Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Afghanistan Và Việt Nam

23/11/200900:00:00(Xem: 7033)

Afghanistan và Việt Nam

Trần Bình Nam
Hiện nay chính phủ Hoa Kỳ đang thảo luận hướng giải quyết cuộc chiến Afghanistan. Tướng tư lệnh chiến trường Afghanistan Stanley McChrystal nhậm chức trong tháng 6/2009 vừa qua đã đề nghị tăng 40.000 quân để ổn định tình hình. Tổng thống Obama và bộ tham mưu của ông còn dùng dằng chưa quyết định.
Từ cuối năm 2001 khi Hoa Kỳ khởi binh tấn công và lật đổ chế độ Taliban của Mullah Omar tại Afghanistan để trả thù vụ Afghanistan dung dưỡng Osama bin Lađen lãnh tụ của al Qaeda tổ chức đánh khủng bố Hoa Kỳ giết chết gần 5000 người Mỹ ngày 11 tháng 9 năm 2001, với sự đồng thuận của Liên hiệp quốc, sự tham dự của lực lượng NATO và với sự ủng hộ nồng nhiệt của nhân dân Hoa Kỳ, cuộc chiến Afghanistan được chính phủ Hoa Kỳ xem là một cuộc chiến vì chính nghĩa và sự thắng lợi chỉ là vấn đề thời gian. Thắng lợi đây có nghĩa là dẹp tan lực lượng Talaban, giết chết hoặc bắt sống để truy tố ra tòa lãnh tụ Taliban Mullah Omar và lãnh tụ Al Qaeda Osama bin Laden.
Sau khi ổn định tình hình Hoa Kỳ chỉ duy trì tại đó 47.000  quân nhân để hoàn thành công tác. Sau đó, năm 2003, Hoa Kỳ chuyển toàn bộ sức mạnh quân sự đánh Iraq.
Chiến tranh bộc phát dữ dội tại Iraq trong những năm 2003 – 2007. Nhưng nhóm khủng bố Hồi giáo Al Qaeda và lực lượng Sunni chống Mỹ tại Iraq đã cố ý giảm mức độ chiến tranh tại đó từ năm 2007 sau khi tổng thống Bush quyết định tăng 20.000 quân (gọi là surge) vào số hơn 140.000 quân đang chiến đầu tại đó. Kết quả là, mức độ chiến tranh tại Iraq giảm trong suốt năm 2008. Điều này đã giúp cho ứng cử viên Barack Obama đưa ra sách lược rút quân tại Iraq để tăng cường cho chiến trường Afghanistan.
Ông Obama đắc cử tổng thống cuối năm 2008. Ông đẩy mạnh sự giải kết chiến tranh Iraq để đưa Hoa Kỳ ra khỏi khó khăn vì cuộc chiến ở đó làm tiêu hao sinh mạng của binh sĩ và tài sản của quốc gia và làm giảm uy tín của Hoa Kỳ. Cuộc chiến Iraq không được quốc tế công nhận và lý do Hoa Kỳ dùng để đơn phương quyết định tấn công lật đổ Saddam Hussein là Iraq có vũ khí giết người tập thể (vũ khí nguyên tử và hoá học) có thể giúp Al Qaeda tấn công Hoa Kỳ tỏ ra không ổn. Sau khi quân đội Hoa Kỳ chiếm đóng Iraq thế giới nhận ra rằng lý do Iraq có vũ khí giết người tập thể là lý do ngụy tạo.
Nhưng tổng thống Obama cũng cần một chiến trường. Và ông đã đầu tư vốn liếng chính trị vào cuộc chiến tranh Afghanistan, một cuộc chiến ông coi là cần thiết cho an ninh của Hoa Kỳ và làm hài lòng thành phần cực hữu tại Hoa Kỳ.
Khi tổng thống Obama miêu tả cuộc chiến Afghanistan là một cuộc chiến cần thiết người ta không biết trong thâm tâm ông có nghĩ vậy không hay chỉ là một nhu cầu chính trị. Nhưng vì lý do gì thì tổng thống Obama cũng ở về phiá có lý vì được nhân dân Mỹ ủng hộ. Hành động đầu tiên của ông Obama là tăng 21.000 quân cho chiến trường Afghanistan nâng tổng số binh sĩ Hoa Kỳ lên 68.000 người,
Nhưng sự việc không diễn ra như dự tính của ông. Chiến trường Afghanistan trở nên sôi động sau khi ông nhậm chức, gây nhiều tổn thất cho quân đội Hoa Kỳ, nhất là trong hai tháng 6 & 7 năm 2009 sau khi tướng McChrystal nhận nhiệm vụ chỉ huy quân đội  Hoa Kỳ và lực lượng NATO tại Afghanistan.
