Hôm nay,  

Ulkraine, Khi Stalin Làm Cho Con Người Ăn Thịt Đồng Chủng

29/01/200700:00:00(Xem: 13410)

Ulkraine, Khi Stalin Làm Cho Con Người Ăn Thịt Đồng Chủng

(Lời phi lộ: Nói đến cộng sản, dân chúng thuộc khối Đông Âu hay Nga đã có nhiều kinh nghiệm. Hôm nay, nhân đọc bài này của F Fasca vừa được phổ biến, nhắc lại nạn đói Holodomor tại Ulkraine cách đây khoảng 75 năm, tôi phóng dịch giới thiệu độc giả để biết rằng, cho đến ngày Nga và toàn khối Đông Âu sụp đổ, trước sau đường lối cộng sản đã sử dụng không có gì thay đổi, y chang như nhau, có chăng chúng chỉ thay đổi phương thức thực hiện mà thôi …)

Lúc đầu người ta ăn lá cây, sau đó đến thịt chó và mèo, một số đã trở thành những kẻ ăn thịt người. Trước đây 70 năm, Stalin đã tạo ra cho Ulkraine có một nạn đói rất ư khủng khiếp! Hàng triệu người bị chết, nhưng “Holodomor” vẫn là một sự cấm kỵ từ hàng chục năm qua, cho tới bây giờ …

Tại thành phố Budapest, mỗi khi người ta nghe đến chữ “Holodomor” là thiên hạ tự nhiên bật khóc. Bà Natalia Mikitiwna Nidzelska, 86 tuổi, có dáng dấp nhỏ và mảnh khảnh xuất thân từ làng Pilipi, thuộc phía Tây Ulkraine, chỉ vào trái tim bà ta và đã thét lên trong nỗi buồn thê thảm: “Tim tôi đau nhói ghê gớm, khi mà đã nhìn cảnh người ta quằn quại chết! Holodomor, đó là một từ của Ulkraine, ám chỉ cho nạn đói và có nghĩa giống như Holocaust của thời Đức quốc Xã.

Người ta đã ăn lá cây và nụ hoa, đã ăn thịt chó và thịt mèo, đã phải nuốt khoai thúi và tranh dành nhau cám dành cho gia súc ăn và cuối cùng, họ đã phải ăn luôn cả thịt người chết. Ai đã may mắn thoát chết trong nạn đói tại Ulkraine vào thời điểm từ 1932 – 1933 đều hồi nghĩ lại nhiều các chi tiết liên quan đến nạn đói này. Nhưng tiếc một điều là cho đến nay, nạn nhân còn sống không được phép công khai nói về những sự kiện đã xảy ra.Natalia Mikitiwna Nidzelska đã thoát chết nạn đói Holodomor. Năm 1991 bà ta di dân sang Hung gia Lợi (Ungarn) và tại đây bà ta được quyền nói công khai về nạn đói đã xảy ra tại quê hương bà ta trong khi đồng hương, theo như lời của bà Nidzelska thì vì sợ cộng sản nên cho đến thời gian ngắn trước đây vẫn phải im lặng, không được đề cập đến. Bà Nidzelska không thể nào quên được cảnh lúc đó nhiều người chỉ vì một miếng bánh mì thôi mà phải đày đoạ, đến nỗi họ phải làm sao tranh đấu để sống còn hay đến những trường hợp mà láng giếng đã trở thành kẻ ăn thịt người …

Như sử gia Miklos Kun của Hung đã cho biết, sự khiếp sợ vẫn còn ăn sâu trong trí nhớ của những nạn nhân thời đó, không thể nào hủy diệt nó đi được. Theo sử gia Kun, đây là một sự giết người có hệ thống, có tính toán đã giết hại hàng triệu người trong khi Stalin đi nghỉ hè ở vùng biển Schwarz Meer (Black Sea). Sử gia Kun đã tìm hiểu, nghiên cứu từ hơn hai chục năm qua qua các dữ liệu trên toàn cầu về nguyên nhân và hậu quả của thảm kịch đã xảy ra, nhằm mục đích bẻ gãy sự vô liêm sỉ của cộng sản Nga và Ulkraine, hai quốc gia vẫn muốn tiếp tục cho rằng Holodomor chỉ là một sự khủng hoảng, không hơn không kém.

a) Chết tập thể sau khi tập thể bị tước đoạt sỡ hữu chủ

Tài liệu còn lưu trử của Ulkrain cho thấy dấu hiệu đúng như những sử gia hay nạn nhân sống sót từng nhắc đến là “nạn đói trên đã được chính phủ Stalin từ Moskau điều hành và tổ chức có hệ thống và được phần tử cốt cán, tích cực tại địa phương, vốn là những người dân Ulkraine nghèo bị Nga mua chuộc, thực hiện hầu bẻ gãy sự chống đối của khối nông dân Ulkraine đang bộc phát chống lại sự cưỡng bách tập thể hoá và truất quyền sở  hữu chủ của dân.

Nga đã không chính thức phủ nhận nạn đói và cũng không đề cập đến vai trò của Stalin. Nga chỉ nói có lệ là cũng có một sự mất mùa! Theo sử gia Kun thì đây là sự nhạo báng vì Ulkraine là một quốc gia nông nghiệp, có đất đai rất tốt và thường cung cấp cho Nga trên phương diện này.

