Hôm nay,  

Những Người Lính Úc Trong Thời Chiến Tranh Việt Nam

7/31/201000:00:00(View: 8168)

Những Người Lính Úc Trong Thời Chiến Tranh Việt Nam

Viện Bảo Tàng tên “National Vietnam Veterans Museum”.

Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc
Đầu tháng 10, năm 1981, nhờ gia-đình “Vovinam” do Võ-Sư Trần-Huy-Phong tổ-chức; sau ba ngày đêm vượt biển, tàu của chúng tôi được giàn khoan dầu quốc-tế cứu vớt và đưa vào Pulau Bidong; một hòn đảo ở Mã-Lai-Á.  Lúc bấy giờ trên Bidong có khoảng hơn 7000 người dân Việt tỵ-nạn.  Vì có chút ít vốn liếng tiếng Anh tôi đã học cả năm Trời chuẩn bị đi vượt-biên từ cô-giáo Thức (phu-nhân của thầy Đoàn-Viết-Hoạt) nên tôi vào làm thư-ký cho văn-phòng Cao-Ủy-Liên-Hiệp-Quốc trong trại.  “Boss” của tôi là ông Henrry, người nước Úc (tôi không còn nhớ Last-Name của ông). 
Hụt hẫng, chơi vơi khi một thân, một mình vượt biển xa nhà, đến được vùng đất tạm-dung.  Không thân-nhân họ hàng ở ngoại-quốc nên tôi chẳng biết mình sẽ đi về đâu định-cư để bắt đầu cho cuộc đời lưu-vong.  Những người ở cùng đảo đều khuyên tôi nên “ghép hộ” với một gia-đình nào đó để được đi Mỹ.  Vì ai ai lúc bấy giờ cũng nghĩ Hoa-Kỳ là “Number One”.  May sao có ông Henrry; ông đề nghị tôi nên đi Úc, ông bảo: “Dân Việt-Nam tỵ-nạn qua Úc đã khá đông rồi, diện ưu-tiên cho những người biết nghề làm bánh-mì,  (đây là lý-do sau này tôi mới nhận ra ở các thành-phố lớn như Melbourne, Sydney, Brisbane có rất nhiều cửa tiệm Bakery do người Việt làm chủ).  Nhưng số lượng Nam nhiều hơn Nữ.  Vì vậy, nước Úc dễ dàng đón nhận những người Nữ độc-thân như tôi cho quân-bình giới-tính.  Nếu chấp thuận, chỉ một tuần sau tôi sẽ được qua trại chuyển-tiếp ở Kuala Lumpur và không lâu tôi sẽ được định cư ở thành-phố Melbourne, Australia”.
Nghe nói sẽ được đi ngay nhờ sự trợ giúp của ông Henrry; tôi mừng thầm vì thú-thật ở đảo Pulau-Bidong mới được một tuần lễ, thiếu thốn trăm bề, nấu ăn phải thổi lửa bằng củi.  Nằm ngủ ván gỗ trong một mái nhà tranh ở khu “C”; dù sát cạnh bờ biển nghe sóng vỗ hằng đêm nhưng lúc nào cũng phập nhồng lo sợ vì nhà không có cửa chốt, then gài cho thân-phận con gái như tôi.  Nỗi sợ lớn nhất là trên đảo có rất nhiều dán và nghe nói cả chuột nữa; tôi đã có lần té xỉu ngay tại chỗ bởi một con dán đậu trên vai mình và được bà con hàng xóm “CẤP CỨU” kịp thời.  Nếu không làm gì tôi có được ngày đi Úc, một đệ tam quốc-gia đang mở cửa đón chào.