Tướng McChrystal xin tăng quân, trong khi các nước trong khối NATO bắt đầu chán cuộc chiến Afghanistan và không muốn gởi thêm quân. Quan trọng hơn nữa là nhân dân Hoa Kỳ bắt  đầu mất phấn khởi với cuộc chiến dai dẵng làm tiêu hao năng lực của Hoa Kỳ mà không có gì chứng tỏ sự hy sinh binh sĩ ở đó làm cho Hoa Kỳ trở nên được an ninh hơn. Bức tranh đó làm cho tổng thống Obama dùng dằng không thể quyết định nhanh chóng trước yêu cầu xin tăng viện của tướng McChrystal .
Sự dùng dằng của chính quyền Hoa Kỳ đối với Afghanistan hiện nay không khác gì sự ưu tư của Hoa Kỳ vào đầu năm 1963 đối với cuộc chiến Việt Nam sau trận Ấp Bắc (TBN: trận Ấp Bắc ngày 2/1/1963 trong đồng bằng sông Cửu Long cách Sài gòn 50 km. Lần đầu tiên quân đội cộng sản trực diện đối đầu và đánh bại một lực lượng quân đội VNCH quân số gấp 6 lần được yểm trợ bởi trực thăng Hoa Kỳ, bắn rơi 5 trực thăng và gây tổn thất cho 11 trực thăng khác – theo The Vietnam War, Bernard C. Nalty)
Lúc này tổng thống Obama không thể có một quyết định dứt khoát mà chỉ có thể phải quyết định theo nhu cầu chính trị (TBN: nhu cầu chính trị không nhất thiết đồng nghĩa với quyền lợi của Hoa Kỳ) nghĩa là có thể cứ thêm quân … thêm quân như chính phủ Hoa Kỳ đã làm đối với cuộc chiến tranh Việt Nam.
Hai cuộc chiến Việt Nam và Afghanistan khởi đầu bởi những lý do rất khác nhau, nhưng diễn tiến giống nhau.
Chiến tranh Việt Nam bắt đầu dưới chính quyền Eishenower với mục tiêu ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại Á châu, một mặt trận chung với mặt trận chận đứng bức màn sắt của Liên bang Xô viết tại Âu châu. Sách lược của Hoa Kỳ là ủng hộ một chính quyền thân Hoa Kỳ tại Sài gòn đủ mạnh để chống lại cuộc xâm lăng của Hà Nội và sẵn sang đưa quân vào can thiệp nếu chính quyền Sài gòn không thể tự đứng vững. Nhân dân Hoa Kỳ ủng hộ chính sách này.
Trước đó sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Âu châu đã mang đến thắng lợi và nâng uy tín của Hoa Kỳ trên thế giới nên đối với nhân dân Hoa Kỳ sự can thiệp vào Việt Nam chỉ là sự nối dài của một chính sách thành công.
Năm 1960 sau khi đắc cử, tổng thống Kennedy đã có ý muốn xuống thang cuộc chiến Việt Nam, nhưng hướng này đã được đổi chiều từ cuối năm 1963 sau khi ông bị ám sát chết. Tổng thống Johnson lên thay, ông McNamara tiếp tục làm bộ trưởng bộ quốc phòng và cuộc chiến leo thang. Cho đến năm 1968, trước sự thất bại không thể tránh được Hoa Kỳ mới tìm đường thương thuyết để rút ra khi Việt Nam với tất cả thiệt thòi về phiá Hoa Kỳ cũng như của đồng minh Nam Việt.
Cuộc chiến Afghanistan cũng bắt đầu một cách tự nhiên như việc cần tới phải tới. Nhóm khủng bố Al Qaeda đã dùng đất Afghanistan để huấn luyên nhân sự và tổ chức cuộc tấn công Hoa Kỳ ngày 11/9/2001. Hoa Kỳ tấn công Afghanistan với mục đích phá tan sào huyệt của khủng bố và thành lập ở đó một chính phủ thân Hoa Kỳ. Nhân dân Mỹ ủng hộ cuộc chiến tranh, với sự đồng thuận của thế giới vì đó là một cuộc chiến tranh tự vệ chính đáng của Hoa Kỳ.


