Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Afghanistan Và Việt Nam

23/11/200900:00:00(Xem: 7082)

Afghanistan và Việt Nam

Trần Bình Nam
Hiện nay chính phủ Hoa Kỳ đang thảo luận hướng giải quyết cuộc chiến Afghanistan. Tướng tư lệnh chiến trường Afghanistan Stanley McChrystal nhậm chức trong tháng 6/2009 vừa qua đã đề nghị tăng 40.000 quân để ổn định tình hình. Tổng thống Obama và bộ tham mưu của ông còn dùng dằng chưa quyết định.
Từ cuối năm 2001 khi Hoa Kỳ khởi binh tấn công và lật đổ chế độ Taliban của Mullah Omar tại Afghanistan để trả thù vụ Afghanistan dung dưỡng Osama bin Lađen lãnh tụ của al Qaeda tổ chức đánh khủng bố Hoa Kỳ giết chết gần 5000 người Mỹ ngày 11 tháng 9 năm 2001, với sự đồng thuận của Liên hiệp quốc, sự tham dự của lực lượng NATO và với sự ủng hộ nồng nhiệt của nhân dân Hoa Kỳ, cuộc chiến Afghanistan được chính phủ Hoa Kỳ xem là một cuộc chiến vì chính nghĩa và sự thắng lợi chỉ là vấn đề thời gian. Thắng lợi đây có nghĩa là dẹp tan lực lượng Talaban, giết chết hoặc bắt sống để truy tố ra tòa lãnh tụ Taliban Mullah Omar và lãnh tụ Al Qaeda Osama bin Laden.
Sau khi ổn định tình hình Hoa Kỳ chỉ duy trì tại đó 47.000  quân nhân để hoàn thành công tác. Sau đó, năm 2003, Hoa Kỳ chuyển toàn bộ sức mạnh quân sự đánh Iraq.
Chiến tranh bộc phát dữ dội tại Iraq trong những năm 2003 – 2007. Nhưng nhóm khủng bố Hồi giáo Al Qaeda và lực lượng Sunni chống Mỹ tại Iraq đã cố ý giảm mức độ chiến tranh tại đó từ năm 2007 sau khi tổng thống Bush quyết định tăng 20.000 quân (gọi là surge) vào số hơn 140.000 quân đang chiến đầu tại đó. Kết quả là, mức độ chiến tranh tại Iraq giảm trong suốt năm 2008. Điều này đã giúp cho ứng cử viên Barack Obama đưa ra sách lược rút quân tại Iraq để tăng cường cho chiến trường Afghanistan.
Ông Obama đắc cử tổng thống cuối năm 2008. Ông đẩy mạnh sự giải kết chiến tranh Iraq để đưa Hoa Kỳ ra khỏi khó khăn vì cuộc chiến ở đó làm tiêu hao sinh mạng của binh sĩ và tài sản của quốc gia và làm giảm uy tín của Hoa Kỳ. Cuộc chiến Iraq không được quốc tế công nhận và lý do Hoa Kỳ dùng để đơn phương quyết định tấn công lật đổ Saddam Hussein là Iraq có vũ khí giết người tập thể (vũ khí nguyên tử và hoá học) có thể giúp Al Qaeda tấn công Hoa Kỳ tỏ ra không ổn. Sau khi quân đội Hoa Kỳ chiếm đóng Iraq thế giới nhận ra rằng lý do Iraq có vũ khí giết người tập thể là lý do ngụy tạo.
Nhưng tổng thống Obama cũng cần một chiến trường. Và ông đã đầu tư vốn liếng chính trị vào cuộc chiến tranh Afghanistan, một cuộc chiến ông coi là cần thiết cho an ninh của Hoa Kỳ và làm hài lòng thành phần cực hữu tại Hoa Kỳ.
Khi tổng thống Obama miêu tả cuộc chiến Afghanistan là một cuộc chiến cần thiết người ta không biết trong thâm tâm ông có nghĩ vậy không hay chỉ là một nhu cầu chính trị. Nhưng vì lý do gì thì tổng thống Obama cũng ở về phiá có lý vì được nhân dân Mỹ ủng hộ. Hành động đầu tiên của ông Obama là tăng 21.000 quân cho chiến trường Afghanistan nâng tổng số binh sĩ Hoa Kỳ lên 68.000 người,
Nhưng sự việc không diễn ra như dự tính của ông. Chiến trường Afghanistan trở nên sôi động sau khi ông nhậm chức, gây nhiều tổn thất cho quân đội Hoa Kỳ, nhất là trong hai tháng 6 & 7 năm 2009 sau khi tướng McChrystal nhận nhiệm vụ chỉ huy quân đội  Hoa Kỳ và lực lượng NATO tại Afghanistan.
