Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Những Người Lính Úc Trong Thời Chiến Tranh Việt Nam

31/07/201000:00:00(Xem: 4518)

Những Người Lính Úc Trong Thời Chiến Tranh Việt Nam

Viện Bảo Tàng tên “National Vietnam Veterans Museum”.

Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc
Đầu tháng 10, năm 1981, nhờ gia-đình “Vovinam” do Võ-Sư Trần-Huy-Phong tổ-chức; sau ba ngày đêm vượt biển, tàu của chúng tôi được giàn khoan dầu quốc-tế cứu vớt và đưa vào Pulau Bidong; một hòn đảo ở Mã-Lai-Á.  Lúc bấy giờ trên Bidong có khoảng hơn 7000 người dân Việt tỵ-nạn.  Vì có chút ít vốn liếng tiếng Anh tôi đã học cả năm Trời chuẩn bị đi vượt-biên từ cô-giáo Thức (phu-nhân của thầy Đoàn-Viết-Hoạt) nên tôi vào làm thư-ký cho văn-phòng Cao-Ủy-Liên-Hiệp-Quốc trong trại.  “Boss” của tôi là ông Henrry, người nước Úc (tôi không còn nhớ Last-Name của ông). 
Hụt hẫng, chơi vơi khi một thân, một mình vượt biển xa nhà, đến được vùng đất tạm-dung.  Không thân-nhân họ hàng ở ngoại-quốc nên tôi chẳng biết mình sẽ đi về đâu định-cư để bắt đầu cho cuộc đời lưu-vong.  Những người ở cùng đảo đều khuyên tôi nên “ghép hộ” với một gia-đình nào đó để được đi Mỹ.  Vì ai ai lúc bấy giờ cũng nghĩ Hoa-Kỳ là “Number One”.  May sao có ông Henrry; ông đề nghị tôi nên đi Úc, ông bảo: “Dân Việt-Nam tỵ-nạn qua Úc đã khá đông rồi, diện ưu-tiên cho những người biết nghề làm bánh-mì,  (đây là lý-do sau này tôi mới nhận ra ở các thành-phố lớn như Melbourne, Sydney, Brisbane có rất nhiều cửa tiệm Bakery do người Việt làm chủ).  Nhưng số lượng Nam nhiều hơn Nữ.  Vì vậy, nước Úc dễ dàng đón nhận những người Nữ độc-thân như tôi cho quân-bình giới-tính.  Nếu chấp thuận, chỉ một tuần sau tôi sẽ được qua trại chuyển-tiếp ở Kuala Lumpur và không lâu tôi sẽ được định cư ở thành-phố Melbourne, Australia”.
Nghe nói sẽ được đi ngay nhờ sự trợ giúp của ông Henrry; tôi mừng thầm vì thú-thật ở đảo Pulau-Bidong mới được một tuần lễ, thiếu thốn trăm bề, nấu ăn phải thổi lửa bằng củi.  Nằm ngủ ván gỗ trong một mái nhà tranh ở khu “C”; dù sát cạnh bờ biển nghe sóng vỗ hằng đêm nhưng lúc nào cũng phập nhồng lo sợ vì nhà không có cửa chốt, then gài cho thân-phận con gái như tôi.  Nỗi sợ lớn nhất là trên đảo có rất nhiều dán và nghe nói cả chuột nữa; tôi đã có lần té xỉu ngay tại chỗ bởi một con dán đậu trên vai mình và được bà con hàng xóm “CẤP CỨU” kịp thời.  Nếu không làm gì tôi có được ngày đi Úc, một đệ tam quốc-gia đang mở cửa đón chào.