Đúng như lời ông Henrry, chỉ một tuần sau tôi dời đảo Pulau-Bidong; bước chân lên cây cầu người tỵ-nạn thường gọi là “Zét-Ti”, mang theo bao kỷ-niệm của đúng ba tuần lễ ở đây.  Niềm rưng rưng nghẹn ngào lẫn trong tiếng hát của chính tôi đã thâu ở “Phòng Thông-Tin” nhạc phẩm “Hẹn Nhé!”; thường được phát ra trên loa phóng-thanh nhằm tiễn những người dời đảo đi định-cư;  đây là một sáng tác của tác-giả Hà-Thúc-Sinh:  “Hẹn nhé! Hẹn nhe! Hẹn gặp lại nhé dẫu cho dòng đời chia rẽ.  Hẹn nhe! Hẹn nhé! Hẹn gặp nhau nhe dẫu có lạc loài bơ-vơ.  Địa-cầu thênh-thang chiếc lá đời mình xa đưa.  Bạn ơi!  Đừng quên hẹn nơi Việt-Nam; đời lưu-vong hãy nhớ nhau trong lời nguyện cầu…Hẹn giữa Việt-Nam, một ngày mai đất nước huy-hoàng…”
Tôi đặt chân đến miền “Down Under” vào ngày 2, tháng 12, năm 1981.  Sửa soạn cho những ngày hè nóng nực ở Melbourne.  (Nên nhớ: mùa đông ở Mỹ thì Úc ngược lại là vào Hạ).  Cũng xin nói thêm; “Down Under” là tiếng lóng của người Úc (Australian Slang).  Ý chỉ nước Úc và New Zealand vì vị-trí trên bản-đồ thế-giới nằm tận dưới nam bán cầu.  Tôi còn học được thêm nhiều tiếng lóng khác như: “Aussie”: người Úc. “Cranky”: giận hờn, khó chịu. “Roo”: con Đại-Thử Kangaroo. “Chook”: con Gà.  “Maccas”: McDonald’s. “Jackaroo”: bàn tay người đàn ông nông-dân.  Người Úc gặp gỡ chào nhau bằng câu: “How are you, Mate"” Chữ “Mate” phát-âm theo tiếng Việt giống chữ “Mầy” (Tao) có nghĩa là: bạn thân “buddy, friend”.
Thời ấy, người dân tỵ-nạn như tôi được đối xử hết sức tử tế.  Ở trong khách-sạn, gọi là “Hostel” được cung cấp ngày ba bữa: Breakfast, Lunch, Dinner.  Phòng ngủ có người làm giường, “clean-up” mỗi ngày.  Đi học tiếng Anh và được trả lương (lúc ấy là hơn 50đô Úc cho 2 tuần lễ); nếu không đi học thì sẽ bị cúp ngay tiền này.  Có những lớp dạy về “Hội-Nhập Đời Sống Mới” chỉ cho những người “Chân-Quê” mộc mạc như tôi cách sống văn-minh.  Như đi đến bưu-điện, tiệm ăn, quầy trả tiền, cơ-quan, ngân-hàng… Phải xếp hàng thứ-tự, không được chen lấn, la hét om-sòm. Giữ gìn vệ-sinh nơi công-cộng, không vứt rác hoặc khạc nhổ bừa bãi, dơ dáy.  Không tự tiện lấy hàng-hóa, thức ăn bỏ túi mà không trả tiền.  Không khai gian lận để lãnh tiền trợ-cấp của chính-phủ v.v và v.v…
Sau sáu tháng ở Hostel, tôi bắt đầu đi học ngành “Social Worker” từ buổi chiều đến tối vì ban ngày phải đi làm để kiếm tiền gửi về Việt-Nam biếu gia-đình, bè bạn.  Công việc đầu tiên của tôi là làm ở hãng may, còn nhớ những ngày đầu vừa may quần Jean, áo Sơ-Mi vừa ngậm nước mắt tủi thân, ở bên quê nhà quen ăn sung, mặc sướng.  Dầu Việt-Cộng đổi tiền bao nhiêu lần sau 30, tháng 4, năm 1975.  Tôi vẫn không biết hạt “BoBo” là gì.  Nhờ Mẹ tôi chắt chiu, khôn khéo, quán-xuyến không để gia-đình bị đói một ngày nào.  Tôi chỉ biết đi học, vui chơi thể-thao và ca hát.   
Hết công việc may vá, tôi chuyển qua làm hãng đinh bụi sắt mù trời.  Nhiệm vụ của tôi là bấm nút cho đinh từ trên một máng-xối đổ vào hộp “ca-tông” , sau đó đậy nắp hộp lại, chất lên xe “fork-lift” cho đầy khay và cứ thế những động tác liên-tục trong suốt 8 tiếng một ngày.  Đến chiều vào lớp học ngủ gà, ngủ gật.  Tay tôi lúc nào cũng dán băng keo vì các vết thương trầy da, rướm máu bởi đinh đâm.