Tướng McChrystal xin tăng quân, trong khi các nước trong khối NATO bắt đầu chán cuộc chiến Afghanistan và không muốn gởi thêm quân. Quan trọng hơn nữa là nhân dân Hoa Kỳ bắt  đầu mất phấn khởi với cuộc chiến dai dẵng làm tiêu hao năng lực của Hoa Kỳ mà không có gì chứng tỏ sự hy sinh binh sĩ ở đó làm cho Hoa Kỳ trở nên được an ninh hơn. Bức tranh đó làm cho tổng thống Obama dùng dằng không thể quyết định nhanh chóng trước yêu cầu xin tăng viện của tướng McChrystal .
Sự dùng dằng của chính quyền Hoa Kỳ đối với Afghanistan hiện nay không khác gì sự ưu tư của Hoa Kỳ vào đầu năm 1963 đối với cuộc chiến Việt Nam sau trận Ấp Bắc (TBN: trận Ấp Bắc ngày 2/1/1963 trong đồng bằng sông Cửu Long cách Sài gòn 50 km. Lần đầu tiên quân đội cộng sản trực diện đối đầu và đánh bại một lực lượng quân đội VNCH quân số gấp 6 lần được yểm trợ bởi trực thăng Hoa Kỳ, bắn rơi 5 trực thăng và gây tổn thất cho 11 trực thăng khác – theo The Vietnam War, Bernard C. Nalty)
Lúc này tổng thống Obama không thể có một quyết định dứt khoát mà chỉ có thể phải quyết định theo nhu cầu chính trị (TBN: nhu cầu chính trị không nhất thiết đồng nghĩa với quyền lợi của Hoa Kỳ) nghĩa là có thể cứ thêm quân … thêm quân như chính phủ Hoa Kỳ đã làm đối với cuộc chiến tranh Việt Nam.
Hai cuộc chiến Việt Nam và Afghanistan khởi đầu bởi những lý do rất khác nhau, nhưng diễn tiến giống nhau.
Chiến tranh Việt Nam bắt đầu dưới chính quyền Eishenower với mục tiêu ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại Á châu, một mặt trận chung với mặt trận chận đứng bức màn sắt của Liên bang Xô viết tại Âu châu. Sách lược của Hoa Kỳ là ủng hộ một chính quyền thân Hoa Kỳ tại Sài gòn đủ mạnh để chống lại cuộc xâm lăng của Hà Nội và sẵn sang đưa quân vào can thiệp nếu chính quyền Sài gòn không thể tự đứng vững. Nhân dân Hoa Kỳ ủng hộ chính sách này.
Trước đó sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Âu châu đã mang đến thắng lợi và nâng uy tín của Hoa Kỳ trên thế giới nên đối với nhân dân Hoa Kỳ sự can thiệp vào Việt Nam chỉ là sự nối dài của một chính sách thành công.
Năm 1960 sau khi đắc cử, tổng thống Kennedy đã có ý muốn xuống thang cuộc chiến Việt Nam, nhưng hướng này đã được đổi chiều từ cuối năm 1963 sau khi ông bị ám sát chết. Tổng thống Johnson lên thay, ông McNamara tiếp tục làm bộ trưởng bộ quốc phòng và cuộc chiến leo thang. Cho đến năm 1968, trước sự thất bại không thể tránh được Hoa Kỳ mới tìm đường thương thuyết để rút ra khi Việt Nam với tất cả thiệt thòi về phiá Hoa Kỳ cũng như của đồng minh Nam Việt.
Cuộc chiến Afghanistan cũng bắt đầu một cách tự nhiên như việc cần tới phải tới. Nhóm khủng bố Al Qaeda đã dùng đất Afghanistan để huấn luyên nhân sự và tổ chức cuộc tấn công Hoa Kỳ ngày 11/9/2001. Hoa Kỳ tấn công Afghanistan với mục đích phá tan sào huyệt của khủng bố và thành lập ở đó một chính phủ thân Hoa Kỳ. Nhân dân Mỹ ủng hộ cuộc chiến tranh, với sự đồng thuận của thế giới vì đó là một cuộc chiến tranh tự vệ chính đáng của Hoa Kỳ.