Tổng thống Obama thay thế tổng thống Bush đầu năm 2009 và chính sách của ông theo đúng ý muốn của nhân dân là xuống thang chiến tranh Iraq và vạch một chiến lược để thắng tại Afghanistan.
Ông tăng quân tại Afghanistan. Nhưng đợt tăng quân chưa hoàn tất Hoa Kỳ đã đứng trước một thực tế là quân Taliban chấp nhận tổn thất tung tất cả sức mạnh vào cuộc chiến và Hoa Kỳ bị du vào thế bị động. Quân đội Hoa Kỳ và lực lượng NATO ở Afghanistan cảm thấy bị đe doạ và chính quyền của tổng thống Karzai có khả năng bị lật đổ. Tướng Stanley McChrystal không thấy một lối nào trước mắt là xin thêm quân. Ông xin thêm 40.000 quân.
Tướng ở chiến trường xin thêm quân là một việc tự nhiên. Năm 1968 tại Việt Nam sau trận tấn công Mậu Thân tướng Westmoreland cũng xin thêm quân.
Chỉ khác ở chỗ hai cuộc chiến tranh ở hai khúc quanh khác nhau nên quyết định của Washington cũng khác nhau. Năm 1968 tổng thống Johnson đã bác bỏ sự xin thêm quân của tướng Westmoreland với sự đồng thuận của các cố vấn thân cận,  của quốc hội và của nhân dân Hoa Kỳ đã chán ngấy chiến tranh.
Tổng thống Obama ở vào một hoàn cảnh khác. Trong thâm tâm có thể ông Obama cũng cảm thấy đưa thêm quân vào Afghanistan là một con đường có nhiều bấc trắc, nhưng ông không thể không gởi thêm quân theo đòi hỏi. Tổng thống Obama không có những lợi thế của tổng thống Johnson năm 1968. Lời tuyên bố của ông trong thời gian tranh cử tổng thống rằng cuộc chiến tranh Afghanistan là một cuộc chiến cần thiết và chính nghĩa còn văng vẵng bên tai, và sau khi đắc cử ông đã gởi thêm 21.000 sang Afghanistan như một cam kết sẽ chiến thắng vẻ vang tại đó. Quan trọng hơn nữa là thành phần cực hữu và những thế lực trong kỹ nghệ quốc phòng vẫn còn thấy chiến tranh là một chính sách cần thiết cho an ninh của Hoa Kỳ. Nói cách khác tổng thống Obama nếu muốn gạt bỏ đề nghị tăng 40.000 quân của tướng Stanley McChrystal cũng không được. Quyết định này sẽ ảnh hưởng lớn lao đến sinh mệnh chính trị của ông.
Tăng quân rồi sao nữa " Và ở  đây các diễn biến cho thấy hai cuộc chiến tranh Việt Nam và Afghanistan giống nhau như hai giọt nước.
Bắc việt đã dùng đất Lào và Cambốt để huấn luyện và dưỡng quân, đã dùng đường Lào và Cambốt để xâm nhập người và vũ khí vào miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ đã không thể gởi quân qua chiếm đóng Lào và Cambốt để triệt con đường tiếp vận huyết mạch của Bắc việt. Tại Afghanistan quân Taliban đã dùng Pakistan và vùng núi hiểm trở giữa hai nước để huấn luyện và tiếp vận, và Hoa Kỳ cũng không thể đánh vào Pakistan (một đồng minh) để cắt đường của Taliban. Trong cả hai chiến trường Hoa Kỳ áp dụng chiến thuật lập những trại quân đặc biệt để ngăn chận. Nhưng sự ngăn chận này làm cho quân đội Hoa Kỳ tiêu hao mà vẫn không hữu hiệụ và cuối cùng quân đội phải rút đi .
Tại Việt Nam những trại đặc biệt của Hoa Kỳ dọc biên giới Lào Việt dần dần được gỡ bỏ trước áp lực của quân đội Bắc Việt và căn cứ cuối cùng là căn cứ Khâm Đức (trong tỉnh Quảng Nam) được hủy bỏ năm 1970 sau khi rút lui với nhiều tổn thất. Tại Afghanistan những cuộc tấn công mùa Hè năm 2009 trong vùng Wana phía Nam tỉnh Waziristan nơi biên giới Afghanistan – Pakistan đã làm cho quân đội Hoa Kỳ quyết định phải bỏ vùng biên giới để giảm tổn thất. Tại Việt Nam cũng như tại Afghanistan Hoa Kỳ đều nói đến lúc phải bỏ vùng núi non hiểm trở và dồn lực lượng bảo vệ khu đông dân cư.
