Hôm nay,  

Á Châu Bật Dậy

05/11/200900:00:00(Xem: 10758)

Á Châu Bật Dậy

Nguyễn Xuân Nghĩa & Thanh Quang RFA

...dân nghèo tại Việt Nam... đã nghèo nay lại còn khổ hơn...

Sau báo cáo được Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF công bố hôm Thứ Năm 29 tuần trước, sáng Thứ Tư mùng bốn, giờ Hà Nội, Ngân hàng Thế giới cũng phổ biến bản cập nhật về kinh tế Á châu Thái bình dương. Cả hai định chế tài chính quốc tế đều nói đến sự bật dậy đáng mừng của các nền kinh tế Á châu. Tuy nhiên, bên dưới trào lưu chung đó là nhiều khác biệt của từng nước và hai câu hỏi chung là liệu sự phục hồi ấy có bền vững không, và các nước châu Á cần cải tổ thế nào để có thể tránh một vụ suy thoái tương tự" Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu các vấn đề ấy qua cuộc trao đổi do Thanh Quang thực hiện sau đây với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa.
Thanh Quang: Xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa. Trong một tuần, hai định chế tài chính toàn cầu là Quỹ Tiền tệ Quốc tế rồi Ngân hàng Thế giới cùng đưa ra lượng định của họ về kinh tế Á châu với những dự đoán lạc quan hơn cho tình hình năm tới. Tuy nhiên, bên sau bức tranh toàn cảnh ấy là nhiều khác biệt trong từng quốc gia. Diễn đàn Kinh tế của chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về những khác biệt này, với mối quan tâm đặc biệt về trường hợp Việt Nam, Xin ông trước hết trình bày cho bối cảnh của đề tài tuần này.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói về bối cảnh thì Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF vẫn nghiên cứu triển vọng kinh tế toàn cầu và trong từng khu vực. Đầu tháng 10, báo cáo về kinh tế toàn cầu đã được họ công bố, tới cuối tháng thì có báo cáo riêng về kinh tế Á châu, bao gồm một khu vực rộng lớn và có rất nhiều khác biệt. Ngân hàng Thế giới cũng khảo sát định kỳ và mỗi sáu tháng lại cập nhật tình hình các nước và sáng Thứ Tư, giờ Á châu thì công bố kết quả khảo sát tại các nước châu Á Thái bình dương, tức là các nước Đông Á, nghĩa là không có Ấn Độ.
- Chi tiết thứ hai về bối cảnh là định nghĩa để ta biết là đang nói về đối tượng nào được khảo sát khi nói về một khu vực địa dư là Á châu. Nói chung, hai định chế này xếp loại các nền kinh tế trong khu vực theo trình độ phát triển, chủ yếu là đo lường ở lợi tức hay sức mạnh sản xuất.
Thanh Quang: Thế thưa ông, họ xếp loại như thế nào và vị trí Việt Nam nằm ở đâu"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trong khối Á châu, IMF nói tới "Á châu công nghiệp hoá" gồm ba nước Nhật, Úc và New Zealand và "Á châu đang phát triển" hay "đang lên", gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Hong Kong, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam. Trong khối đang lên ấy, họ còn phân biệt bốn xứ gọi là "tân hưng" gồm có Hong Kong, Nam Hàn, Đài Loan và Singapore với các nước còn lại, có lợi tức thấp hơn, kể cả Việt Nam.
- Phần mình, Ngân hàng Thế giới tập trung vào khối Đông Á và Thái bình dương với đôi chút khác biệt về định nghĩa. Họ xếp vào loại "Đông Á đang lên" hai nhóm quốc gia. Nhóm "đang phát triển" gồm có Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Cam Bốt, Lào, Mông Cổ, Việt Nam và một số các nền kinh tế nhỏ ở các hải đảo. Nhóm thứ hai là các nước "tân hưng" gồm có Hong Kong, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore và lại có cả Trung Quốc, là điều hơi mơ hồ. Ngân hàng Thế giới còn phân biệt nhóm quốc gia có lợi tức trung bình với các nước có lợi tức thấp. Lợi tức trung bình là các nước như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái. Còn lợi tức thấp là ba nước trên bán đảo Đông Dương là Việt Nam, Lào và Cam Bốt. Qua cách xếp loại ấy, Ngân hàng Thế giới đưa Trung Quốc vào loại "đang phát triển" mà cũng là "tân hưng" nhưng lại có lợi tức trung bình, là ba khái niệm hơi khác nhau. Theo thiển ý thì việc ấy phản ảnh sự phân vân của định chế tài trợ này mỗi khi đề cập tới Trung Quốc. Riêng về Việt Nam thì đứng hàng rất thấp về lợi tức trong cách xếp loại của cả hai định chế này.
Thanh Quang: Xin cám ơn ông về cách trình bày những định nghĩa trên vì làm nổi rõ sự khác biệt về trình độ giữa các quốc gia ở trong cùng một khu vực Á châu. Bước qua nội dung thì ông thấy thế nào về Á châu qua sự lượng định của hai tổ chức quốc tế này"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Đầu tiên và cũng về bối cảnh, ta không quên là mấy năm trước, giới kinh tế lạc quan nói đến khả năng riêng của khối Đông Á đang lên là có thể tách rời khỏi các nước đã công nghiệp hóa, gọi chung là nhóm G-7. Nghĩa là khối Đông Á có sức mạnh nội tại và không còn bị lệ thuộc vào các quốc gia Âu-Mỹ hay Nhật. Chuyện ấy không xảy ra. Đông Á vẫn bị hậu quả tai hại khi kinh tế Hoa Kỳ bị suy trầm từ cuối năm 2007 rồi khủng hoảng tài chính tại Mỹ đã bùng nổ vào tháng Chín năm ngoái và lan thành suy thoái cho cả khối G-7 rồi gây ra chấn động toàn cầu. Bối cảnh chung là thế giới bị khủng hoảng tài chính nặng nhất kể từ vụ Tổng khủng hoảng thời 1930 và kinh tế Mỹ bị trận suy thoái trầm trọng nhất kể từ năm 1982, và lâu nhất kể từ năm 1854 vì bình quân từ 155 năm nay thì kinh tế chỉ đình trệ 17 tháng là hết.
- Thế rồi, sau khi bị hiệu ứng tai hại xuất phát từ các đầu máy kinh tế mạnh nhất là Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản, các nền kinh tế Đông Á nói chung đã bật dậy rất lẹ và tương đối thì mạnh nhất trong các khối kinh tế trên thế giới. Đấy là nhận định của hai tổ chức tài chính nói trên.
Thanh Quang: Những nguyên nhân nào khiến cho khối kinh tế Đông Á này đã đụng đáy và bật dậy mau lẹ như vậy"