Đúng như lời ông Henrry, chỉ một tuần sau tôi dời đảo Pulau-Bidong; bước chân lên cây cầu người tỵ-nạn thường gọi là “Zét-Ti”, mang theo bao kỷ-niệm của đúng ba tuần lễ ở đây.  Niềm rưng rưng nghẹn ngào lẫn trong tiếng hát của chính tôi đã thâu ở “Phòng Thông-Tin” nhạc phẩm “Hẹn Nhé!”; thường được phát ra trên loa phóng-thanh nhằm tiễn những người dời đảo đi định-cư;  đây là một sáng tác của tác-giả Hà-Thúc-Sinh:  “Hẹn nhé! Hẹn nhe! Hẹn gặp lại nhé dẫu cho dòng đời chia rẽ.  Hẹn nhe! Hẹn nhé! Hẹn gặp nhau nhe dẫu có lạc loài bơ-vơ.  Địa-cầu thênh-thang chiếc lá đời mình xa đưa.  Bạn ơi!  Đừng quên hẹn nơi Việt-Nam; đời lưu-vong hãy nhớ nhau trong lời nguyện cầu…Hẹn giữa Việt-Nam, một ngày mai đất nước huy-hoàng…”
Tôi đặt chân đến miền “Down Under” vào ngày 2, tháng 12, năm 1981.  Sửa soạn cho những ngày hè nóng nực ở Melbourne.  (Nên nhớ: mùa đông ở Mỹ thì Úc ngược lại là vào Hạ).  Cũng xin nói thêm; “Down Under” là tiếng lóng của người Úc (Australian Slang).  Ý chỉ nước Úc và New Zealand vì vị-trí trên bản-đồ thế-giới nằm tận dưới nam bán cầu.  Tôi còn học được thêm nhiều tiếng lóng khác như: “Aussie”: người Úc. “Cranky”: giận hờn, khó chịu. “Roo”: con Đại-Thử Kangaroo. “Chook”: con Gà.  “Maccas”: McDonald’s. “Jackaroo”: bàn tay người đàn ông nông-dân.  Người Úc gặp gỡ chào nhau bằng câu: “How are you, Mate"” Chữ “Mate” phát-âm theo tiếng Việt giống chữ “Mầy” (Tao) có nghĩa là: bạn thân “buddy, friend”.
Thời ấy, người dân tỵ-nạn như tôi được đối xử hết sức tử tế.  Ở trong khách-sạn, gọi là “Hostel” được cung cấp ngày ba bữa: Breakfast, Lunch, Dinner.  Phòng ngủ có người làm giường, “clean-up” mỗi ngày.  Đi học tiếng Anh và được trả lương (lúc ấy là hơn 50đô Úc cho 2 tuần lễ); nếu không đi học thì sẽ bị cúp ngay tiền này.  Có những lớp dạy về “Hội-Nhập Đời Sống Mới” chỉ cho những người “Chân-Quê” mộc mạc như tôi cách sống văn-minh.  Như đi đến bưu-điện, tiệm ăn, quầy trả tiền, cơ-quan, ngân-hàng… Phải xếp hàng thứ-tự, không được chen lấn, la hét om-sòm. Giữ gìn vệ-sinh nơi công-cộng, không vứt rác hoặc khạc nhổ bừa bãi, dơ dáy.  Không tự tiện lấy hàng-hóa, thức ăn bỏ túi mà không trả tiền.  Không khai gian lận để lãnh tiền trợ-cấp của chính-phủ v.v và v.v…
Sau sáu tháng ở Hostel, tôi bắt đầu đi học ngành “Social Worker” từ buổi chiều đến tối vì ban ngày phải đi làm để kiếm tiền gửi về Việt-Nam biếu gia-đình, bè bạn.  Công việc đầu tiên của tôi là làm ở hãng may, còn nhớ những ngày đầu vừa may quần Jean, áo Sơ-Mi vừa ngậm nước mắt tủi thân, ở bên quê nhà quen ăn sung, mặc sướng.  Dầu Việt-Cộng đổi tiền bao nhiêu lần sau 30, tháng 4, năm 1975.  Tôi vẫn không biết hạt “BoBo” là gì.  Nhờ Mẹ tôi chắt chiu, khôn khéo, quán-xuyến không để gia-đình bị đói một ngày nào.  Tôi chỉ biết đi học, vui chơi thể-thao và ca hát.   
Hết công việc may vá, tôi chuyển qua làm hãng đinh bụi sắt mù trời.  Nhiệm vụ của tôi là bấm nút cho đinh từ trên một máng-xối đổ vào hộp “ca-tông” , sau đó đậy nắp hộp lại, chất lên xe “fork-lift” cho đầy khay và cứ thế những động tác liên-tục trong suốt 8 tiếng một ngày.  Đến chiều vào lớp học ngủ gà, ngủ gật.  Tay tôi lúc nào cũng dán băng keo vì các vết thương trầy da, rướm máu bởi đinh đâm.
