Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
EagleBrand-Vietbao-1230x152-12042022-viet

Tiểu Són

11/04/200900:00:00(Xem: 7662)
Tiểu Són
Bác sĩ Trần Mạnh Ngô
Hỏi: Xin cho biết những loại tiểu són" Đàn bà bị tiểu són nhiều hơn đàn ông" 
Đáp: Khi bệnh nhân không muốn đi tiểu mà nước tiểu cứ chảy ra ngoài là tiểu són.
Đàn bà bị tiểu són nhiều hơn đàn ông, nhất là ở người lớn tuổi. Khoảng 35% người già trên 60 tuổi bị tiểu són: cứ một đàn ông thì lại có 2 đàn bà ở tuổi này bị tiểu són. Cứ 3 phụ nữ trên 60 tuổi thì lại có một người không thể nào kìm hãm được đường tiểu. Tiểu són thường thấy ở người mập hay bệnh nhân bị tiểu đường. Tỉ lệ ưu trầm người són tiểu tăng cao. Công việc làm khi bị són tiểu cũng ít nhiều bị ảnh hưởng. 50% bệnh nhân nằm trong viện dưỡng lão bị bệnh tiểu són. 
Bác sĩ khám bệnh tìm hiểu nguyên nhân gây tiểu són. Chẳng hạn truy tầm u bướu ngăn chặn đường tiểu. Bác sĩ thử khi bệnh nhân đang thư dãn bất chợt ho một tiếng xem nước tiểu són ra như thế nào. Thử nghiệm nước tiểu xem có bị nhiễm trùng, có sạn trong đường tiểu, hay những nguyên nhân nào khác ngăn cản đường tiểu. Thử nghiệm xem hoá chất nào liên hệ tiểu són. Siêu âm để xem thận, đường dẫn tiểu từ thận tơí bọng đái, trong bọng đái, hay đường tiểu từ bọng đái chảy ra ngoài có gì bất thường không" Bác sĩ có thể phải soi bọng đái. Đo áp xuất trong bọng đái và thử nghiệm xem đường tiểu có thông không" Tóm lại, có nhiều phương pháp thử nghiệm tiểu són nhưng thông thường nhất là thử chức năng bọng đái.
Bệnh chia ra làm nhiều loại:
Loại thứ nhất của tiểu són (stress incontinence) sinh ra khi có sức ép dồn vào khi bắp thịt xung quanh đường tiểu bị yếu đi, ho, hắt xì hơi, cười, tập thể dục hay khiêng vật nặng. Có thể nói đây là loại tiểu són thường thấy nhiều nhất của phụ nữ khi có bầu, sinh con hay tới thời kỳ mất kinh. Đàn ông sau khi giải phẫu cắt bỏ nhiếp tuyến cũng bị loại tiểu són này.
Loại tiểu són thứ hai (urge incontinence) bất thình lình muốn đi tiểu ngay và són nước tiểu ra quần. Bắp thịt bọng đái co thắt bất thình lình và mạnh đến nỗi chưa đến kịp tới nhà tắm đã són ra quần. Nếu bị loại tiểu són này thì nên đi tiểu thường xuyên hơn. Đôi khi ban đêm cũng phải trở dậy đi tiểu. Bệnh có thể do nhiễm trùng đường tiểu hay bọng đái bị kích thích quá mạnh.
Loại tiểu són thứ ba (overflow incontinence) do nước tiểu són ra thường xuyên. Khi bọng đái không thể bóp đẩy hết nước tiểu ra ngoài. Khi đi tiểu thấy đường tiểu không thông suốt. Bệnh do bọng đái bị hư, ống dẫn tiểu (urethra) hẹp, đàn ông bị bệnh sưng nhiếp hộ tuyến, hay bệnh nhân bị bệnh tiểu đường.
Loại tiểu són thứ bốn (mixed incontinence) Khi bị 2 hay 3 thứ són tiểu kể trên hợp lại.
Tiểu són thứ năm (functional incontinence) thường thấy ở người già sống trong viện dưỡng lão, do tật nguyền hay do bệnh tâm thần, không thể đi tiểu đúng lúc.

Tiểu són thứ sáu (gross total incontinence) liên tục són nước tiểu, đêm ngày, đi tiểu nhiều, và không thể kiểm soát đường tiểu. Có thể là do tật bẩm sinh, thương tích cột sống lưng, hoặc do thương tích đường tiểu sau khi giải phẫu.
Nếu quý vị bị tiểu són nên gặp bác sĩ gia đình hay bác sĩ chuyên khoa đường tiểu để chuẩn bệnh và trị liệu.
