Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Những Người Lính Úc Trong Thời Chiến Tranh Việt Nam

31/07/201000:00:00(Xem: 5025)

Những Người Lính Úc Trong Thời Chiến Tranh Việt Nam

Viện Bảo Tàng tên “National Vietnam Veterans Museum”.

Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc
Đầu tháng 10, năm 1981, nhờ gia-đình “Vovinam” do Võ-Sư Trần-Huy-Phong tổ-chức; sau ba ngày đêm vượt biển, tàu của chúng tôi được giàn khoan dầu quốc-tế cứu vớt và đưa vào Pulau Bidong; một hòn đảo ở Mã-Lai-Á.  Lúc bấy giờ trên Bidong có khoảng hơn 7000 người dân Việt tỵ-nạn.  Vì có chút ít vốn liếng tiếng Anh tôi đã học cả năm Trời chuẩn bị đi vượt-biên từ cô-giáo Thức (phu-nhân của thầy Đoàn-Viết-Hoạt) nên tôi vào làm thư-ký cho văn-phòng Cao-Ủy-Liên-Hiệp-Quốc trong trại.  “Boss” của tôi là ông Henrry, người nước Úc (tôi không còn nhớ Last-Name của ông). 
Hụt hẫng, chơi vơi khi một thân, một mình vượt biển xa nhà, đến được vùng đất tạm-dung.  Không thân-nhân họ hàng ở ngoại-quốc nên tôi chẳng biết mình sẽ đi về đâu định-cư để bắt đầu cho cuộc đời lưu-vong.  Những người ở cùng đảo đều khuyên tôi nên “ghép hộ” với một gia-đình nào đó để được đi Mỹ.  Vì ai ai lúc bấy giờ cũng nghĩ Hoa-Kỳ là “Number One”.  May sao có ông Henrry; ông đề nghị tôi nên đi Úc, ông bảo: “Dân Việt-Nam tỵ-nạn qua Úc đã khá đông rồi, diện ưu-tiên cho những người biết nghề làm bánh-mì,  (đây là lý-do sau này tôi mới nhận ra ở các thành-phố lớn như Melbourne, Sydney, Brisbane có rất nhiều cửa tiệm Bakery do người Việt làm chủ).  Nhưng số lượng Nam nhiều hơn Nữ.  Vì vậy, nước Úc dễ dàng đón nhận những người Nữ độc-thân như tôi cho quân-bình giới-tính.  Nếu chấp thuận, chỉ một tuần sau tôi sẽ được qua trại chuyển-tiếp ở Kuala Lumpur và không lâu tôi sẽ được định cư ở thành-phố Melbourne, Australia”.
Nghe nói sẽ được đi ngay nhờ sự trợ giúp của ông Henrry; tôi mừng thầm vì thú-thật ở đảo Pulau-Bidong mới được một tuần lễ, thiếu thốn trăm bề, nấu ăn phải thổi lửa bằng củi.  Nằm ngủ ván gỗ trong một mái nhà tranh ở khu “C”; dù sát cạnh bờ biển nghe sóng vỗ hằng đêm nhưng lúc nào cũng phập nhồng lo sợ vì nhà không có cửa chốt, then gài cho thân-phận con gái như tôi.  Nỗi sợ lớn nhất là trên đảo có rất nhiều dán và nghe nói cả chuột nữa; tôi đã có lần té xỉu ngay tại chỗ bởi một con dán đậu trên vai mình và được bà con hàng xóm “CẤP CỨU” kịp thời.  Nếu không làm gì tôi có được ngày đi Úc, một đệ tam quốc-gia đang mở cửa đón chào.