Mẹ tôi vẫn dặn: “Có Công Mài Sắt, Có Ngày Nên Kim”.  Cặm cụi học một thời-gian, tôi kiếm được công việc văn-phòng làm cho Hội-Đồng-Thành-Phố Springvale,  tiểu-bang Victoria.  Rồi đến cơ-quan “VICSEG” (viết tắt của chữ VIctoria-Co-operation-Services-of-Ethnic-Group) ở thành-phố Melbourne.  Vì nước Úc luôn luôn tôn-trọng nền văn-hóa của người di-dân.  Được mệnh danh là “Multi-Culture” (đất nưóc Đa-Văn-Hóa) nên trong các sinh-hoạt như họp-hành từ học-đường đến cơ-quan chính-phủ, tiếng nói về nhu-cầu của mọi sắc dân thiểu-số được lắng nghe và giải-quyết thỏa đáng.   Một trong những “Project” tôi tham-gia đó là “Bi-Lingual” (Song-Ngữ) cho giới trẻ Việt-Nam, được duy-trì tiếng Mẹ đẻ nhưng vẫn không ngừng phát triển tiếng Anh để giao-tế và học-hành với người bản xứ.  Thời ấy, tôi đã thực-hiện một “cassete” sau này chuyển qua “CD” nhạc song-ngữ cho thiếu-nhi mang tên “Tuổi Hồng” gồm hơn mười bài hát như: “Cờ Lau Tập Trận, Tết Trung-Thu, Cái Nhà Của Ta…”  Quý độc-giả có thể nghe toàn bộ CD này trên web: www.diamondbichngoc.com, mục: “Âm-Nhạc”.  Đến năm 1993, tôi bán lại bản-quyền với giá $1,000US cho trung-tâm “Thế-Hệ-Trẻ” ở Hoa-Kỳ độc quyền phát-hành.  Toàn bộ số tiền ấy tôi đã giao lại cho hội thiện-nguyện “Chữ Thập Xanh” ở quận Cam để đem về giúp các trẻ em cô-nhi tàn-tật tại Việt-Nam.
Nhờ công việc “Cán-Sự Xã-Hội” ở Melbourne, tôi được dịp gặp những người lính Úc đã từng tham-gia chiến-tranh Việt-Nam.  Còn nhớ trong một bữa tiệc hội-ngộ các Cựu-Chiến-Binh Úc-Việt, tôi phụ trách mục tiếp-tân và văn-nghệ với chương-trình song-ngữ.  Phần mở đầu, các cựu-chiến-binh Úc bước lên sân-khấu hát chung một bài nhạc vô-cùng dí-dỏm với nguyên văn như sau:
…“Úc-Thòi-Lòi”. Cheap Charlie. He No Buy Me Saigon Tea. Saigon Tea Cost Many, Many Pieces, “Úc-Thòi-Lòi” He Cheap Charlie…
Tôi tò-mò hỏi chuyện làm quen. Họ mới kể rằng từ năm 1962 có khoảng hơn 50 ngàn người lính Úc được đưa vào Việt-Nam để tham-chiến, là quân-đội đồng-minh của lính Mỹ và Việt-Nam-Cộng-Hòa. Đến 1973 thì những toán lính Úc cuối cùng rút quân về nước.  Ước lượng có hơn 2400 chiến-binh Úc bị thương và khoảng 520 người tử-trận trên quê-hương Việt-Nam.  Đồn trú của quân-đội Úc phần lớn ở tỉnh Bà-Rịa, Phước-Tuy. Vũng-Tàu.  Ngoài việc đánh giặc, họ đã mở các lớp dậy học tiếng Anh, dậy các môn thể-thao cho thanh-thiếu-niên Việt-Nam cũng như trình diễn văn-nghệ ngoài Trời tại đây. 
