái mục đích của sự học hỏi này:  không mong danh vọng, quyền thế, không mong làm thầy thiên hạ.  Mục đích là sự phục vụ, sự cứu rổi nhân sanh.
Họ cũng phải chấp nhận yếu tố thời gian mà đơn vị là thế kỷ. Không nên tưởng rằng họ có thể được cái đặc ân rút ngắn thời gian vào một kiếp.  Tưởng như vậy là rước thất bại ngay bước đầu.  Như thế họ phải hiểu thấm nhuần về luật Luân Hồi và sự vay trả, trả vay của Tạo Hóa.  Không có gì trong vũ trụ mà bị mất đi, cái tốt cũng như cái xấu.
Thành công nào họ đạt được, họ mang theo từ kiếp này sang kiếp khác, không bị mòn mỏi, không bị thất lạc.  Họ phải công nhận qua trí thức của họ cái bất di bất dịch của các luật thiêng liêng.  Khi khẩn cấp họ gọi đến là được trả lời; khi họ kháng cáo Luật sẽ thẩm định.  Họ không còn ngờ vực sự kiện giống nào sanh quả nấy, và quả này nó có thể gặt hái trong nhiều kiếp sau trong tương lai., khi nào Luật  thấy cần, khi nào thời gian được xét ra là thuận tiện nhứt cho họ và cho nhân loại.  Cho nên họ phải đợi.  Quả chưa chín, họ không vội gặt, giống chưa lên họ bình thản đợi chờ.  Rồi trong kiếp hiện tại họ sẽ làm việc với những vật liệu do họ tự cung cấp từ các đời trước và được Luật gìn giữ nguyên vẹn.  Có bao nhiêu họ làm việc với bấy nhiêu và chỉ bao nhiêu đó thôi, dù ít, dù nhiều, dù phẩm chất cao, dù còn non yếu.  Họ cũng đinh ninh rằng, với bất cứ vật liệu nào rốt cuộc rồi họ cũng sẽ thành công, không phải là có thể thành công mà là chắc chắn thành công, không phải là nhờ vận may mà là sự bảo đảm hẳn hoi.  Từ cái nhỏ nhoi đó, họ cố gắng mỗi ngày một ít, mỗi kiếp mỗi phát triển hơn và mỗi lúc mỗi chắc chắn lên con đường chánh nghĩa.


Họ sẽ biết kiểm soát ý nghĩ, lời nói, việc làm của họ, họ sẽ hiểu năng lực của tư tưởng họ phát xuất và nó có phản động lực gì đối với người đã phát xuất ra nó.  Và đối với thế giới chung quanh mà họ mong phục vụ.  Họ phải biết tư tưởng của họ được gì, giúp được là bao, thêm bao sức mạnh, thanh lọc bao nhiêu.  Như vậy nó chỉ đem sự hữu ích là vì mục tiêu tối hậu của họ là giúp đời.
Họ còn phải biết cách để thông cảm với đồng  loại.  Họ phải biết dùng chánh ngôn, họ phải nói sự thực, không phải cái thực của thế gian (mặc dầu cái thực này không nên chê) mà là cái chính xác, cái trung thực.  Tính trung thực đó đối với một học viên Tâm linh vừa là kim chỉ nam trong sự tu tập, vừa là cái khiên che chở họ phân tách được những ảo tưởng của trần gian.  Họ mến chuộng sự trung thực, tức nhiên họ cũng đắn đo, phân tích những lời của người khác.  Họ chỉ chấp nhận những gì mà lý trí họ chấp nhận để khỏi sa vào các thuyết dị đoan.
Thêm vào đó, lời nói phải dịu dàng, có lễ độ, tuỳ chuyện mà nói, tuỳ người mà nói, tuỳ lúc mà tỏ bày.  Nhưng lúc nào cũng khoan thai, cũng nhẹ nhàng, cũng đầy lòng trắc ẩn khi cần vì sự trung thực nhứt thiết không cần phải làm tổn thương đối tượng.
 Rồi đương nhiên họ sẽ hành động đúng, vì hành động là biểu thị của tư tưởng bên trong.   Khi tư tưởng trong lành, khi phát ngôn có ý tứ, thì hành động chỉ có thể là thanh cao.  Nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng là ba sợi giây buộc kẻ mong theo con đường phục vụ của các Thầy; đó là ba sợi giây vô hình của sự tự chủ, tự kiểm soát trong tư tưởng, lời nói, việc làm.
Các Thầy không phải từ không mà có, các Thầy là những con người, nhưng họ đã biết chế ngự những ý nghĩ tội lỗi, bất chánh.  Họ biết lựa chọn bằng lý trí điều nên làm, điều nên tránh, việc vì trước, việc gì để sau, làm sao cho thuận lòng người, đúng Luật Thiên Nhiên.  Giai đoạn sơ khởi này đòi hỏi người học viên tương lai phải chấn chỉnh tác phong đạo hạnh để nên người có đức độ, nghiêm chỉnh, nghiêm minh, biết tránh điều ác đã đành mà còn phải biết tạo điều thiện, biết giúp đời để lập công bồi đức.  Đây chỉ là giai đoạn đầu như đào móng, đóng cừ, đổ nền chắc chắn cho công cuộc xây dựng toà lâu đài đạo đức.  Sự hiện diện của nhơn sanh tại cõi thế này không phải là ngẫu nhiên hay vô cớ.  Sự kiện đã nằm sẵn trong Luật  định.  Ta phải biết ta từ đâu tới và sẽ đi về đâu.  Tất nhiên là lá sẽ rụng về cội.  Mà con đường trở về này không có vẽ trên các dư đồ quốc tế mà lại ở trong chính cái tâm của con người.  Và đây là đầu đề cho loạt thuyết trình sắp tới.”
Phương Chính Nguyễn Quang Đạt (www.duongsinhthucphap.org)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.