Đúng như lời ông Henrry, chỉ một tuần sau tôi dời đảo Pulau-Bidong; bước chân lên cây cầu người tỵ-nạn thường gọi là “Zét-Ti”, mang theo bao kỷ-niệm của đúng ba tuần lễ ở đây.  Niềm rưng rưng nghẹn ngào lẫn trong tiếng hát của chính tôi đã thâu ở “Phòng Thông-Tin” nhạc phẩm “Hẹn Nhé!”; thường được phát ra trên loa phóng-thanh nhằm tiễn những người dời đảo đi định-cư;  đây là một sáng tác của tác-giả Hà-Thúc-Sinh:  “Hẹn nhé! Hẹn nhe! Hẹn gặp lại nhé dẫu cho dòng đời chia rẽ.  Hẹn nhe! Hẹn nhé! Hẹn gặp nhau nhe dẫu có lạc loài bơ-vơ.  Địa-cầu thênh-thang chiếc lá đời mình xa đưa.  Bạn ơi!  Đừng quên hẹn nơi Việt-Nam; đời lưu-vong hãy nhớ nhau trong lời nguyện cầu…Hẹn giữa Việt-Nam, một ngày mai đất nước huy-hoàng…”
Tôi đặt chân đến miền “Down Under” vào ngày 2, tháng 12, năm 1981.  Sửa soạn cho những ngày hè nóng nực ở Melbourne.  (Nên nhớ: mùa đông ở Mỹ thì Úc ngược lại là vào Hạ).  Cũng xin nói thêm; “Down Under” là tiếng lóng của người Úc (Australian Slang).  Ý chỉ nước Úc và New Zealand vì vị-trí trên bản-đồ thế-giới nằm tận dưới nam bán cầu.  Tôi còn học được thêm nhiều tiếng lóng khác như: “Aussie”: người Úc. “Cranky”: giận hờn, khó chịu. “Roo”: con Đại-Thử Kangaroo. “Chook”: con Gà.  “Maccas”: McDonald’s. “Jackaroo”: bàn tay người đàn ông nông-dân.  Người Úc gặp gỡ chào nhau bằng câu: “How are you, Mate"” Chữ “Mate” phát-âm theo tiếng Việt giống chữ “Mầy” (Tao) có nghĩa là: bạn thân “buddy, friend”.
Thời ấy, người dân tỵ-nạn như tôi được đối xử hết sức tử tế.  Ở trong khách-sạn, gọi là “Hostel” được cung cấp ngày ba bữa: Breakfast, Lunch, Dinner.  Phòng ngủ có người làm giường, “clean-up” mỗi ngày.  Đi học tiếng Anh và được trả lương (lúc ấy là hơn 50đô Úc cho 2 tuần lễ); nếu không đi học thì sẽ bị cúp ngay tiền này.  Có những lớp dạy về “Hội-Nhập Đời Sống Mới” chỉ cho những người “Chân-Quê” mộc mạc như tôi cách sống văn-minh.  Như đi đến bưu-điện, tiệm ăn, quầy trả tiền, cơ-quan, ngân-hàng… Phải xếp hàng thứ-tự, không được chen lấn, la hét om-sòm. Giữ gìn vệ-sinh nơi công-cộng, không vứt rác hoặc khạc nhổ bừa bãi, dơ dáy.  Không tự tiện lấy hàng-hóa, thức ăn bỏ túi mà không trả tiền.  Không khai gian lận để lãnh tiền trợ-cấp của chính-phủ v.v và v.v…
Sau sáu tháng ở Hostel, tôi bắt đầu đi học ngành “Social Worker” từ buổi chiều đến tối vì ban ngày phải đi làm để kiếm tiền gửi về Việt-Nam biếu gia-đình, bè bạn.  Công việc đầu tiên của tôi là làm ở hãng may, còn nhớ những ngày đầu vừa may quần Jean, áo Sơ-Mi vừa ngậm nước mắt tủi thân, ở bên quê nhà quen ăn sung, mặc sướng.  Dầu Việt-Cộng đổi tiền bao nhiêu lần sau 30, tháng 4, năm 1975.  Tôi vẫn không biết hạt “BoBo” là gì.  Nhờ Mẹ tôi chắt chiu, khôn khéo, quán-xuyến không để gia-đình bị đói một ngày nào.  Tôi chỉ biết đi học, vui chơi thể-thao và ca hát.   