Khi hỏi về ý-nghĩa bài hát trên.  Tôi được nghe giải thích rằng:  Lính Úc không thích vào quán “Bar” như lính Mỹ, vì thế họ mới bị mang tiếng “Cheap” (kẹo) không chi-tiền cho những cô-gái tiếp-viên của các quán Bar này.  Nhưng họ rất giỏi trong những chiến-thuật đánh nhau với quân giặc. “Charlie” là tiếng lóng ý-chỉ “Việt-Cộng” khi nhắn tin cho nhau trên máy truyền-thanh trong lúc giáp trận.  Chữ  “Úc-Thòi-Lòi” trở thành quen thuộc vì người Việt-Nam hay nói “Úc-Đại-Lợi”; người Úc không phát-âm đúng cách bỏ dấu nên nói trại thành “Úc-Thòi-Lòi”.
Đã có lần trong một bài viết mang tên “Vùng Đất Lành Chim Đậu” chúng tôi có nói sơ qua về nước Úc, xin được phép viết lại như sau:
Trước kia Úc-Đại-Lợi được coi như là một Châu.  Người Việt-Nam ta thường có câu : “Đi Khắp Năm Châu, Bốn Bể”, ý nói về: Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Úc. Ngày nay, trong các học đường, sách Gíáo-Khoa dạy là Thế-Giới gồm bảy Châu:  Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Nam Mỹ Châu, Bắc Mỹ Châu, Nam-Cực-Châu và Đại-Dương-Châu.  Trong đó Úc-Châu nằm trong Đại-Dương-Châu.
Nước Úc nằm giữa nước Ấn-Độ và Nam Thái Bình Dương, cách miền Tây-Nam của Bắc Mỹ là bảy ngàn dặm (khoảng mười một ngàn cây số).  Cách vùng Đông Nam, vùng đất chính của Á Châu (main-land of Asia)  hai ngàn dặm (khoảng ba ngàn hai trăm cây số). Nước Úc nằm ở phía Nam-Bán-Cầu. (Bắc-Bán-Cầu và Nam-Bán-Cầu chia đôi bởi đường xích-đạo).
Tên gọi “Australia” khởi nguồn từ tiếng La-Tinh, từ chữ “Auster”. Có nghĩa là “Gió miền Nam” ý chỉ phương Nam (Southern). Thổ dân Úc đầu tiên là người da đen “Aborigines”, họ đã có mặt trên đất Úc khoảng bốn đến năm mươi ngàn năm B.C (Before Christ.: trước Thiên-Chúa Giáng-Sinh).
Vào năm 1606 A.D (sau Thiên-Chúa Giáng-Sinh, A.D tiếng La-Tinh viết tắt từ chữ: “Anno-Domini”, có nghĩa là kỷ-nguyên của Thiên-Chúa), có ông Williams Zens, là người Âu-Châu đầu tiên khám phá ra đất Úc. Sau đó,  năm 1770, ông James Cook tìm đến và khai thác bờ biển miền Đông nước Úc, ông đặt tên cho vùng này là New-South-Wales (N.S.W) và coi như đây là lãnh thổ của người Anh (England).  N.S.W ngày nay là một trong những tiểu bang của nước Úc, thành phố Sydney có rất đông người Việt cũng là thành phố chính của tiểu bang này. Vào năm 1788, người Anh dùng vùng N.S.W để làm thuộc địa chứa tù nhân.
Mãi đến năm 1901, nước Úc mới được độc lập, đương kim chính-phủ lúc bấy giờ lấy thành phố Melbourne, thuộc tiểu bang Victoria làm Thủ-Đô tạm thời.  Sau này, vào năm 1927, chính-phủ Úc dời Thủ-Đô từ Melbourne về Canberra.  Cho đến ngày nay Canberra vẫn là Thủ-Đô của nước Úc.
Từ năm 1967, chính-phủ Úc mới bắt đầu có những chương trình lo cho người Thổ-Dân (Aborigines) như về sức khỏe (Health-Care), về tiền trợ cấp (Welfare), nhà cửa (Housing) v.v..