Mẹ tôi vẫn dặn: “Có Công Mài Sắt, Có Ngày Nên Kim”.  Cặm cụi học một thời-gian, tôi kiếm được công việc văn-phòng làm cho Hội-Đồng-Thành-Phố Springvale,  tiểu-bang Victoria.  Rồi đến cơ-quan “VICSEG” (viết tắt của chữ VIctoria-Co-operation-Services-of-Ethnic-Group) ở thành-phố Melbourne.  Vì nước Úc luôn luôn tôn-trọng nền văn-hóa của người di-dân.  Được mệnh danh là “Multi-Culture” (đất nưóc Đa-Văn-Hóa) nên trong các sinh-hoạt như họp-hành từ học-đường đến cơ-quan chính-phủ, tiếng nói về nhu-cầu của mọi sắc dân thiểu-số được lắng nghe và giải-quyết thỏa đáng.   Một trong những “Project” tôi tham-gia đó là “Bi-Lingual” (Song-Ngữ) cho giới trẻ Việt-Nam, được duy-trì tiếng Mẹ đẻ nhưng vẫn không ngừng phát triển tiếng Anh để giao-tế và học-hành với người bản xứ.  Thời ấy, tôi đã thực-hiện một “cassete” sau này chuyển qua “CD” nhạc song-ngữ cho thiếu-nhi mang tên “Tuổi Hồng” gồm hơn mười bài hát như: “Cờ Lau Tập Trận, Tết Trung-Thu, Cái Nhà Của Ta…”  Quý độc-giả có thể nghe toàn bộ CD này trên web: www.diamondbichngoc.com, mục: “Âm-Nhạc”.  Đến năm 1993, tôi bán lại bản-quyền với giá $1,000US cho trung-tâm “Thế-Hệ-Trẻ” ở Hoa-Kỳ độc quyền phát-hành.  Toàn bộ số tiền ấy tôi đã giao lại cho hội thiện-nguyện “Chữ Thập Xanh” ở quận Cam để đem về giúp các trẻ em cô-nhi tàn-tật tại Việt-Nam.


Nhờ công việc “Cán-Sự Xã-Hội” ở Melbourne, tôi được dịp gặp những người lính Úc đã từng tham-gia chiến-tranh Việt-Nam.  Còn nhớ trong một bữa tiệc hội-ngộ các Cựu-Chiến-Binh Úc-Việt, tôi phụ trách mục tiếp-tân và văn-nghệ với chương-trình song-ngữ.  Phần mở đầu, các cựu-chiến-binh Úc bước lên sân-khấu hát chung một bài nhạc vô-cùng dí-dỏm với nguyên văn như sau:
…“Úc-Thòi-Lòi”. Cheap Charlie. He No Buy Me Saigon Tea. Saigon Tea Cost Many, Many Pieces, “Úc-Thòi-Lòi” He Cheap Charlie…
Tôi tò-mò hỏi chuyện làm quen. Họ mới kể rằng từ năm 1962 có khoảng hơn 50 ngàn người lính Úc được đưa vào Việt-Nam để tham-chiến, là quân-đội đồng-minh của lính Mỹ và Việt-Nam-Cộng-Hòa. Đến 1973 thì những toán lính Úc cuối cùng rút quân về nước.  Ước lượng có hơn 2400 chiến-binh Úc bị thương và khoảng 520 người tử-trận trên quê-hương Việt-Nam.  Đồn trú của quân-đội Úc phần lớn ở tỉnh Bà-Rịa, Phước-Tuy. Vũng-Tàu.  Ngoài việc đánh giặc, họ đã mở các lớp dậy học tiếng Anh, dậy các môn thể-thao cho thanh-thiếu-niên Việt-Nam cũng như trình diễn văn-nghệ ngoài Trời tại đây. 