Tuy nhiên sự thật cũng không thể che đậy mãi ở Ulkraine. Tổng Thống Viktor Juschtschenko đã đệ trình một bản phát thảo tại quốc hội, trong đó qui định là sẽ bị trừng phạt nếu “vu khống nạn đói” tại Ulkraine. Hình phạt không ấn định rõ ràng, nhưng đạo luật đã là một viên gạch trong chính trường Ulkraine: Cái chết tập thể, theo sau một sự truất hữu tập thể cách đây 75 năm bây giờ coi như được quốc hội công nhận.

Sự chịu đựng đói khổ bắt đầu từ cuối năm 1930 tại nhiều vùng thuộc Ulkraine, nhiều người nói là nhiều nơi nạn đói đã có từ 1929. Lúc đó cộng sản Moskau quyết định thực hiện chính sách tập trung cho Ulkraine. Trong vòng hai năm chiến lược này phải được hoàn thành, qua hình thức truất đi quyền sở hữu của giới nông dân nhằm mục đích đẩy mạnh chính sách kỷ nghệ hoá của Sowjetunion được sớm thực hiện hơn.

Ông Juri Krawtschenko, 44 tuổi, cháu của một nạn nhân tại làng Petriwka thuộc vùng Nam Ulkraine may mắn sống sót, kể như sau: “Trước hết, những điền chủ bị truất hữu, sau đó đến những dân làng nghèo. Ai không tự ý nhập vào những hãng lớn của Nga thì bị xem như là kẻ thù của nhà nước, không nhận được việc làm và bị truất hữu, tịch thu tài sản”. Bảy (7) anh chị em của ông nội Krawtschenko bị chết vì “nạn đói Holodomor”. Còn ai tự ý gia nhập vào Kolchosen (hãng lớn của Nga) thì lúc đầu được cấp ít tiền, về sau chỉ còn là một nấm tay đồ ăn!

Làng Petriwka ngày nay không còn hiệu hữu nữa, 90% trong tổng số 300 người dân trong vùng đã chết vì nạn đói khủng khiếp nói trên .

b) Trẻ con đuổi bắt nòng nọc và bắn chim sẻ

Bà Natalia Nidzelska cho biết là trước khi nạn đói xảy ra, gia đình của bà thuộc giới trung lưu. Họ ăn uống đầy đủ, ngày ba bữa. Cha bà ta là người thợ rèn duy nhất tại Pilipi và có đầy đủ việc để làm. Năm 1931 xuất hiện những kẻ cốt cán, tích cực đầu tiên và họ phong toả khu vực làng. Chúng bắt mỗi cá nhân phải nộp ruộng đất của họ và gia nhập vào Kolchosen. Kế đến là họ tịch thâu trâu bò và tất cả những thức ăn dự trữ, cho đến khi người dân trắng tay. Cha của bà cũng phải nộp luôn dụng cụ làm việc. Đặc biệt, tại những làng như làng Pilipi hay phía Nam Ulkraine là những nơi chống đối mạnh mẽ chính sách cưỡng bách tập trung của nhà nước thì chịu ảnh hưởng rất nặng nề vì nạn đói. Ngay cả dầu đốt hay que diêm cũng bị tước đoạt…

Bốn chị em bà Nidzelska và cha mẹ của bà còn sống sót được là nhờ họ còn đủ sức lực để làm việc. “Anh bà thì thử tìm cách bắn chim sẻ hay bắt nòng nọc để nuôi mình. Bà ta kể, tiếng run run: “Chị tôi và tôi thì không biết săn bắn. Chân cẳng thì cứng như bê tông vì đói. Mẹ chúng tôi phải bí mật đưa cho chúng tôi một ít bột, nhiều hơn là cho anh tôi. Sau đó đẩy chúng tôi ra đồng làm việc. Trên đường về, lúc đó mới 12 tuổi, bà ta phải ăn miếng bánh mì to bằng hộp diêm quẹt lửa, lương ngày của bà ta vì sợ những người láng giềng quá đói giật mất đi phần ăn (lương) của mình. Mẹ của bà ta phải nấu bột, lấy từ vỏ khoai vào ban đêm vì sợ người xung quanh thấy khói bốc lên”!

Tình cảnh dành cho những đại gia đình đông con thì xem như không có lối thoát. Năm 1933 còn tệ hại hơn nữa. Tài liệu trong khoảng thời gian này chứng minh cho thấy rằng Stalin và sau đó là ngoại trưởng Wjatscheslaw Michalowitsch Molotow đã ra lệnh cấm không cho nông dân trốn về thành phố. Nhiều gia đình đã phải bỏ con của họ lại ở Kiew và thủ đô trước đây là Charkow, với hy vọng là có ai đó thương cho chúng ít đồ ăn. Nhưng những “tay sai” đã bắt chở những đứa trẻ này trả về quê cũ và vứt bỏ chúng giữa đồng hoang và cuối cùng, trẻ con đã chết một cách đau đớn.

Ngay cả những chuyện buôn bán quần áo hay đồ trang sức mà dân cất dấu đâu đó cũng bị cấm đoán. Nhưng nhiều người cũng mạo hiểm với những chuyến tàu đi rất xa đến những tỉnh nhỏ để đổi đồ đạt lấy một ít bánh mì, như mẹ của bà Nidzelska đã làm. Cha bà làm công nhân máy liên hợp gặt đập đã cạo lấy những hạt nhỏ còn sót lại trong những đường nẻ của máy hầu đem về nuôi sống gia đình, mặc dầu trên máy có đề hàng chữ cấm, nếu không thì sẽ bị xử tử!

* Ngọc Châu phóng dịch (Munich 27.01.2007, nhân ngày kỷ niệm 62 năm Holocaust)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.