Hơn một thế-kỷ trước, nhiều sắc dân trên toàn thế giới đã đến nước Úc để tìm vàng.  Ngày nay còn rất nhiều di-tích cổ của những vùng mỏ vàng.  Có hơn năm mươi sắc dân di cư đến Úc, nhất là sau năm 1975, làn sóng người Việt tỵ nạn được đến Úc định cư ngày càng gia tăng, chính-phủ Úc đã lo đầy đủ vấn đề An-Sinh Xã-Hội, Y-Tế, Giáo-Dục… trong quy-chế cho người tỵ-nạn chúng ta.  Họ chấp nhận và tôn trọng nền văn-hóa, phong tục của mọi sắc dân, vì thế nước Úc được coi là một nước “Đa Văn Hóa” (Multi-Cuture).  Người Việt tỵ nạn phần nhiều định cư tại các thành-phố lớn là Sydney, Melbourne và Brisbane, một số ít đi về vùng Adelaide (miền Nam nước Úc) và có ít người Việt ở Perth (miền Tây-Nam nước Úc) cũng như vùng Darwin (nơi rất nhiều thổ-dân thuộc miền cực Bắc nước Úc). 
Theo giòng đời trôi nổi, ngày nay dù đã định-cư ở California, Hoa-Kỳ nhưng kế-hoạch trong tương-lai của “Chân-Quê” tôi là sẽ về lại dưỡng già ở Australia.  Tôi vẫn còn giữ liên lạc với những Cựu-Chiến-Binh Úc.  Tôi cũng có những người bạn độc-thân là lính Việt-Nam-Cộng-Hòa ở Mỹ, di-dân từ Mỹ sang nước Úc bằng cách lấy vợ quốc-tịch Úc và hiện nay họ được hưởng lương bổng, quyền-lợi y-tế đầy đủ suốt đời; cuộc sống vô cùng ổn định và điểm đặc-biệt là chúng ta không bao giờ có thể tìm thấy những người Vô-Gia-Cư  “Homeless” cầm bảng có ghi chữ: “Vietnam Veterans” để xin tiền nơi đầu đường, góc phố tại Australia.
Tại một hòn đảo rất đẹp là Phillip Island, Victoria. Australia có một Viện-Bảo-Tàng mang tên: “National Vietnam Veterans Museum” lưu dấu thời chiến-tranh Việt-Nam. Gồm rất nhiều các kỷ-vật, hình-ảnh, xe-tăng, trực-thăng… Được xây dựng từ ngày 9, tháng 3, năm 2007 bởi ông Steve Bracks MP khởi xướng.  Nơi đây cũng có một quán Café tên: “Núi Đất” rất dễ-thương để các Cựu-Chiến-Binh gặp gỡ, hàn huyên tâm-sự.
 Tôi cũng được thông-báo là “National Council of The Vietnam Veterans Association of Australia at its May 2010, National Congress” đã đồng-ý cho “Hội Cựu-Chiến-Binh Úc Tham-Chiến Việt-Nam Chi-Nhánh Tasmania” (The Tasmania Branch of the Vietnam Veterans Association of Australia) đứng ra tổ-chức ngày hội-ngộ của các Cựu-Chiến-Binh khắp nơi trên thế-giới vào thứ Năm: 18, tháng 8, 2011 ở thành-phố Hobart thuộc đảo Tasmania. Australia.  Hãy liên lạc “the Branch Secretary Mrs. Ann Cash qua email    vvtassec@yahoo.com, để ghi danh và biết thêm chi-tiết.  Còn cả hơn một năm để quý vị dư thời-gian thu-xếp qua Úc, trước là tham-dự buổi sinh-hoạt này, sau là có dịp tìm hiểu về nước Úc.
Muốn biết rõ về quyền lợi của người Cựu-Chiến-Binh-Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa quý Cựu-Quân-Nhân có thể liên lạc trực-tiếp với Giám-Đốc Điều-Hành ông Peter Britght.  Địa-chỉ: Anzac House, 4 Collins Street, Melbourne Vic. 3001.  Số điện-thoại nếu gọi từ Hoa-Kỳ: 011-613-9655-5588.
(Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc. Viết trong niềm Tri-Ân và mong là nhịp-cầu-nối giữa các Cựu-Chiến-Binh Úc và Cựu-Quân-Nhân Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa khắp nơi trên Thế-Giới.)