Khi hỏi về ý-nghĩa bài hát trên.  Tôi được nghe giải thích rằng:  Lính Úc không thích vào quán “Bar” như lính Mỹ, vì thế họ mới bị mang tiếng “Cheap” (kẹo) không chi-tiền cho những cô-gái tiếp-viên của các quán Bar này.  Nhưng họ rất giỏi trong những chiến-thuật đánh nhau với quân giặc. “Charlie” là tiếng lóng ý-chỉ “Việt-Cộng” khi nhắn tin cho nhau trên máy truyền-thanh trong lúc giáp trận.  Chữ  “Úc-Thòi-Lòi” trở thành quen thuộc vì người Việt-Nam hay nói “Úc-Đại-Lợi”; người Úc không phát-âm đúng cách bỏ dấu nên nói trại thành “Úc-Thòi-Lòi”.
Đã có lần trong một bài viết mang tên “Vùng Đất Lành Chim Đậu” chúng tôi có nói sơ qua về nước Úc, xin được phép viết lại như sau:
Trước kia Úc-Đại-Lợi được coi như là một Châu.  Người Việt-Nam ta thường có câu : “Đi Khắp Năm Châu, Bốn Bể”, ý nói về: Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Úc. Ngày nay, trong các học đường, sách Gíáo-Khoa dạy là Thế-Giới gồm bảy Châu:  Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Nam Mỹ Châu, Bắc Mỹ Châu, Nam-Cực-Châu và Đại-Dương-Châu.  Trong đó Úc-Châu nằm trong Đại-Dương-Châu.
Nước Úc nằm giữa nước Ấn-Độ và Nam Thái Bình Dương, cách miền Tây-Nam của Bắc Mỹ là bảy ngàn dặm (khoảng mười một ngàn cây số).  Cách vùng Đông Nam, vùng đất chính của Á Châu (main-land of Asia)  hai ngàn dặm (khoảng ba ngàn hai trăm cây số). Nước Úc nằm ở phía Nam-Bán-Cầu. (Bắc-Bán-Cầu và Nam-Bán-Cầu chia đôi bởi đường xích-đạo).
Tên gọi “Australia” khởi nguồn từ tiếng La-Tinh, từ chữ “Auster”. Có nghĩa là “Gió miền Nam” ý chỉ phương Nam (Southern). Thổ dân Úc đầu tiên là người da đen “Aborigines”, họ đã có mặt trên đất Úc khoảng bốn đến năm mươi ngàn năm B.C (Before Christ.: trước Thiên-Chúa Giáng-Sinh).
Vào năm 1606 A.D (sau Thiên-Chúa Giáng-Sinh, A.D tiếng La-Tinh viết tắt từ chữ: “Anno-Domini”, có nghĩa là kỷ-nguyên của Thiên-Chúa), có ông Williams Zens, là người Âu-Châu đầu tiên khám phá ra đất Úc. Sau đó,  năm 1770, ông James Cook tìm đến và khai thác bờ biển miền Đông nước Úc, ông đặt tên cho vùng này là New-South-Wales (N.S.W) và coi như đây là lãnh thổ của người Anh (England).  N.S.W ngày nay là một trong những tiểu bang của nước Úc, thành phố Sydney có rất đông người Việt cũng là thành phố chính của tiểu bang này. Vào năm 1788, người Anh dùng vùng N.S.W để làm thuộc địa chứa tù nhân.
Mãi đến năm 1901, nước Úc mới được độc lập, đương kim chính-phủ lúc bấy giờ lấy thành phố Melbourne, thuộc tiểu bang Victoria làm Thủ-Đô tạm thời.  Sau này, vào năm 1927, chính-phủ Úc dời Thủ-Đô từ Melbourne về Canberra.  Cho đến ngày nay Canberra vẫn là Thủ-Đô của nước Úc.
Từ năm 1967, chính-phủ Úc mới bắt đầu có những chương trình lo cho người Thổ-Dân (Aborigines) như về sức khỏe (Health-Care), về tiền trợ cấp (Welfare), nhà cửa (Housing) v.v..