Nguyễn Xuân Nghĩa: - Một nguyên nhân chính được báo cáo của IMFnhắc tới là kinh nghiệm của vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á năm 1997-1998 khiến các nước trong khu vực đều cố tạo dựng quân bình vĩ mô của nền kinh tế. Đó là tránh bội chi ngân sách quá cao, có hệ thống tài chính ngân hàng lành mạnh hơn và lập một khối dự trữ ngoại tệ dồi dào, hầu có phương tiện kích thích kinh tế khi bị suy thoái. Nhờ điều kiện ấy, các nước đều có thể lập tức tung ra biện pháp kích cầu ào ạt, như tăng chi, giảm thuế, cắt lãi suất, bơm tín dụng, v.v... nên phần nào nâng cao được số cầu của thị trường nội địa để bù đắp cho thất thâu trên thị trường quốc tế.
- Cũng cần nói thêm rằng hiệu ứng của nạn suy thoái do các đầu máy kinh tế lớn gây ra cho châu Á là nạn suy sụp thị trường xuất khẩu và sự khan hiếm tư bản và tín dụng, nhưng hậu quả về độ sút giảm sản xuất thật ra vẫn còn nhẹ hơn vụ khủng hoảng Đông Á mười năm về trước. Khi các nền kinh tế Âu Mỹ đã đụng đáy và đang hồi phục, dù còn yếu ớt, thì các nước xuất khẩu của Á châu đã bật dậy sớm nhất và mạnh nhất.
Thanh Quang: Ông nói là trong khối này thì các nước xuất khẩu đã bật dậy sớm nhất, tình hình các nước kia thì sao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Đây là lúc mà mình thấy ra sự khác biệt trong cách xếp loại.
- Trên tổng thể thì cả khối Á châu đã bậy dậy và Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo tốc độ tăng trưởng bình quân cho cả khối là 5,75% vào năm tới. Nhưng, con số bình quân này che giấu một thực tế không lạc quan nếu ta không gộp chung trường hợp của Trung Quốc, Ấn Độ và Nam Hàn. Thiếu tốc độ tăng trưởng khả quan hơn của ba nước đó, tình hình Á châu còn lại thật ra vẫn đen tối.
- Riêng Ngân hàng Thế giới thì đánh giá cao thành tích kích cầu và ảnh hưởng của Trug Quốc đối với các nước Đông Á vì trở thành thị trường xuất khẩu cho các nước này. Tuy nhiên, Trung Quốc chủ yếu nhập vào nguyên vật liệu hay thương phẩm, là sở trường của một số nước nghèo trong vùng, chứ không mua các sản phẩm chế biến. Báo cáo của định chế này cũng lượng định rằng nếu không kể thêm Trung Quốc thì tình hình Đông Á vẫn chưa sáng sủa.
Thanh Quang: Nếu như vậy thì phải chăng bức tranh toàn cảnh chưa thể là màu hồng như người ta có thể lầm tưởng"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng vậy và trong khi phúc trình của Quỹ Tiền tệ Quốc tế cảnh báo các nước là phải theo dõi và duy trì các biện pháp kích cầu nếu thấy cần thiết thì Ngân hàng Thế giới cho là trong khu vực Đông Á, thì ngoài Trung Quốc và Nam Hàn ra, các nước kia vẫn chưa ra khỏi khó khẳn, kể cả trường hợp của Indonesia và Việt Nam là hai nước có đà tăng trưởng cao hơn các lân bang. Đây mới là điểm đáng chú ý nhất của hai báo cáo này. Nôm na là tình hình còn bấp bênh và khu vực này khó duy trì được một đà tăng trưởng khả quan và bền vững nếu không tiến hành một số chương trình cải cách. Ngân hàng Thế giới đặc biệt chú ý đến thành phần nghèo khổ của các quốc gia trong loại có lợi tức thấp, kể cả Việt Nam.