Một sự rút quân tại Afghanistan lúc này có nhất thiết là một sự thất bại của Hoa Kỳ không"
Không nhất thiết là vậy.
Nhìn lại, khi Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam, Hoa Kỳ mất uy tín trên thế giới, ảnh hưởng Hoa Kỳ giảm sút tại Á châu, nhưng làn sóng cộng sản không tràn ngập Đông Nam Á châu. Cuộc tranh gianh ảnh hưởng giữa Trung quốc và Liên bang Xô viết tạm thời tạo ổn định trong vùng Tây Thái Bình Dương và 20 năm sau (1995) khi Hoa Kỳ và Việt Nam tái thiết lập bang giao, ảnh hưởng của Hoa Kỳ lại thấp thoáng xuất hiện tại Đông Nam Á. Việt Nam đã đón tiếp tổng thống Clinton năm 2000 một cách nồng nhiệt tưởng chừng như Việt Nam và Hoa Kỳ chưa bao giờ là kẻ thù của nhau. Lịch sử chứng tỏ rằng hậu quả của việc Hoa Kỳ rút ra khỏi Việt Nam- dù là một cuộc rút lui không mấy đẹp mắt – đã không đến nổi tệ hại lắm.
Bước ngập ngừng của cuộc chiến tranh Afghanistan hiện nay là bức tranh của cuộc chiến tranh Việt Nam vào năm 1965, 1966. Tăng quân nhưng không hy vọng thắng. Tăng quân để có thể an toàn rút quân.
Tại Afghanistan vào thời điểm tăng quân này đã có gần 1000 quân nhân tử trận. Sẽ còn bao nhiêu binh sĩ nữa bỏ mình khi Hoa Kỳ thực sự rút ra khỏi Afghanistan.
Có cách gì tránh khỏi sự tổn thất nhân mạng tại Afghanistan không" Thực tế chính trị tại Hoa Kỳ không cho phép tổng thống Obama chọn lựa một giải pháp dứt khoát như vậy. Chiến tranh Afghanistan sẽ có thể còn dằng dai năm bảy nữa trước khi quốc hội, các cố vấn dân sự trong tòa Bạch Cung và các khối quyền lợi đồng thuận chấm dứt chiến tranh.
Afghanistan có trở thành căn cứ huấn luyện của al Qaeda để lại đánh Hoa Kỳ không"
Taliban nếu trở lại cầm quyền họ cũng có đủ thông minh để biết họ không thể dung túng Al Quada như họ đã dung túng trước năm 2001. Hoa Kỳ có thể dùng không lực để phá hủy những gì trên đất Afghanistan có thể gây thiệt hại cho Hoa Kỳ. Và tiếp tục hành động như vậy khi cần thiết. Những cuộc tấn công như vậy ít tốn kém, ít thiệt hại sinh mạng và quan trọng hơn cả là sẽ được nhân dân Hoa Kỳ ủng hộ. Người Mỹ thích những hành động trả đũa đột xuất, nhưng ít kiên nhẫn nhìn một cuộc chiến trường kỳ không có giải pháp cuối đường hầm. Và thế giới (có thể ngoại trừ Trung quốc và Liên bang Nga) không có lý do gì để than phiền.
Nếu có một bài học về chiến tranh Việt Nam áp dụng cho chiến tranh Afghanistan thì đó là Hoa Kỳ nên tìm cách chấm dứt càng sớm càng tốt trước khi hy sinh thêm bao nhiêu sinh mạng nữa một cách vô ích. Nhưng điều đó đòi hỏi một nhà lãnh đạo có đủ tâm đủ trí và nhất là đủ tầm vóc để làm mà không tạo ra xáo trộn chính trị tại Hoa Kỳ.
Tổng thống Obama có thể đủ tâm đủ trí nhưng ông không đủ tầm vóc để lấy một quyết định như vậy. Và sẽ còn nhiều thanh niên Mỹ chết trên chiến trường Afghanistan trước khi chấm dứt.
“Nhất tướng công thành vạn cốt khô” Điều bi thảm ở đây là có vạn cốt khô nhưng không có tướng công thành.
Nov. 22, 2009
binhnam@sbcglobal.net
www.tranbinhnam.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.