Tổng thống Obama thay thế tổng thống Bush đầu năm 2009 và chính sách của ông theo đúng ý muốn của nhân dân là xuống thang chiến tranh Iraq và vạch một chiến lược để thắng tại Afghanistan.
Ông tăng quân tại Afghanistan. Nhưng đợt tăng quân chưa hoàn tất Hoa Kỳ đã đứng trước một thực tế là quân Taliban chấp nhận tổn thất tung tất cả sức mạnh vào cuộc chiến và Hoa Kỳ bị du vào thế bị động. Quân đội Hoa Kỳ và lực lượng NATO ở Afghanistan cảm thấy bị đe doạ và chính quyền của tổng thống Karzai có khả năng bị lật đổ. Tướng Stanley McChrystal không thấy một lối nào trước mắt là xin thêm quân. Ông xin thêm 40.000 quân.
Tướng ở chiến trường xin thêm quân là một việc tự nhiên. Năm 1968 tại Việt Nam sau trận tấn công Mậu Thân tướng Westmoreland cũng xin thêm quân.
Chỉ khác ở chỗ hai cuộc chiến tranh ở hai khúc quanh khác nhau nên quyết định của Washington cũng khác nhau. Năm 1968 tổng thống Johnson đã bác bỏ sự xin thêm quân của tướng Westmoreland với sự đồng thuận của các cố vấn thân cận,  của quốc hội và của nhân dân Hoa Kỳ đã chán ngấy chiến tranh.
Tổng thống Obama ở vào một hoàn cảnh khác. Trong thâm tâm có thể ông Obama cũng cảm thấy đưa thêm quân vào Afghanistan là một con đường có nhiều bấc trắc, nhưng ông không thể không gởi thêm quân theo đòi hỏi. Tổng thống Obama không có những lợi thế của tổng thống Johnson năm 1968. Lời tuyên bố của ông trong thời gian tranh cử tổng thống rằng cuộc chiến tranh Afghanistan là một cuộc chiến cần thiết và chính nghĩa còn văng vẵng bên tai, và sau khi đắc cử ông đã gởi thêm 21.000 sang Afghanistan như một cam kết sẽ chiến thắng vẻ vang tại đó. Quan trọng hơn nữa là thành phần cực hữu và những thế lực trong kỹ nghệ quốc phòng vẫn còn thấy chiến tranh là một chính sách cần thiết cho an ninh của Hoa Kỳ. Nói cách khác tổng thống Obama nếu muốn gạt bỏ đề nghị tăng 40.000 quân của tướng Stanley McChrystal cũng không được. Quyết định này sẽ ảnh hưởng lớn lao đến sinh mệnh chính trị của ông.
Tăng quân rồi sao nữa " Và ở  đây các diễn biến cho thấy hai cuộc chiến tranh Việt Nam và Afghanistan giống nhau như hai giọt nước.
Bắc việt đã dùng đất Lào và Cambốt để huấn luyện và dưỡng quân, đã dùng đường Lào và Cambốt để xâm nhập người và vũ khí vào miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ đã không thể gởi quân qua chiếm đóng Lào và Cambốt để triệt con đường tiếp vận huyết mạch của Bắc việt. Tại Afghanistan quân Taliban đã dùng Pakistan và vùng núi hiểm trở giữa hai nước để huấn luyện và tiếp vận, và Hoa Kỳ cũng không thể đánh vào Pakistan (một đồng minh) để cắt đường của Taliban. Trong cả hai chiến trường Hoa Kỳ áp dụng chiến thuật lập những trại quân đặc biệt để ngăn chận. Nhưng sự ngăn chận này làm cho quân đội Hoa Kỳ tiêu hao mà vẫn không hữu hiệụ và cuối cùng quân đội phải rút đi .
Tại Việt Nam những trại đặc biệt của Hoa Kỳ dọc biên giới Lào Việt dần dần được gỡ bỏ trước áp lực của quân đội Bắc Việt và căn cứ cuối cùng là căn cứ Khâm Đức (trong tỉnh Quảng Nam) được hủy bỏ năm 1970 sau khi rút lui với nhiều tổn thất. Tại Afghanistan những cuộc tấn công mùa Hè năm 2009 trong vùng Wana phía Nam tỉnh Waziristan nơi biên giới Afghanistan – Pakistan đã làm cho quân đội Hoa Kỳ quyết định phải bỏ vùng biên giới để giảm tổn thất. Tại Việt Nam cũng như tại Afghanistan Hoa Kỳ đều nói đến lúc phải bỏ vùng núi non hiểm trở và dồn lực lượng bảo vệ khu đông dân cư.
