Hôm nay,  

Những Mảng Tường Bá Linh Ở Mỹ

14/11/200900:00:00(Xem: 5412)

Những Mảng Tường Bá Linh Ở Mỹ

Bùi Văn Phú
9 tháng 11 vừa qua kỉ niệm 20 năm ngày Tường Bá Linh đổ. Người dân châu Âu còn ghi mãi dấu ấn lịch sử này.
Ngày đó của hai mươi năm về trước không in đậm trong kí ức của tôi vì cư dân vùng Vịnh San Francisco đang có nhiều chuyện khác cần quan tâm hơn là những biến cố bên ngoài nước Mỹ. Báo, đài có đưa tin nhanh với hình ảnh phá Tường Bá Linh. Còn phần lớn những thông tin khác liên quan đến việc tái thiết vùng Vịnh sau cơn động đất mạnh xảy ra ba tuần trước đó, vào lúc 5 giờ chiều ngày 17.10 khiến xa lộ sập, đường xá hư hại, nhà cháy, người chết. Cầu Bay Bridge nối liền Oakland và San Francisco sập một khoang dài 50 mét. Xa lộ 880 khúc hai tầng ở Oakland đổ chồng lên nhau, đè bẹp nhiều xe với tiếng người kêu than cầu cứu trong những đống bê tông nặng hàng nghìn tấn.
Cả nước Mỹ hướng về vùng Vịnh San Francisco trong nhiều tuần lễ. Cho đến khi cầu được sửa xong.
Tổng kết số người thiệt mạng tuy nhỏ, hơn 60 người, nhưng thiệt hại tài sản lên đến nhiều tỉ đô la. Trong một tháng hơn tin tức vùng Vịnh đa số là về tái thiết và việc hàn gắn vết thương tinh thần do cơn chấn động gây nên.
Những tháng trước cơn động đất, truyền thông Mỹ có đưa tin về biến động ở Đông Âu nhưng dư luận quần chúng đang chú ý đến cuộc điều tra Iran-Contra liên quan đến quan chức chính quyền Ronald Reagan, mới hết nhiệm kì, đã bán vũ khí cho Iran để lấy tiền yểm trợ các phong trào chống cộng sản ở châu Mỹ La-tinh. Nhiều nhân vật trong ban cố vấn an ninh quốc gia của cựu Tổng thống Reagan bị Quốc hội chất vấn, bị Bộ Tư pháp điều tra. Có quan chức toan tự tử, có người chết bất thình lình. Một số người đã bị buộc tội, bị án tù.
Điểm nóng đối ngoại lúc bấy giờ là vụ thảm sát phong trào sinh viên đòi dân chủ tại Quảng trường Thiên An Môn vào đầu tháng 6.1989. Biến cố này gây chú ý nhiều hơn là phong trào vượt biên bằng tàu hoả của người Hungari hay người dân Séc, dân Đông Đức ào ạt tràn vào sứ quán Tây Đức xin tị nạn.
*
Trong tiến trình đưa tới dân chủ ở Đông Âu, tôi cho rằng Tường đổ chỉ là một trong dãy biến cố lịch sử diễn ra tại đó trong gần mười năm, với dấu mốc quan trọng nhất là sự ra đời của Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan vào đầu thập niên 1980. Từ khi phong trào này ra đời, tôi rất ngưỡng phục người thợ điện lãnh đạo phong trào, vì thế khi ông Lech Walesa được giải Nobel Hoà bình, lúc đó tôi đang sống ở một quốc gia châu Phi hẻo lánh, tôi viết thư chúc mừng và có nhận được hồi đáp.
Cuộc tranh đấu của công nhân Ba Lan dù bị đe dọa bởi xe tăng và Hồng quân Liên Xô, dù nhiều lãnh đạo công đoàn đã bị bỏ tù bởi chính quyền cộng sản Ba Lan, nhưng cuối cùng Ba Lan là nước cộng sản Đông Âu đầu tiên thoát khỏi chế độ cộng sản.
Công đoàn là khởi đầu. Tường đổ là kết thúc một chuỗi biến cố làm thay đổi Đông Âu.
Điểm này được nhấn mạnh trong lễ kỉ niệm 20 Tường đổ ở Bá Linh với sự tham dự của các lãnh đạo châu Âu và cựu Tổng thống Ba Lan Lech Walesa đã được mời đánh đổ con đô-mi-nô đầu tiên.