Ba Phương Pháp Mới Điều Trị Tiểu Són
Phương Pháp thứ nhất: Chích Chất Keo Điều Trị Bệnh Tiểu Són. Bs Phillippe Zimmern thuộc Đại Học Y Khoa Southwestern tiểu bang Utah cho biết thử nghiệm chích chất keo để điều trị bệnh tiểu són cho thất trong số 93 bệnh nhân có 31 bệnh nhân thuyên giảm bệnh, và khỏi bệnh. Tác giả và các cộng sự viên đã dùng máy siêu âm 3 chiều để ước định vị trí chất keo và lượng chất keo còn đọng ngoài thành ống dẫn tiểu (ureter). Nếu hình siêu âm cho thấy sau lần chích đầu nếu chửa được thuyên giảm tiểu són và nếu lượng chất keo còn quá ít đã chích chất keo lần thứ hai. Nhưng nếu lượng chất keo đã đủ rồi mà bệnh nhân vẫn chưa thuyên giảm tiểu són thì phải dùng phương pháp khác. Chích chất keo có thể là phương pháp kế tiếp trị tiểu són nếu bệnh nhân vẫn bị tiểu són hay tái phát tiểu són sau khi giải phẫu mà không khỏi. (Journal of Urology, February 2009).
Phương Pháp thứ hai: Trong bài nghiên cứu thứ hai cho biết phụ nữ giảm cân lượng có thể giúp giảm triệu chứng tiểu són. Bs Lesiee Subak nghiên cứu 226 bệnh nhân nằm trong chương trình là những phụ nữ mập bị ít nhất 10 lần tiểu són trong một tuần lễ. Chương trình giảm cân lượng trong 6 tháng bao gồm cách ăn uống kiêng khem, tập thể dục, thay đổi hành động. Kết quả cho thấy phụ nữ giảm cân lượng giảm triệu chứng tiểu són. Theo Bs Subak thì có thể dùng phương pháp thể dục trước nhất trong việc điều trị tiểu són cho phụ nữ có cân lượng cao hay mập. (New England J. Med., 360: 481, 2009).
Phương Pháp thứ ba: Trong nghiên cứu thứ ba, Bs Samina Tahseen và đồng nghiêp dùng một loại băng dán làm hẹp đường dẫn tiểu để điều trị tiểu són. Thử nghiệm cho 58 phụ nữ tiểu són theo dõi 13 tháng. Tổng kết quả cho thấy 43% bệnh tiểu són (urge urinary incontinence) khỏi hẳn, 36% triệu chứng tiểu són thuyên giảm. Trong loại tiểu són (stress predominant leakage) thì 43.5% khỏi hẳn và 43.5% đỡ tiểu són. Trong loại tiểu són (urge predominant leakage) thì 43% khỏi hẳn và 28.5% khá hơn. Loại tiểu són (stress incontinence) khỏi hẳn 77% và khá hơn 19%. (Obstet Gynecol, 113: 617, 2009).
Bs Trần Mạnh Ngô, E-mail: nmtran@hotmail.com; Xin mời quý độc giả ghé thăm Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com, một Trang Web Y Khoa của người Việt viết cho người Việt. 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Theo nghiên cứu “The neurons that restore walking after paralysis” (Tế bào thần kinh phục hồi khả năng đi lại sau khi bị liệt) được công bố trên tạp chí Nature trong tháng 11 năm 2022, chín người bị liệt do chấn thương tủy sống nghiêm trọng đã lấy lại được khả năng đi lại nhờ sự kết hợp của kích thích điện từ cột sống dưới và vật lý trị liệu.
Cặp song sinh một trai một gái, tên là Lydia và Timothy Ridgeway, có thể đã phá vỡ kỷ lục phôi thai đông lạnh lâu nhất từng sinh ra. Người giữ kỷ lục trước đó là Molly Everette Gibson, sinh ra từ một phôi thai đã được đông lạnh trong khoảng 27 năm. Mẹ của cô, Tina Gibson, người cấy phôi thai vào cơ thể mình và sinh ra cô mới được 1 tuổi khi phôi thai đó được đông lạnh.
Vì Vi-rút Hợp Bào Đường Hô Hấp (RSV), bệnh cúm, và COVID-19 tiếp tục ảnh hưởng đến người dân California sớm hơn thường lệ trong năm nay, nên Nhà Dịch Tễ Học của tiểu bang, cũng chính là bác sĩ Erica Pan, kêu gọi mọi người trên toàn tiểu bang bảo vệ bản thân và gia đình của họ trước nhiều loại vi-rút đang hoành hoành.