Hết công việc may vá, tôi chuyển qua làm hãng đinh bụi sắt mù trời.  Nhiệm vụ của tôi là bấm nút cho đinh từ trên một máng-xối đổ vào hộp “ca-tông” , sau đó đậy nắp hộp lại, chất lên xe “fork-lift” cho đầy khay và cứ thế những động tác liên-tục trong suốt 8 tiếng một ngày.  Đến chiều vào lớp học ngủ gà, ngủ gật.  Tay tôi lúc nào cũng dán băng keo vì các vết thương trầy da, rướm máu bởi đinh đâm.
Mẹ tôi vẫn dặn: “Có Công Mài Sắt, Có Ngày Nên Kim”.  Cặm cụi học một thời-gian, tôi kiếm được công việc văn-phòng làm cho Hội-Đồng-Thành-Phố Springvale,  tiểu-bang Victoria.  Rồi đến cơ-quan “VICSEG” (viết tắt của chữ VIctoria-Co-operation-Services-of-Ethnic-Group) ở thành-phố Melbourne.  Vì nước Úc luôn luôn tôn-trọng nền văn-hóa của người di-dân.  Được mệnh danh là “Multi-Culture” (đất nưóc Đa-Văn-Hóa) nên trong các sinh-hoạt như họp-hành từ học-đường đến cơ-quan chính-phủ, tiếng nói về nhu-cầu của mọi sắc dân thiểu-số được lắng nghe và giải-quyết thỏa đáng.   Một trong những “Project” tôi tham-gia đó là “Bi-Lingual” (Song-Ngữ) cho giới trẻ Việt-Nam, được duy-trì tiếng Mẹ đẻ nhưng vẫn không ngừng phát triển tiếng Anh để giao-tế và học-hành với người bản xứ.  Thời ấy, tôi đã thực-hiện một “cassete” sau này chuyển qua “CD” nhạc song-ngữ cho thiếu-nhi mang tên “Tuổi Hồng” gồm hơn mười bài hát như: “Cờ Lau Tập Trận, Tết Trung-Thu, Cái Nhà Của Ta…”  Quý độc-giả có thể nghe toàn bộ CD này trên web: www.diamondbichngoc.com, mục: “Âm-Nhạc”.  Đến năm 1993, tôi bán lại bản-quyền với giá $1,000US cho trung-tâm “Thế-Hệ-Trẻ” ở Hoa-Kỳ độc quyền phát-hành.  Toàn bộ số tiền ấy tôi đã giao lại cho hội thiện-nguyện “Chữ Thập Xanh” ở quận Cam để đem về giúp các trẻ em cô-nhi tàn-tật tại Việt-Nam.


Nhờ công việc “Cán-Sự Xã-Hội” ở Melbourne, tôi được dịp gặp những người lính Úc đã từng tham-gia chiến-tranh Việt-Nam.  Còn nhớ trong một bữa tiệc hội-ngộ các Cựu-Chiến-Binh Úc-Việt, tôi phụ trách mục tiếp-tân và văn-nghệ với chương-trình song-ngữ.  Phần mở đầu, các cựu-chiến-binh Úc bước lên sân-khấu hát chung một bài nhạc vô-cùng dí-dỏm với nguyên văn như sau:
…“Úc-Thòi-Lòi”. Cheap Charlie. He No Buy Me Saigon Tea. Saigon Tea Cost Many, Many Pieces, “Úc-Thòi-Lòi” He Cheap Charlie…
Tôi tò-mò hỏi chuyện làm quen. Họ mới kể rằng từ năm 1962 có khoảng hơn 50 ngàn người lính Úc được đưa vào Việt-Nam để tham-chiến, là quân-đội đồng-minh của lính Mỹ và Việt-Nam-Cộng-Hòa. Đến 1973 thì những toán lính Úc cuối cùng rút quân về nước.  Ước lượng có hơn 2400 chiến-binh Úc bị thương và khoảng 520 người tử-trận trên quê-hương Việt-Nam.  Đồn trú của quân-đội Úc phần lớn ở tỉnh Bà-Rịa, Phước-Tuy. Vũng-Tàu.  Ngoài việc đánh giặc, họ đã mở các lớp dậy học tiếng Anh, dậy các môn thể-thao cho thanh-thiếu-niên Việt-Nam cũng như trình diễn văn-nghệ ngoài Trời tại đây. 