Thứ Sáu: 30, tháng 7, năm 2010).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Đai sứ Mỹ, Daniel Krintenbrink, phát biểu chiều ngày 2/7 tại Hà Nội, nhân kỷ niệm 25 năm binh thường hóa quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ: “Washington sẽ triển khai các hoạt động ngoại giao, hàng hải, và quân sự để bảo đảm hòa bình, ổn định Biển Đông”. Đại Sứ Kritenbrink cho hay, Mỹ sẽ triển khai các hoạt động theo 3 hướng: 1- Tăng hoạt động ngoại giao với các nước trong khu vực, trong đó có ASEAN. 2- Hỗ trợ các nước tăng cường hàng hải, để bảo vệ lợi ích của mình. 3- Phát triển năng lực quân sự Mỹ, trong đó có các hoạt động bảo vệ hàng hải.
Theo các hãng thông tấn và truyền hình lớn của Hoa Kỳ, vào ngày 27/6/2020, Đảng Dân Chủ Quận Hạt Orange đã thông qua nghị quyết khẩn cấp yêu cầu Ban Giám Sát Quận Hạt đổi tên Phi Trường John Wayne (tài tử đóng phim cao-bồi Miền Tây) vì ông này theo chủ nghĩa Da Trắng Là Thượng Đẳng và những tuyên bố mù quáng (bigot). Sự kiện gây ngạc nhiên cho không ít người. Bởi vì đối với các kịch sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ, văn-thi-sĩ, họa sĩ, nhất là các tài tử điện ảnh…họ đều có cuộc sống cởi mở, đôi khi phóng túng, buông thả và ít liên hệ tới chính trị. Và nếu có bộc lộ khuynh hướng chính trị thì thường là cấp tiến (Liberal). Vậy tại sao John Wayne lại “dính” vào một vụ tai tiếng như thế này?
Hơn 10 năm trước, chính xác là vào hôm 28 tháng 6 năm 2009, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có tâm sự (đôi điều) nghe hơi buồn bã: “Khi tiếp xúc với những người nông dân, tôi thường xuyên hỏi về tổng thu nhập mỗi tháng của một khẩu trong một gia đình họ là bao nhiêu. Dù rằng tôi biết họ đang sống một cuộc sống vô cùng vất vả nhưng tôi vẫn kinh ngạc khi nghe một con số cụ thể: ‘Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng.’ Bạn có choáng váng khi mỗi tháng, một người trong mỗi gia đình nông dân chỉ có 40.000 đồng để chi tiêu tất cả những gì họ cần không?
“Lợi ích nhóm”, hay “nhóm lợi ích” là những tổ chức cán bộ, đảng viên có chức, có quyền trong đảng Cộng sản Việt Nam đã chia bè, kết phái để cướp cơm dân và bảo vệ độc quyền cai trị cho đảng. Chúng sinh ra và lớn lên từ Thôn, rồi leo lên Xã trước khi ngoai qua Huyện, ngóc đầu lên Tỉnh để ngênh ngang bước vào Trung ương. Lộ trình quan lộ của “lợi ích nhóm” công khai từ dưới lên trên, từ trung ương xuống cơ sở và từ nhà nước vào doanh nhân, xí nghiệp. Khối Doanh nghiệp nhà nước là ổ tham nhũng phá hoại đất nước và phản bội sức lao động của dân lớn nhất nhưng không bị trừng phạt mà còn được bảo vệ bởi các “Nhóm lợi ích” trong cơ quan đảng và bộ ngành nhà nước.
Không chỉ thường xuyên xua quân đi canh cửa, an ninh Thanh Hóa còn liên tục gửi giấy mời, giấy triệu tập như là một thủ trấn áp tinh thần bà Nguyễn Thị Lành - vợ của Mục sư, TNLT Nguyễn Trung Tôn. Chồng bị bỏ tù, một mình bà Nguyễn Thị Lành phải vất vả gánh vác gia đình. Những ngày qua càng thêm vất vả bởi chăm mẹ chồng lớn tuổi mắc bệnh phải nhập viện, và con bị tật nguyền. Nhưng bà Lành vẫn liên tục bị an ninh tỉnh Thanh Hóa sách nhiễu, đe dọa…
Những người Mỹ gốc Việt bênh hay chống ông là điều bình thường, vì những quyết định cũng như cách hành xử của ông sẽ ảnh hưởng lên đời sống của họ và tương lai con cháu họ, và ngược lại, là công dân HK, họ có trong tay lá phiếu để ảnh hưởng khiến ông Trump có được tiếp tục làm tổng thống nữa không. Do đó, lưu tâm và tham dự vào những đánh giá đúng sai, khen chê, tâng bốc, hay moi móc thói hư tật xấu của người đang ứng cử điều khiển vận mạng quốc gia của họ thêm 4 năm nữa (và sẽ để lại những hậu quả lâu hơn) là hiện tượng bình thường .