Cơ Quan Kiểm Soát Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã chuẩn thuận loại thuốc điều trị đầu tiên có khả năng trì hoãn – có thể trong nhiều năm – sự khởi phát của bệnh tiểu đường Loại 1, một căn bệnh thường xuất hiện ở thanh thiếu niên.
Nước Mỹ có vấn đề về uống rượu. Theo nghiên cứu mới của Trung tâm Kiểm soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC), việc tiêu thụ rượu quá mức đã góp phần gây ra ước tính một phần tám số ca tử vong, hay12.9 phần trăm trên tổng số người Mỹ từ 20 đến 64 tuổi. Uống quá nhiều rượu cũng là nguyên nhân gây ra 1/5 số ca tử vong - 20,3% - ở người Mỹ từ 20 đến 49 tuổi, theo nghiên cứu được công bố vào tuần trước trên tạp chí JAMA Network Open.
Vắn tắt, người càng lớn tuổi, số lượng tế bào thần kinh giảm và khả năng về tâm trí sẽ giảm đi. Một số triệu chứng nhẹ như hay quên, hay lẫn lộn có thể chấp nhận như là sự lão hoá bình thường. Khi các triệu chứng này gia tăng, tiến triển đến mức ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật, lúc đó người ta dùng từ "dementia" hay "mất trí" theo nghĩa đen, hay bịnh lẫn. Có nhiều nguyên nhân cho dementia. Bịnh Alzheimer là nguyên nhân của phần lớn người mắc dementia. Một số nguyên nhân dementia chữa được, chưa có thuốc thay đổi được bịnh Alzheimer (disease-modifying drugs), chỉ có những thuốc giúp giảm triệu chứng thôi (symptomatic treatment).
Các Telomere* đóng một vai trò thiết yếu trong việc xác định số lần một tế bào có thể phân chia. Telomere là 1 đoạn DNA có trình tự (TTAGGG) lặp lại nhiều lần ở đầu mỗi nhiễm sắc thể, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ phân tử DNA khỏi các tác động gây hại và sự mất ổn định của hệ genome. Trong chu trình của một tế bào bình thường, quá trình phân bào sẽ khiến cho một phần của telomere bị mất đi. Khi độ dài của telomere đạt tới mức giới hạn thì tế bào sẽ tự chết theo chương trình (apotosis**). Do vậy, độ dài của telomere có thể coi như chiếc đồng hồ sinh học để xác định “tuổi thọ” của tế bào và các cơ quan.
Mùa đông đang đến rất nhanh và thời tiết lạnh hơn, điều quan trọng hơn bao giờ hết là quý vị phải tiêm vắc-xin và liều tăng cường chống lại COVID-19 cho bản thân và gia đình. Đối với những người từ 65 tuổi trở lên, việc tiêm liều tăng cường COVID-19 loại cập nhật là cực kỳ quan trọng vì nguy cơ mắc bệnh nặng do COVID-19 tăng lên theo tuổi tác.
Việc các bác sĩ có thể nhìn xuyên thấu bên trong cơ thể bệnh nhân mà không cần phải rạch một đường nào từng là một khái niệm thần kỳ. Cho đến nay, hình ảnh y tế (medical imaging) trong khoa quang tuyến đã trải qua một chặng đường dài, và các kỹ thuật mới nhất dựa vào trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ còn tiến xa hơn nữa: chúng khai thác khả năng tính toán khổng lồ của AI và khả năng học hỏi vô giới hạn để tận dụng triệt để các phương pháp dò chụp trên cơ thể, tìm ra những điều khác thường mà mắt người có thể bỏ sót.
Hội đồng Nobel tại Viện Karolinska ngày 3/10/22 đã quyết định trao Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học năm 2022 cho Svante Pääbo vì những khám phá của ông liên quan đến bộ gen của những hominin (cũng thuộc giống người, tương tự như “người khôn” [homo sapiens] chúng ta hiện nay) đã tuyệt chủng và sự tiến hóa của loài người. Svante Pääbo sinh ngày 20 tháng 4 năm 1955 tại Stockholm, Thụy Điển. Mẹ của ông là nhà hóa học người Estonia Karin Pääbo (1925–2013), từng trốn thoát khỏi Estonia bị Liên Xô xâm lược vào năm 1944 và đến Thụy Điển tị nạn trong Thế chiến thứ hai. Ông là con ngoại hôn của nhà hóa sinh người Thụy Điển Sune Bergström (1916-2004), và cha ông cũng từng được giải Nobel về Sinh lý học hoặc Y học (năm 1982).
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.