Khi hỏi về ý-nghĩa bài hát trên.  Tôi được nghe giải thích rằng:  Lính Úc không thích vào quán “Bar” như lính Mỹ, vì thế họ mới bị mang tiếng “Cheap” (kẹo) không chi-tiền cho những cô-gái tiếp-viên của các quán Bar này.  Nhưng họ rất giỏi trong những chiến-thuật đánh nhau với quân giặc. “Charlie” là tiếng lóng ý-chỉ “Việt-Cộng” khi nhắn tin cho nhau trên máy truyền-thanh trong lúc giáp trận.  Chữ  “Úc-Thòi-Lòi” trở thành quen thuộc vì người Việt-Nam hay nói “Úc-Đại-Lợi”; người Úc không phát-âm đúng cách bỏ dấu nên nói trại thành “Úc-Thòi-Lòi”.
Đã có lần trong một bài viết mang tên “Vùng Đất Lành Chim Đậu” chúng tôi có nói sơ qua về nước Úc, xin được phép viết lại như sau:
Trước kia Úc-Đại-Lợi được coi như là một Châu.  Người Việt-Nam ta thường có câu : “Đi Khắp Năm Châu, Bốn Bể”, ý nói về: Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Úc. Ngày nay, trong các học đường, sách Gíáo-Khoa dạy là Thế-Giới gồm bảy Châu:  Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Nam Mỹ Châu, Bắc Mỹ Châu, Nam-Cực-Châu và Đại-Dương-Châu.  Trong đó Úc-Châu nằm trong Đại-Dương-Châu.
Nước Úc nằm giữa nước Ấn-Độ và Nam Thái Bình Dương, cách miền Tây-Nam của Bắc Mỹ là bảy ngàn dặm (khoảng mười một ngàn cây số).  Cách vùng Đông Nam, vùng đất chính của Á Châu (main-land of Asia)  hai ngàn dặm (khoảng ba ngàn hai trăm cây số). Nước Úc nằm ở phía Nam-Bán-Cầu. (Bắc-Bán-Cầu và Nam-Bán-Cầu chia đôi bởi đường xích-đạo).
Tên gọi “Australia” khởi nguồn từ tiếng La-Tinh, từ chữ “Auster”. Có nghĩa là “Gió miền Nam” ý chỉ phương Nam (Southern). Thổ dân Úc đầu tiên là người da đen “Aborigines”, họ đã có mặt trên đất Úc khoảng bốn đến năm mươi ngàn năm B.C (Before Christ.: trước Thiên-Chúa Giáng-Sinh).
Vào năm 1606 A.D (sau Thiên-Chúa Giáng-Sinh, A.D tiếng La-Tinh viết tắt từ chữ: “Anno-Domini”, có nghĩa là kỷ-nguyên của Thiên-Chúa), có ông Williams Zens, là người Âu-Châu đầu tiên khám phá ra đất Úc. Sau đó,  năm 1770, ông James Cook tìm đến và khai thác bờ biển miền Đông nước Úc, ông đặt tên cho vùng này là New-South-Wales (N.S.W) và coi như đây là lãnh thổ của người Anh (England).  N.S.W ngày nay là một trong những tiểu bang của nước Úc, thành phố Sydney có rất đông người Việt cũng là thành phố chính của tiểu bang này. Vào năm 1788, người Anh dùng vùng N.S.W để làm thuộc địa chứa tù nhân.
