Hôm nay,  

Vẫn Chỉ Là Những Khẩu Hiệu Lừa Bịp!

01/01/200900:00:00(Xem: 8274)

Vẫn Chỉ Là Những Khẩu Hiệu Lừa Bịp!

Trần Hùng
Vào lễ Giáng Sinh vừa qua, Đại hội toàn quốc lần thứ V Hội Nông dân Việt Nam đã bế mạc sau 3 ngày hội họp tại Hà Nội. Hội này do đảng cộng sản dựng lên để nắm thành phần nông dân, là lực lượng lao động chính yếu ở nông thôn. Đại hội kỳ V quy tụ gần 1.200 đại biểu, đại diện cho số hội viên khoảng 10 triệu người, và có thành phần chủ tọa hùng hậu gồm Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu; Chủ tịch nhà nước CSVN Nguyễn Minh Triết; nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh và Trần Đức Lương; Chủ tịch Quốc hội bù nhìn Nguyễn Phú Trọng; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng và Chủ tịch Ủy ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Huỳnh Đảm...
Đọc diễn văn trong lễ khai mạc, Nông Đức Mạnh dài dòng tâng bốc những "thành quả vượt bực của giai cấp nông dân", và nhấn mạnh đến việc cần "Bảo đảm thực sự quyền làm chủ của nông dân, thực hiện dân chủ hóa, công khai hóa, tạo điều kiện cho nông dân lao động được biết, được bàn, được kiểm tra mọi quá trình kinh tế, xã hội diễn ra ở nông thôn; được tham gia lựa chọn và giám sát cán bộ và bộ máy quản lý hoạt động ở cơ sở".
Đồng thời, Nông Đức Mạnh cũng nhắc lại khẩu hiệu: "Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh là vấn đề có tính nguyên tắc, là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng".
Từ khởi thuỷ, đảng cộng sản Việt Nam vẫn chủ trương phân chia xã hội thành nhiều giai cấp để dễ bề thống trị, đưa công nhân và nông dân thành lực lượng nòng cốt để khống chế các thành phần khác. Họ được hứa hẹn sẽ có đời sống vật chất và tinh thần ấm no hạnh phúc, nhưng điều đó mãi mãi vẫn chỉ là ước mơ ngoài tầm tay. Trên thực tế, những người nông dân và công nhân Việt Nam cũng bị bóc lột tàn tệ như những thành phần khác trong xã hội.
* Nông nghiệp Việt Nam vẫn là con trâu đi trước, cái cầy theo sau!
Dân số Việt Nam hiện nay là 85 triệu người, khoảng 70% sống ở nông thôn. Thành phần lao động nông nghiệp chiếm 56% lao động cả nước, nhưng tổng sản lượng nông nghiệp chỉ chiếm 25% GDP, một tỷ lệ bất cân xứng so với con số nông dân đông đảo. Thu nhập của người nông dân Việt Nam rất thấp so với nông dân các nước khác trên thế giới. Theo thống kê của ngân hàng thế giới (World Bank WB) thì nông dân Đan Mạch có mức thu nhập thường niên là 63.000$ US, nông dân Pháp 59.000$ và Mỹ 54.000$, trong khi nông dân Việt Nam có thu nhập chỉ 250$, thấp hơn cả những quốc gia nghèo khó ở Đông Nam Á như Cam Bốt (420$) hay Lào (620$).
Thu nhập thấp có nhiều nguyên nhân, từ thiên tai thì ít, mà từ "nhân tai" thì rất nhiều. Việc phân phối những loại phân bón hay thuốc trừ sâu đều nằm trong tay những công ty của các tư bản đỏ, có nhiều phù phép trong việc nâng giá. Trong khi lúa gạo bán ra phải qua tay các thương buôn đỏ, có nhiều kinh nghiệm trong việc ép giá. Nông dân bị kẹt giữa 2 đầu, mà đầu nào cũng có đường giây leo cao đến thượng tầng của chế độ. Vào cuối tháng 3 năm nay, khi giá gạo trên thế giới lên cao thì nhà nước ra lệnh cấm xuất cảng. Đến tháng 6, khi gạo rớt giá, lệnh cấm được giải toả. Nông dân dở khóc dở cười, vì bán ra thì lỗ, mà để lại thì không có kho, đằng nào cũng chết!.