Một sự rút quân tại Afghanistan lúc này có nhất thiết là một sự thất bại của Hoa Kỳ không"
Không nhất thiết là vậy.
Nhìn lại, khi Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam, Hoa Kỳ mất uy tín trên thế giới, ảnh hưởng Hoa Kỳ giảm sút tại Á châu, nhưng làn sóng cộng sản không tràn ngập Đông Nam Á châu. Cuộc tranh gianh ảnh hưởng giữa Trung quốc và Liên bang Xô viết tạm thời tạo ổn định trong vùng Tây Thái Bình Dương và 20 năm sau (1995) khi Hoa Kỳ và Việt Nam tái thiết lập bang giao, ảnh hưởng của Hoa Kỳ lại thấp thoáng xuất hiện tại Đông Nam Á. Việt Nam đã đón tiếp tổng thống Clinton năm 2000 một cách nồng nhiệt tưởng chừng như Việt Nam và Hoa Kỳ chưa bao giờ là kẻ thù của nhau. Lịch sử chứng tỏ rằng hậu quả của việc Hoa Kỳ rút ra khỏi Việt Nam- dù là một cuộc rút lui không mấy đẹp mắt – đã không đến nổi tệ hại lắm.
Bước ngập ngừng của cuộc chiến tranh Afghanistan hiện nay là bức tranh của cuộc chiến tranh Việt Nam vào năm 1965, 1966. Tăng quân nhưng không hy vọng thắng. Tăng quân để có thể an toàn rút quân.
Tại Afghanistan vào thời điểm tăng quân này đã có gần 1000 quân nhân tử trận. Sẽ còn bao nhiêu binh sĩ nữa bỏ mình khi Hoa Kỳ thực sự rút ra khỏi Afghanistan.
Có cách gì tránh khỏi sự tổn thất nhân mạng tại Afghanistan không" Thực tế chính trị tại Hoa Kỳ không cho phép tổng thống Obama chọn lựa một giải pháp dứt khoát như vậy. Chiến tranh Afghanistan sẽ có thể còn dằng dai năm bảy nữa trước khi quốc hội, các cố vấn dân sự trong tòa Bạch Cung và các khối quyền lợi đồng thuận chấm dứt chiến tranh.
Afghanistan có trở thành căn cứ huấn luyện của al Qaeda để lại đánh Hoa Kỳ không"
Taliban nếu trở lại cầm quyền họ cũng có đủ thông minh để biết họ không thể dung túng Al Quada như họ đã dung túng trước năm 2001. Hoa Kỳ có thể dùng không lực để phá hủy những gì trên đất Afghanistan có thể gây thiệt hại cho Hoa Kỳ. Và tiếp tục hành động như vậy khi cần thiết. Những cuộc tấn công như vậy ít tốn kém, ít thiệt hại sinh mạng và quan trọng hơn cả là sẽ được nhân dân Hoa Kỳ ủng hộ. Người Mỹ thích những hành động trả đũa đột xuất, nhưng ít kiên nhẫn nhìn một cuộc chiến trường kỳ không có giải pháp cuối đường hầm. Và thế giới (có thể ngoại trừ Trung quốc và Liên bang Nga) không có lý do gì để than phiền.
Nếu có một bài học về chiến tranh Việt Nam áp dụng cho chiến tranh Afghanistan thì đó là Hoa Kỳ nên tìm cách chấm dứt càng sớm càng tốt trước khi hy sinh thêm bao nhiêu sinh mạng nữa một cách vô ích. Nhưng điều đó đòi hỏi một nhà lãnh đạo có đủ tâm đủ trí và nhất là đủ tầm vóc để làm mà không tạo ra xáo trộn chính trị tại Hoa Kỳ.
Tổng thống Obama có thể đủ tâm đủ trí nhưng ông không đủ tầm vóc để lấy một quyết định như vậy. Và sẽ còn nhiều thanh niên Mỹ chết trên chiến trường Afghanistan trước khi chấm dứt.
“Nhất tướng công thành vạn cốt khô” Điều bi thảm ở đây là có vạn cốt khô nhưng không có tướng công thành.
Nov. 22, 2009
binhnam@sbcglobal.net
www.tranbinhnam.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.