Hơn một thế-kỷ trước, nhiều sắc dân trên toàn thế giới đã đến nước Úc để tìm vàng.  Ngày nay còn rất nhiều di-tích cổ của những vùng mỏ vàng.  Có hơn năm mươi sắc dân di cư đến Úc, nhất là sau năm 1975, làn sóng người Việt tỵ nạn được đến Úc định cư ngày càng gia tăng, chính-phủ Úc đã lo đầy đủ vấn đề An-Sinh Xã-Hội, Y-Tế, Giáo-Dục… trong quy-chế cho người tỵ-nạn chúng ta.  Họ chấp nhận và tôn trọng nền văn-hóa, phong tục của mọi sắc dân, vì thế nước Úc được coi là một nước “Đa Văn Hóa” (Multi-Cuture).  Người Việt tỵ nạn phần nhiều định cư tại các thành-phố lớn là Sydney, Melbourne và Brisbane, một số ít đi về vùng Adelaide (miền Nam nước Úc) và có ít người Việt ở Perth (miền Tây-Nam nước Úc) cũng như vùng Darwin (nơi rất nhiều thổ-dân thuộc miền cực Bắc nước Úc). 
Theo giòng đời trôi nổi, ngày nay dù đã định-cư ở California, Hoa-Kỳ nhưng kế-hoạch trong tương-lai của “Chân-Quê” tôi là sẽ về lại dưỡng già ở Australia.  Tôi vẫn còn giữ liên lạc với những Cựu-Chiến-Binh Úc.  Tôi cũng có những người bạn độc-thân là lính Việt-Nam-Cộng-Hòa ở Mỹ, di-dân từ Mỹ sang nước Úc bằng cách lấy vợ quốc-tịch Úc và hiện nay họ được hưởng lương bổng, quyền-lợi y-tế đầy đủ suốt đời; cuộc sống vô cùng ổn định và điểm đặc-biệt là chúng ta không bao giờ có thể tìm thấy những người Vô-Gia-Cư  “Homeless” cầm bảng có ghi chữ: “Vietnam Veterans” để xin tiền nơi đầu đường, góc phố tại Australia.
Tại một hòn đảo rất đẹp là Phillip Island, Victoria. Australia có một Viện-Bảo-Tàng mang tên: “National Vietnam Veterans Museum” lưu dấu thời chiến-tranh Việt-Nam. Gồm rất nhiều các kỷ-vật, hình-ảnh, xe-tăng, trực-thăng… Được xây dựng từ ngày 9, tháng 3, năm 2007 bởi ông Steve Bracks MP khởi xướng.  Nơi đây cũng có một quán Café tên: “Núi Đất” rất dễ-thương để các Cựu-Chiến-Binh gặp gỡ, hàn huyên tâm-sự.
 Tôi cũng được thông-báo là “National Council of The Vietnam Veterans Association of Australia at its May 2010, National Congress” đã đồng-ý cho “Hội Cựu-Chiến-Binh Úc Tham-Chiến Việt-Nam Chi-Nhánh Tasmania” (The Tasmania Branch of the Vietnam Veterans Association of Australia) đứng ra tổ-chức ngày hội-ngộ của các Cựu-Chiến-Binh khắp nơi trên thế-giới vào thứ Năm: 18, tháng 8, 2011 ở thành-phố Hobart thuộc đảo Tasmania. Australia.  Hãy liên lạc “the Branch Secretary Mrs. Ann Cash qua email    [email protected], để ghi danh và biết thêm chi-tiết.  Còn cả hơn một năm để quý vị dư thời-gian thu-xếp qua Úc, trước là tham-dự buổi sinh-hoạt này, sau là có dịp tìm hiểu về nước Úc.
Muốn biết rõ về quyền lợi của người Cựu-Chiến-Binh-Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa quý Cựu-Quân-Nhân có thể liên lạc trực-tiếp với Giám-Đốc Điều-Hành ông Peter Britght.  Địa-chỉ: Anzac House, 4 Collins Street, Melbourne Vic. 3001.  Số điện-thoại nếu gọi từ Hoa-Kỳ: 011-613-9655-5588.
(Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc. Viết trong niềm Tri-Ân và mong là nhịp-cầu-nối giữa các Cựu-Chiến-Binh Úc và Cựu-Quân-Nhân Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa khắp nơi trên Thế-Giới.)
Thứ Sáu: 30, tháng 7, năm 2010).

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.