Tuy nhiên, những điều đó vẫn chưa nói lên hết được kiếp lầm than của 60 triệu người dân nông thôn. Cuộc đời "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" của họ sẽ tiếp diễn mãi cho đến các đời sau, bởi vì con cái của họ đều lâm vào cảnh thất học do gia đình không kham nổi những chi phí quá cao. Tại Cà Mâu, mỗi năm có tới 10.000 học sinh các cấp phải bỏ học. Tại Bạc Liêu có lớp gần 1/2 học sinh vắng mặt. Tỉnh Quảng Ngãi có 4.000 học sinh miền núi phải bỏ trường. Đó là tình trạng chung nhiều nơi. Cuộc sống thiếu thốn không chỉ khiến con cái nông dân phải bỏ học, mà còn bị bán làm dâu xứ người để mang về một khoản tiền nhỏ nhoi. Có từ 15 đến 17 ngàn cô dâu Việt đang sống ở Nam Hàn, trên 100 ngàn ở Đài Loan, 30 ngàn ở một số nước khác, tổng cộng khoảng 150 ngàn, đều xuất phát từ đồng bằng Cửu Long, riêng tỉnh Tây Ninh có trên 10 ngàn cô dâu xứ Đài. Đây không phải là những cuộc hôn nhân bình thường theo tiếng gọi của con tim, mà chỉ thuần là việc mua bán. Sau khi các công ty môi giới khấu trừ mọi chi phí thì bậc cha mẹ còn nhận được vài trăm đô la, vừa đủ dựng một căn nhà lá, trong khi những nàng Kiều thời đại phải đối diện với một tương lai đầy bất trắc. 40% những cuộc hôn nhân kiểu này bị gẫy đổ trong 5 năm đầu, nhiều trường hợp đưa đến những cái chết thương tâm.
Đó vẫn chưa phải là tất cả số phận đen tối của người nông dân. Điều ác nghiệt hàng đầu là ruộng đất canh tác, phương tiện sinh sống của họ, luôn là miếng mồi ngon trước lòng tham của cán bộ có chức quyền. Đó là nguyên do khiến tình trạng "dân oan khiếu kiện" có mức độ trầm trọng nhất tại những vùng nông thôn. Tuần trước, vào sáng 17-12, 500 nông dân tỉnh Kiên Giang đã nhất loạt biểu tình để phản đối việc chính quyền chiếm đoạt ruộng đất vốn do bà con khai phá từ đất hoang để cấy lúa trên 12 năm nay. Công an đến đàn áp, bắn vào dân khiến 9 người bị trọng thương. Gần nhất, vào đúng ngày lễ Giáng Sinh, công an cưỡng chiếm đất mà người dân đã canh tác trên 50 năm tại huyện Quốc Oai, Hà Nội, đánh nhiều người bị thương. Từ những thực tế đó, việc nhà nước rêu rao: "bảo đảm quyền làm chủ của giai cấp nông dân" trước sau vẫn chỉ là chiêu bài lừa bịp.
Trong "liên minh công nhân - nông dân - trí thức" mà Nông Đức Mạnh đề cập, thành phần công nhân, vốn được đảng mệnh danh là "giai cấp lãnh đạo cách mạng", trên thực tế cũng chỉ là nạn nhân của một chính sách bóc lột tàn tệ. Họ bị đem ra rao hàng với giá rẻ mạt để làm miếng mồi câu đầu tư ngoại quốc, như ghị quyết Trung ương 7 đã chủ trương "Giá nhân công rẻ là một lợi thế quan trọng để phát triển." Vì thế so với những nước trong vùng, công nhân Việt Nam có mức lương thấp nhất. Năm 2005, lương tháng của công nhân Việt Nam tại các xí nghiệp có vốn đầu tư ngoại quốc là khoảng 40 đô la, so với Cam Bốt là 45$; Trung cộng 63$; Phi Luật Tân, Thái Lan 100$. Năm 2008, mức lương phổ biến của công nhân Việt Nam là từ 790.000 đồng đến 925.000 đồng/tháng, chỉ bằng 1/20 lương công nhân Đại Hàn.
Mức lương thấp, gặp tỷ lệ lạm phát trên 20%, càng làm đời sống của hơn 12 triệu công nhân Việt Nam thêm cơ cực. Có nhiều trường hợp công nhân bị cắt xén lương bổng, chửi mắng, đánh đập, lục soát thô bạo... tệ hại hơn cả dưới thời thực dân, phong kiến. Năm 2006, có gần 400 vụ đình công trên toàn quốc để đòi quyền lợi hay phản đối bóc lột. Năm 2007 có gần 550 vụ, và năm 2008, con số này lên gấp đôi. Chỉ riêng tại Sài Gòn, trong 10 tháng đầu năm 2008 đã có 198 cuộc đình công. Có đợt đình công cùng một lúc tại 36 công ty ở Sài Gòn, gồm hơn 40.000 công nhân. Điều tệ hại hơn nữa là công nhân không được phép thành lập công đoàn độc lập, nên họ không có phương cách nào để bảo vệ quyền lợi của mình, đành nhắm mắt chịu đựng cán bộ nhà nước bắt tay cùng chủ nhân mặc tình thao túng.
Đó là thực trạng thê thảm của 2 tầng lớp công nhân và nông dân dưới chế độ Việt cộng. Vì thế những luận điệu tuyên truyền của CSVN đã bị rơi rớt từ nhiều năm nay, mà chỉ tồn tại trên những bài diễn văn của thành phần đầu lãnh. Vế thứ 3 trong cái "liên minh" giả tạo này là thành phần "trí thức" thì chưa bao giờ cộng sản có thể tranh thủ được. Bởi vì những giá trị của trí thức là "tự do" và "nhân bản", lại không song hành với một chế độ độc tài. Do đó, cái gọi là tầng lớp "trí thức xã hội chủ nghĩa" không bao giờ là điều mà chế độ có thể khoe khoang. Từ đó, bài diễn văn đọc ngày Giáng Sinh của Nông Đức Mạnh hiện nguyên hình là một sản phẩm tuyên truyền xa rời thực tế.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.