Mãi đến năm 1901, nước Úc mới được độc lập, đương kim chính-phủ lúc bấy giờ lấy thành phố Melbourne, thuộc tiểu bang Victoria làm Thủ-Đô tạm thời.  Sau này, vào năm 1927, chính-phủ Úc dời Thủ-Đô từ Melbourne về Canberra.  Cho đến ngày nay Canberra vẫn là Thủ-Đô của nước Úc.
Từ năm 1967, chính-phủ Úc mới bắt đầu có những chương trình lo cho người Thổ-Dân (Aborigines) như về sức khỏe (Health-Care), về tiền trợ cấp (Welfare), nhà cửa (Housing) v.v..
Hơn một thế-kỷ trước, nhiều sắc dân trên toàn thế giới đã đến nước Úc để tìm vàng.  Ngày nay còn rất nhiều di-tích cổ của những vùng mỏ vàng.  Có hơn năm mươi sắc dân di cư đến Úc, nhất là sau năm 1975, làn sóng người Việt tỵ nạn được đến Úc định cư ngày càng gia tăng, chính-phủ Úc đã lo đầy đủ vấn đề An-Sinh Xã-Hội, Y-Tế, Giáo-Dục… trong quy-chế cho người tỵ-nạn chúng ta.  Họ chấp nhận và tôn trọng nền văn-hóa, phong tục của mọi sắc dân, vì thế nước Úc được coi là một nước “Đa Văn Hóa” (Multi-Cuture).  Người Việt tỵ nạn phần nhiều định cư tại các thành-phố lớn là Sydney, Melbourne và Brisbane, một số ít đi về vùng Adelaide (miền Nam nước Úc) và có ít người Việt ở Perth (miền Tây-Nam nước Úc) cũng như vùng Darwin (nơi rất nhiều thổ-dân thuộc miền cực Bắc nước Úc). 
Theo giòng đời trôi nổi, ngày nay dù đã định-cư ở California, Hoa-Kỳ nhưng kế-hoạch trong tương-lai của “Chân-Quê” tôi là sẽ về lại dưỡng già ở Australia.  Tôi vẫn còn giữ liên lạc với những Cựu-Chiến-Binh Úc.  Tôi cũng có những người bạn độc-thân là lính Việt-Nam-Cộng-Hòa ở Mỹ, di-dân từ Mỹ sang nước Úc bằng cách lấy vợ quốc-tịch Úc và hiện nay họ được hưởng lương bổng, quyền-lợi y-tế đầy đủ suốt đời; cuộc sống vô cùng ổn định và điểm đặc-biệt là chúng ta không bao giờ có thể tìm thấy những người Vô-Gia-Cư  “Homeless” cầm bảng có ghi chữ: “Vietnam Veterans” để xin tiền nơi đầu đường, góc phố tại Australia.
Tại một hòn đảo rất đẹp là Phillip Island, Victoria. Australia có một Viện-Bảo-Tàng mang tên: “National Vietnam Veterans Museum” lưu dấu thời chiến-tranh Việt-Nam. Gồm rất nhiều các kỷ-vật, hình-ảnh, xe-tăng, trực-thăng… Được xây dựng từ ngày 9, tháng 3, năm 2007 bởi ông Steve Bracks MP khởi xướng.  Nơi đây cũng có một quán Café tên: “Núi Đất” rất dễ-thương để các Cựu-Chiến-Binh gặp gỡ, hàn huyên tâm-sự.
 Tôi cũng được thông-báo là “National Council of The Vietnam Veterans Association of Australia at its May 2010, National Congress” đã đồng-ý cho “Hội Cựu-Chiến-Binh Úc Tham-Chiến Việt-Nam Chi-Nhánh Tasmania” (The Tasmania Branch of the Vietnam Veterans Association of Australia) đứng ra tổ-chức ngày hội-ngộ của các Cựu-Chiến-Binh khắp nơi trên thế-giới vào thứ Năm: 18, tháng 8, 2011 ở thành-phố Hobart thuộc đảo Tasmania. Australia.  Hãy liên lạc “the Branch Secretary Mrs. Ann Cash qua email    vvtassec@yahoo.com, để ghi danh và biết thêm chi-tiết.  Còn cả hơn một năm để quý vị dư thời-gian thu-xếp qua Úc, trước là tham-dự buổi sinh-hoạt này, sau là có dịp tìm hiểu về nước Úc.