Tôi thì trộm nghĩ hơi khác FB Đoan Trang chút xíu: Việt Nam có hàng ngàn Tiên Lãng, Đồng Tâm, Dương Nội. Những thôn ổ này luôn là nơi sản sinh ra những nông dân (“vài ngàn năm đứng trên đất nghèo”) Lê Đình Kình, Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Qúy, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Thị Tâm, Nguyễn Thùy Dương, Trịnh Bá Khiêm, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư ... Hàng hàng/lớp lớp, họ sẵn sàng nối tiếp tiền nhân – không bao giờ dứt – để gìn giữ và bảo vệ quê hương. Quyết định đối đầu với sức mạnh của cả một dân tộc là một lỗi lầm chí tử của những kẻ đang nắm giữ quyền bính hiện nay.
Người Pháp gặp nhau, bắt tay, hoặc ôm hun ở má, tay vừa vỗ lưng vài cái nếu thân mật lắm, buông ra, nhìn nhau và hỏi «Mạnh giỏi thế nào?». Người Pháp mang tâm lý sợ sệt, nhứt là sợ chết sau nhiều trận đại dịch, từ dịch Tây-ban-nha giết chết gần phân nửa dân số âu châu. Người Tàu, gặp nhau, chào và hỏi ngay «Ăn cơm chưa?». Ăn cơm rồi là hôm đó sống hạnh phúc vì phần đông người Tàu đói triền miên. Trốn nạn đói, chạy qua Việt nam tỵ nạn, vẫn còn mang nỗi ám ảnh nạn đói. Còn người Việt nam xứ Nam kỳ chào nhau và hỏi thăm «Mần ăn ra sao?». Gốc nghèo khó ở ngoài Bắc, ngoài Trung, đơn thân độc mã, vào Nam sanh sống giữa cảnh trời nước mênh mông, đồng hoang lau sậy, thoát cái nghèo là niềm mong ước từ lúc rời người làng, kẻ nước.
Thiệt đọc mà muốn ứa nước mắt luôn. Sao mà xui xẻo dữ vậy Trời? Tôi sống theo kiểu check by check, có đồng nào xào đồng đó, chưa bao giờ dư ra được một xu. Hai tháng trước, vì (hay nhờ) dịch Vũ Hán, nhà nước Hoa Kỳ thương tình gửi phụ thêm cho 1,200.00 USD. Trộm nghĩ mình cũng đã đến lúc gần đất xa trời rồi nên lật đật bỏ số tiền này vô ngân hàng, dành vào việc hoả táng. Vụ này tui đã dọ giá rồi, tốn đâu cỡ gần ngàn. Vài trăm còn lại để con cháu mua chút đỉnh hương hoa, cho nó giống với người ta, ngó cũng phần nào đỡ tủi.
Có vẻ như con người thời nay càng lúc càng trở nên lười biếng, thụ động; nhất là từ khi nhân loại bước vào kỷ nguyên tin học, truyền thông liên mạng. Tin học đã đem con người khắp hành tinh gần lại với nhau, nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn, chính nó bị con người lạm dụng để bóp méo, biến dạng sự thực cho những mục tiêu bất chính của cá nhân, bè phái.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.
Hôm thứ Năm (02/07/2020), Venezuela đã rút lại quyết định trục xuất đại sứ EU, nhưng yêu cầu khối có hành động thể hiện quan điểm khách quan hơn với quốc gia Nam Mỹ.
Để giải quyết những thách thức an ninh đối với đất nước, chính phủ Úc sẽ chi 186 tỷ USD cho quân đội trong 10 năm tới và sẽ mua tên lửa tầm xa để tăng cường phòng thủ.
Ngày 21/06/2020, hiện tượng Nhật thực hình khuyên diễn ra trên một số nơi tại Châu Á
Các công dân từ 15 quốc gia sẽ được phép vào Liên minh Châu Âu (EU) bắt đầu từ ngày thứ Tư (01/07/2020), nhưng trong danh sách không có tên nước Mỹ.