Hôm nay,  

Hai Thứ Tự Do

28/08/201000:00:00(Xem: 6476)

Hai Thứ Tự Do

Nguyên tác: Ajahn Brahm;
Chuyển ngữ: HT.Thích Trí Chơn 
Trích từ cuốn sách: “Who Ordered This Truckload of Dung"”
(Giới thiệu tác giả: Ajahn Brahm sinh năm 1951 tại Luân Đôn (London). Năm 16 tuổi, lúc còn là học sinh, ông đã tự nhận mình là Phật tử, sau khi đọc vài cuốn sách Phật. Ông bắt đầu nghiên cứu Phật giáo và thiền định trong thời gian theo học môn Vật Lý (Physics) tại đại học Cambridge (Anh quốc). Sau khi hoàn tất học vấn năm 23 tuổi, ông qua Bangkok, thọ giới xuất gia với vị Sư trụ trì chùa (Wat) Saket. Sau đó, ông vào rừng Thái Lan tu thiền 9 năm dưới sự hướng dẫn của Thiền Sư nổi tiếng thế giới Ajahn Chah. Năm 1983 ông được mời sang thành lập Thiền Viện trong rừng gần Perth, miền Tây Úc đại lợi. Hiện nay Ajahn Brahm làm trụ trì Tu Viện Bodhinyana và Giám Đốc Tinh Thần Hội Phật Giáo Tây Úc (Spiritual Director of The Buddhist Society of Western Australia)-  Ghi chú của người dịch.)
Hiện nay nhân loại trên thế giới công nhận có hai thứ tự do. Một là tự do thỏa mãn dục vọng và hai là tự do thoát khỏi dục lạc. Các nước Âu Mỹ hiện đại đề cao loại tự do đầu tiên, chủ trương con người sống càng hưởng thụ được nhiều thú vui dục lạc càng tốt. Có thể nói rằng đa số các nước dân chủ Tây Phương đều cố gắng bảo vệ quyền tự do thỏa mãn các dục vọng của con người. Tuy nhiên, điều đáng ghi nhận là trong các quốc gia đó, thực ra người ta cảm thấy chẳng có tự do gì hết.
Thứ hai là loại tự do thoát khỏi các dục vọng, mà những tổ chức và đoàn thể tôn giáo thường đề cao. Tại đó người ta tán dương cuộc sống bình an không tranh chấp hơn thua và hoàn toàn giải thoát. Điều đáng chú ý là những nơi an bần lạc đạo như ở tu viện của chúng tôi, người ta lại cảm thấy tự do.
Bạn Mong Ước Thứ Tự Do Nào"
Ngày nọ có hai vị Sư Thái Lan được mời đến thọ trai ở nhà một đạo hữu. Trong phòng khách nơi họ ngồi chờ thấy có một bể nuôi đủ loại cá. Vị Sư ít tuổi hơn tỏ ý không bằng lòng vì làm vậy là không phù hợp với giáo lý từ bi của Phật giáo bởi lẽ chúng có tội tình gì mà bị giam trong nhà tù bằng kính như thế" Chúng cần được tự do bơi lội trong sông hay ao hồ tùy thích. Nhưng vị Sư thứ hai phản bác lại ý kiến đó và giải thích rằng hẵn nhiên là những con cá ấy không được tự do theo đuổi sở thích riêng của chúng, nhưng sống trong bể thì chúng thoát khỏi nhiều mối nguy hiểm. Rồi vị đó liệt kê ra các loại tự do ấy như sau:


1. Có khi nào quý vị thấy người đi câu buông câu trong một bể cá trong nhà" Chưa! Vậy thì tự do trước tiên mà những con cá kia có được là không bị người đi câu đe dọa. Còn hoàn cảnh của cá trong tự nhiên khi chúng nhìn thấy một con sâu béo mập hay một con ruồi hấp dẫn, chúng không bao giờ có thể biết chắc là đớp mồi vào có an toàn hay không. Chắc chắn là chúng đã từng nhìn thấy nhiều bà con và bạn bè nuốt một con sâu hết sức ngon lành rồi sau đó bất thình lình biến mất vĩnh viễn khỏi cuộc đời của chúng. Rõ ràng là việc ăn của một con cá trong tự nhiên có thể gặp nhiều nguy hiểm và thường kết thúc cuộc sống một cách bi thảm. Đúng là bữa ăn mang đến tai họa.
2. Cá trong tự nhiên thường lo sợ bị cá lớn nuốt. Thời buổi này ở nhiều sông lội ngược dòng vào ban đêm ắt hẵn không còn được an toàn như trước! Nhưng không có người nuôi nào lại thả những con cá lớn vào để ăn những con cá nhỏ mình nuôi. Vậy thì những con cá trong bể thoát khỏi mối hiểm nguy sẽ bị cá lớn ăn thịt.
 3. Trong tự nhiên, đôi lúc cá có thể không kiếm được thức ăn. Còn cá trong bể thì giống như sống bên cạnh một nhà hàng vậy. Mỗi ngày hai lần bữa ăn đầy đủ chất bổ dưỡng được mang đến tận nơi tiện lợi còn hơn là đặt mua bánh pizza giao tại nhà vậy và cũng không phải trả tiền. Cho nên những con cá trong bể không bị cái đói đe dọa.
4. Thời tiết bốn mùa luôn thay đổi, sông và hồ phải chịu các nhiệt độ khắc nghiệt. Vào mùa đông thì lạnh buốt và có thể bị tuyết che phủ. Mùa hè khí hậu lại rất nóng, đôi lúc bị khô cạn đối với cá. Nhưng cá trong bể thì như ở trong phòng có máy điều hòa không khí, nhiệt độ nước trong bể luôn được giữ không thay đổi và dễ chịu cả ngày, quanh năm suốt tháng. Như thế con cá trong bể có được tự do thoát khỏi thời tiết nóng lạnh bất thường.
5. Trong tự nhiên, khi cá bị bệnh, chẳng có ai chăm sóc và chữa trị. Còn cá trong bể thì có bảo hiểm y tế. Khi đau ốm, chủ nhà liền mời bác sĩ đến khám bịnh và chúng cũng chẳng cần phải đi bịnh viện nữa. Như thế con cá trong bể được tự do thoát khỏi mối nguy cơ mắc bệnh tật và không có bảo hiểm sức khỏe.
Vị Sư lớn thứ hai tóm tắt ý tưởng lập luận của mình: Làm thân cá trong bể được hưởng nhiều thuận lợi. Mặc dù chúng không được tự do bơi lội đi đây đi đó theo đuổi các sở thích của mình, nhưng chúng được tự do thoát khỏi nhiều mối hiểm nguy và nỗi khó khăn trong cuộc sống.
Vị Sư lớn tiếp tục giải thích rằng những người sống cuộc đời tu hành cũng thế. Đúng là họ không được tự do theo đuổi các dục vọng và thỏa mãn mọi ham muốn, nhưng họ tự do thoát khỏi những khổ đau phiền lụy của cuộc đời. Nói tóm, tự do là bằng lòng với nơi chốn mình đang sống. Nhà tù là nơi bạn không muốn ở. Thế giới tự do là thế giới mà người ta ham thích sinh sống. Tự do thực sự là giải thoát khỏi ái dục chứ không bao giờ là tự do thỏa mãn ái dục. Vậy thì bạn muốn thứ tự do nào"

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.