Muốn biết rõ về quyền lợi của người Cựu-Chiến-Binh-Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa quý Cựu-Quân-Nhân có thể liên lạc trực-tiếp với Giám-Đốc Điều-Hành ông Peter Britght.  Địa-chỉ: Anzac House, 4 Collins Street, Melbourne Vic. 3001.  Số điện-thoại nếu gọi từ Hoa-Kỳ: 011-613-9655-5588.
(Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc. Viết trong niềm Tri-Ân và mong là nhịp-cầu-nối giữa các Cựu-Chiến-Binh Úc và Cựu-Quân-Nhân Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa khắp nơi trên Thế-Giới.)
Thứ Sáu: 30, tháng 7, năm 2010).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
‘Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng …’ 40.000 đồng có giá trị như thế nào lúc này. Đó là giá của 2 bát phở, giá của 4 lít xăng, giá của hai xuất cơm trưa văn phòng, giá của một cuốc xe ôm trên đoạn đường 10km, giá của hơn một bao thuốc lá 555, giá của 3 ly cà phê… Tôi biết sẽ có rất nhiều người không thể tin rằng tổng thu nhập hàng tháng của một khẩu trong hầu hết những gia đình nông dân lại chỉ với một con số ‘kinh hoàng’ như thế.”
Các lãnh tụ của Đảng Cộng Hòa có thể tiếp tục than phiền về tình trạng kinh tế khó khăn và các chương trình của Biden có khuynh hướng xã hội, nhưng khi nhìn những thống kê về dư luận quần chúng thì rõ ràng quan điểm của Đảng Cộng Hòa không phản ảnh đúng với nhận thức của đa số dân Mỹ.
Nhạc Sĩ Tô Hải và Cựu Đại Tá Bùi Tín là hai nhân vật đã có dịp theo dõi và tham gia cuộc sống trong thời gian hai biến cố kể trên xảy ra, đã phục vụ chính quyền Cộng Sản trong Quân Đội Nhân Dân, trong văn nghệ và báo chí, sau đó đã đổi thái độ. Ngày 11/8/ 2018, hơn một tuần lễ trước ngày có thể coi là mở đầu cho định mệnh của hai ông, hai ông cùng qua đời, cùng ở tuổi 91. Câu hỏi được đặt ra là hai ông đã nhận định ra sao về ngày 19/8/1945 này?
Tuy nhiên, khi Chính phủ áp dụng giãn cách nhà với nhà, người với người, cấm ra đường nếu “không có lý do chinh đáng”, khoanh vùng, lập chốt kiểm soát cho tới ban hành lệnh giới nghiêm tại Sài Gòn từ 6 giớ tối đến 6 giớ sáng thì tình hình kinh tế và xã hội xáo trộn rất nhanh. Đời sống người dân bị đảo lộn, gặp muôn vàn khó khăn do mất việc, giảm việc, cạn kiệt tài chính vì dù không có việc làm nhưng vẫn phải ăn để sống, vẫn phải trả tiền thuê nhà, điện nước v.v…
Tôi tha phương cầu thực đã lâu nên tiếng mẹ đẻ không khỏi có phần giới hạn. Bữa qua, đứng xếp hàng ở chợ chờ trả tiền thùng bia, chợt nghe loáng thoáng dăm câu đối thoại của mấy người đồng hương mà không khỏi có đôi chút băn khoăn: Vậy chớ chị thuộc diện gì? Nào có “thuộc diện” gì đâu. Mình chỉ là loại … ăn theo thôi mà! Về nhà, xem qua tự điển thì thấy Soha định nghĩa (“ăn theo”) thế này: Khẩu ngữ: Được hưởng hoặc có được nhờ dựa theo cái khác, người khác, không phải do tự bản thân có hoặc làm nên: “Nước lên cá đuối ăn theo, Lái buôn hết gạo bỏ neo cầm chừng.” (Cdao)
Lời người dịch: Các lý giải của Jude Blanchette và Richard McGregor về sự ra đi và kế vị của Tập Cận Bình trong tương lai là một đóng góp hữu ích cho độc giả quan tâm đến sự nghiệp chính trị của Nguyễn Phú Trọng và sự thống trị của ĐCSVN, vì không có sự khác biệt to lớn trong hệ thống chính trị của Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng hai tác giả không nêu lên một khía cạnh thời sự đang tác động cho tình thế là dịch bịnh COVID-19. Cả hai ĐCSTQ và ĐCSVN đều luôn tự hào về các thành tích kinh tế toả sáng mà không cần cải cách tự do chính trị và tự tuyên dương là “cường quốc chống dịch bịnh” hữu hiệu hơn các nước dân chủ phương Tây. Hiện nay, biến chuyển thảm khốc về dịch bịnh tại Việt Nam cho thấy một sự thật khác hẳn và giúp cho người dân có một cơ hội để nhận định đúng đắn hơn về sự lãnh đạo của ĐCSVN.