Thanh Quang: Ông vừa nói tới khuyến cáo của hai tổ chức này về yêu cầu tiến hành cải cách để có thể duy trì một tốc độ tăng trưởng khả quan trong lâu dài. Việc cải cách ấy gồm có những gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vì các đầu máy kinh tế của khối G-7 còn yếu với đà tăng trưởng bình quân năm tới chỉ ở khoảng 1,25%, và tiêu thụ tư nhân sẽ còn thấp, các nước Á châu sẽ phải tìm ra lực đẩy ở nơi khác. Chủ yếu là ở thị trường nội địa. Hoàn cảnh ấy khiến Á châu phải quan niệm lại cái thế quân bình của kinh tế toàn cầu, đó là các nước công nghiệp hóa sẽ tiêu thụ ít đi và phải tiết kiệm nhiều hơn. Ngược lại, các nước đang lên của Á châu phải tiêu thụ nhiều hơn thay vì chỉ nghĩ tới việc thắt lưng buộc bụng để xuất khẩu qua các thị trường Âu-Mỹ-Nhật. Lồng trong chiều hướng cải cách ấy trong lâu dài, các nước Á châu phải cân nhắc kỹ nhu cầu tiếp tục kích thích kinh tế, với một đòi hỏi trái ngược là đừng thổi bùng lạm phát và gây thêm bội chi ngân sách.
- Riêng Ngân hàng Thế giới thì nêu ra một số khuyến cáo cụ thể. Thứ nhất là mở rộng thị trường nội địa nhưng cũng nâng cao năng suất nhờ những ngành có giá trị đóng góp cao hơn, thay vì chỉ nghĩ tới xuất khẩu và cứ tập trung sản xuất loại hàng hóa có giá trị tich lũy thấp, như nguyên nhiên vật liệu hay khoáng sản. Thứ hai phải chú ý tới khu vực dịch vụ, khai thông những ách tắc trong hạ tầng cơ sở để giải quyết yêu cầu chuyển vận và phân phối trong nước. Thứ ba, cải tổ giáo dục và đào tạo để nâng cao năng suất và có một chính sách an sinh xã hội khả quan hơn hầu người dân bớt lo sợ bất trắc mà dám tiêu xài mạnh hơn, và tiết kiệm ít đi...
Thanh Quang: Riêng về trường hợp của Việt Nam thì sao" Hai định chế này nhận định thế nào"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Việt Nam đã ráo riết kích thích kinh tế với ngân khoản thực tế còn lớn hơn con số chính thức được công bố. Nhưng kết quả lại chưa sánh được với công sức vì yếu kém trong cơ chế. Việt Nam lại bị bội chi ngân sách quá cao, tới hơn 9% tổng sản lượng nội địa GDP, cho nên cần thận trọng khi tăng chi để kích cầu. Việc mở vòi tín dụng để kích cầu lại có thể gây thêm rủi ro cho hệ thống ngân hàng và còn thổi lên bong bóng đầu tư và nguy cơ lạm phát. Trong khi ấy, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam lại sút giảm vì nhập siêu quá cao, đầu tư trực tiếp và tiền trợ giúp của thân nhân đều sụt, nên xứ này sẽ bị áp suất nặng về ngoại hối. Ngân hàng Thế giới còn ước lượng là tính đến tháng Tám vừa rồi, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam chỉ còn có 16 tỷ rưỡi, và là vấn đề đáng quan tâm. Ngoài ra, Việt Nam cũng phải cải cách theo chiều hướng đã được nêu chung cho các nước.
- Nguy kịch nhất chính là số phận dân nghèo tại Việt Nam, một thành phần đáng kể và đã nghèo nay lại còn khổ hơn, trong khi ngân sách nhà nước bị thiếu hụt nên không thể mở rộng mạng lưới an sinh cứu giúp thành phần này. Nói chung thì tình hình Việt Nam vẫn còn rất đáng lo.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.