Về yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến Ba Lan nói riêng và Đông Âu nói chung, nhiều sử gia cho rằng Tổng thống Ronald Reagan, cùng với Giáo hoàng gốc Ba Lan là Gioan-Phaolô II, đã có ảnh hưởng lớn với phong trào tranh đấu cho dân chủ ở Ba Lan, từ đó kéo theo làn sóng dân chủ đến những quốc gia Đông Âu khác. Ảnh hưởng của Reagan nhiều hay ít thì tùy theo cách nhìn, nhưng quan hệ giữa Tổng thống Mỹ Ronald Reagan và Tổng Bí thư Liên Xô Mikhail Gorbachev đã là chất xúc tác đưa đến dân chủ cho Đông Âu vào hai thập niên trước. Hoa Kỳ đã thuyết phục được Liên Xô chấm dứt cuộc chạy đua vũ khí chiến lược và từ bỏ ảnh hưởng quân sự ở Đông Âu để nhắm vào cải cách nền kinh tế đang suy thoái.
Lời của Tổng thống Reagan dành cho Tổng Bí thư Gorbachev: “Ông Gorbachev, hãy phá bức tường này đi” được coi như một thách đố lịch sử đã thành hiện thực. Câu nói đó nay được ghi khắc tại Bảo tàng Ronald Reagan cùng ba mảng Tường.
Tường Bá Linh được xem là biểu tượng của sự ngăn chia giữa tự do và cộng sản và các tổng thống Hoa Kỳ đều đã có chủ trương và chính sách đối đầu với cộng sản. Trong số bảo tàng của các tổng thống Mỹ thời cận đại mà tôi đã tham quan, từ Lyndon Johnson, Richard Nixon cho đến Gerald Ford, Ronald Reagan, chỉ bảo tàng viện Johnson ở Austin, Texas là không có Tường Bá Linh.
Khởi đi từ cuộc cách mạng Bôn-Sê-Vích vào năm 1917 khai sinh chế độ cộng sản tại Nga và nhiều nước sau đó. Từ đó Hoa Kỳ và Liên bang Xô Viết đã đối đầu ý thức hệ trên nhiều chiến tuyến, qua nhiều mặt trận. Thập niên 1960, Tường được dựng lên ở Bá Linh và bom đạn nổ ở Việt Nam là những cao điểm của cuộc đối đầu đó.
Năm 1976, Chiến tranh lạnh còn nóng ở nhiều mặt trận từ Angola cho đến Nicaragua và Hồng quân Liên Xô còn giàn quân ở biên giới châu Âu, nhưng trong một cuộc tranh luận tranh cử khi được hỏi về tình hình Đông Âu, Tổng thống Ford đã trả lời rằng Ba Lan không nằm trong quĩ đạo Liên bang Xô Viết. Giới quan sát chính trị tỏ ra ngạc nhiên với tầm nhìn quốc tế thiếu chính xác của một tổng thống Mỹ. Nhiều người cho rằng nhận định này của Tổng thống Ford đã góp phần vào thất bại trong việc giành chức tổng thống của ông.
Không ai có thể phủ nhận ảnh hưởng mạnh của Liên bang Xô Viết ở Đông Âu với Hồng binh và xe tăng lúc nào cũng hăm dọa sẽ tràn qua biên giới để dẹp tan các phong trào cải cách hay chống đối cộng sản, như đã xảy ra vào các năm 1956 và 1968.
Nhưng qua thập niên 1980 tình hình đã khác. Khi Tổng Bí thư Gorbachev tuyên bố để Đông Âu được tự quyết thì thành trì cộng sản sụp đổ. Người Hungari, người Séc vượt biên giới bằng xe hoả đến Áo hay chạy vào sứ quán Tây Đức. Châu Âu lên cơn sốt với làn sóng vượt biên tìm tự do để cuối cùng khi các chính phủ cộng sản không còn kiểm soát được thì bị người dân đứng lên lật đổ qua những cuộc cách mạng nhung. Khi người dân được quyền tự quyết, họ chọn tự do dân chủ.
Lúc đó Liên Xô cũng quyết định cắt viện trợ cho Việt Nam. Nhiều người chờ ngọn gió nồm tự do dân chủ từ Đông Âu sẽ thổi qua Việt Nam. Những tiếng nói cải cách chính trị đã được gióng lên - như của Trần Xuân Bách, của Phan Đình Diệu - nhưng bị dập tắt ngay vào những năm đầu thập niên 1990.
Ngày nay bức tường cộng sản ở Việt Nam với cái móng Trung Quốc vẫn còn sừng sững đứng đó. Khi tường này sụp đổ, không biết chứng tích nào sẽ được đem vào các bảo tàng để làm dấu ấn cho một sự đối đầu quá lâu trong trong lịch sử.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.