Ở độ cao hơn 46,000 feet tức là cao hơn 14 kilomets trên vùng sa mạc khô cằn của tiểu bang New Mexico, chiếc phi thuyền không gian màu trắng và bạc đã được hỏa tiễn phóng lên hướng về bầu khí quyển của Trái Đất, cỡi lên một chòm khói khí đốt và nhiên liệu cao su cứng đang cháy rực, theo ký giả Michael Greshko của báo National Geographic. Một vài phút sau, 2 phi công và 4 hành khách của phi thuyền, gồm tỉ phú Richard Branson, đã trôi trên bề mặt của hành tinh chúng ta hơn 53 dặm, tức hơn 85 cây số là độ cao đủ để nhìn thấy độ cong của Trái Đất và trượt qua mối ràng buộc của hấp lực, trong vòng ít nhất vài phút. Chiếc phi thuyền lấp lánh đó -- Virgin Galactic’s V.S.S. Unity – được phóng vào không trung từ một chiếc máy bay lớn hơn để đạt tới độ cao hơn 53 dặm trên bầu trời. Khi nó hoàn tất đường phóng lên, nó xoay cặp đuôi của nó lại, sắp xếp lại hình dạng chiếc phi thuyền để cho phép nó rơi trở lại thượng tầng khí quyển như một trái banh vũ cầu. 15 phút sau khi tách khỏi phi thuyền mẹ,
Câu chuyện của Giannis Antetokounmpo cũng là câu chuyện của những người di dân Mỹ. Bất kể đến từ đâu, bất kể màu da, bất kể chủng tộc, giá trị của người di dân chỉ có thể được đánh giá trên sự phấn đấu và những đóng góp của họ cho quê hương mới.
Như vậy, thì “mạng xã hội” đã lũng đoạn thành công và làm tha hóa đảng Cộng sản chưa, hay là, nói như lời để lại ngày 15/09/2017 của Cố Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ của CSVN tại Bắc Kinh (Trung Cộng) rằng: ”ĐCSVN nay đã hoàn toàn biến chất, trở nên quá hư hỏng, khó có thể sửa chữa được! Đảng đã đánh mất mình, không còn xứng đáng là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội nữa.”
Sóng radio, sóng ánh sáng lan tỏa trong không gian như thế nào ta đã biết. Chỉ còn một thắc mắc: Nguyên do nào khiến một vi phân tử, thí dụ như photon, “bay” nhanh đến thế – có thể nhanh nhất trong Vũ Trụ. Theo truyền thống, trước hết, thỉnh ý tiền nhân. Lên Gúc, tra cứu sách báo khoa học, không thấy các ngài – như Einstein, Newton – dạy bảo gì rõ ràng, dứt khoát về vụ này. Đành trông chờ ở các bậc cao minh của thời đại chúng ta.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.