Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Bãi Chiến Trường

10/12/200800:00:00(Xem: 6064)
BÃI CHIẾN TRƯỜNG
Hạnh Chi
Tựa bài viết có vẻ bạo động quá, nhưng xin thưa ngay, đây chỉ là bãi chiến của tâm, không có gươm đao chém giết gì cả.
Nhưng ai bảo bãi chiến này không khốc liệt bằng bãi chiến của những đối tượng thù nghịch, quyết tiêu diệt nhau bằng khí giới thế gian"
Trong kinh Phạm Võng hình như có dạy đại khái thế này: "Niết-bàn tùy thuộc nơi khả năng buông bỏ của mình. Dù ta có gạn lọc phiền não, an trú được trong hiện tại nhưng nếu tâm ta vẫn phải cẩn thận theo dõi xem phiền não đã đi chưa" an lạc đã tới chưa" Và nếu an lạc đã tới thì phải vội vã nắm bắt ngay, thì đấy chưa thực là Niết-bàn"
Chúng ta thường dễ dàng chấp nhận cái tương đối bằng khái niệm "không có gì tuyệt đối". Nhưng thực tế, định lực, trí lực của ta thường nhiều hơn ta tưởng, như người đang đau chân, đi khập khiễng, chậm chạp nhưng nếu bất ngờ bị kẻ gian rượt đuổi thì người ấy sẽ chạy rất nhanh, rất khỏe, quên hẳn cái chân đau, vì khi ấy là chạy để sống còn! Chỉ khi đã thoát hiểm, dừng lại mới cảm nhận sự ê ẩm của toàn thân và đau chân tiếp.
Quán tâm để tìm ra những vi tế của cảm thọ cũng thế. Nương vào lẽ Vô Thường để xả bỏ những hệ lụy ngỡ là Thường, ta đã vội tưởng đạt được an lạc rồi ư" Chưa chắc đâu vì chỉ khi ý thức an lạc chứ không cần dụng công nắm bắt nó, khi ấy mới thực sự là thong dong, an lạc; chứ mới xả được chút phiền não đã tưởng an lạc, vội giữ chặt, nắm bắt vì sợ nó bay đi, thì mới chỉ là vỏ ngoài của an lạc, một hạt sương phiền não rơi xuống, cũng đủ vỡ tan cái vỏ mong manh ấy. Nghĩa là, khi phải vất vả chống trả với khổ đau, phải biến ta thành "bãi chiến trường" để tìm an lạc thì an lạc đó chỉ ngắn ngủi, nhất thời. Khổ đau và phiền não như những giặc cướp luôn túc trực trước cửa nhà, chỉ cần ta lơ là, hé mở (lục căn) là chúng xâm nhập ngay và muốn tìm an lạc, ta lại phải "ra chiến trường" để vất vả chiến đấu tiếp!
Nhưng phàm, muốn đạt tới mục đích gì đã đặt ra mà không dụng công quyết tâm quyết chí đi tới thì làm sao có thành quả! Với Tâm, hành động quyết đi tới mục đích là hành động quyết xông pha vào bãi chiến trường, nơi giặc vô minh, phiền não thường xuyên hoành hành, dẫn dắt hành giả vào những vọng tưởng mờ mịt, tạo nghiệp chập chùng chẳng thấy lối ra. Loại giặc này vô hình vô tướng nên khí giới để diệt trừ chúng cũng phải cực kỳ vi tế. Trong trận chiến này, trước hết, hành giả phải có niềm tin rằng bên trong hình hài của thân tứ đại này là sự hiện hữu vô tướng nhưng thường hằng của Chân Tâm.       
"Ngoại hiện phàm phu chi tướng
Nội bí Bồ Tát chi tâm"
Bên ngoài hiện tướng là phàm phu nhưng bên trong ẩn tâm Bồ Tát.
Chân Tâm này có nhiều tên gọi, tùy tông phái, tông môn, tùy ngay cả nơi ý thích của hành giả. Gọi là gì cũng được nhưng bản chất của nó thì không hề đổi thay. Bản chất đó là sự nhận biết đến, đi của mọi sự vật, mọi cảm thọ bằng cái nhận biết thuần khiết, không qua một lăng kính phân biệt nào. Nhìn bông hoa thì nhận là bông hoa. Hoa mầu đỏ thì là hoa đỏ, không phân biệt héo tươi, tốt xấu gì! Cũng bởi không khởi tâm phân biệt nên cái nhận biết đó rỗng rang, thảnh thơi, bình đẳng, khoáng đãng. Chân Tâm này là không gian mênh mông, tĩnh lặng, vô ngôn nhưng lại có khả năng siêu việt nhận biết tất cả mọi cảm thọ đang vận hành, từ ở tầng cạn là Ý đến tầng sâu là Thức. Nếu cái nhận biết này có một trái tim thì ta có thể hình dung trái tim đó luôn mở rộng với vạn hữu, mọi người và mọi loài, thinh lặng và sáng rỡ.         
Hình hài phàm phu chỉ là khối thịt xương do duyên hợp từ đất, nước, gió, lửa, tự nó không có khả năng thấy, nghe, hay cảm nhận gì, mà cái thấy được, nghe được, nhận biết được là từ Chân Tâm (cái-nhận-biết-bên trong), là con-người-thật, là Phật-tánh, là Đức Phật. Mỗi hình hài phàm phu đều mang một Đức Phật bên trong, nhưng phàm phu vẫn rong ruổi khổ nhọc đi tìm ông Phật bên ngoài vì không đủ thông minh và không đủ niềm tin là đang sẵn có ông Phật bên trong! Đức Thế Tôn biết, thế, thương hại nhân gian quá, mà phải xác quyết rằng: "Ta là Phật đã thành. Chúng sanh là Phật sẽ thành"

Lời Phật nói, chúng ta từng nghe. Kinh Phật dạy, chúng ta từng học nhưng nghiệp chướng phiền não cũng vẫn theo chúng ta từng bước vì những huân tập sâu dầy của kiếp nhân sinh không một sớm một chiều gột bỏ được. Chính tấm màn vô minh này đã che mờ Ông Phật hằng có bên trong. Ông Phật này luôn lặng thinh, tỉnh sáng, tọa ngay nới lằn ranh rất mỏng giữa mê và ngộ. Vì lằn ranh quá vi tế nên ta vẫn vấp ngã, lạc nẻo mà không hay! Tôi và Buồn phải ở hai hình thái, chủ thể và đối tượng; nếu mơ màng nói "Tôi buồn" là rất dễ biến thành "Nỗi buồn của tôi" để bị nhận chìm trong hố thẳm đau buồn đó; trong khi thực thể, "Tôi" là chủ, đứng nhìn "Buồn" là khách. Chủ không đổi rời, chỉ có khách đến rồi đi nhưng vọng tâm vô minh đã không kịp nhìn ra lằn ranh đó mà đồng hóa hai vai trò.
Chính nơi đây, bãi chiến trường thường xảy ra khi một lúc nào đó, ta bị sức ép quá nặng của khổ đau mà bật lên ước muốn tìm cầu giải thoát. Trên đường tìm giác ngộ, việc chọn pháp môn hay tư thế thích hợp căn cơ mình chỉ là hình thức để nương tựa. Động lực thiết yếu phải khởi từ niềm khát khao mãnh liệt, cực kỳ mạnh mẽ và nghiêm túc, như câu chuyên bà già cô đơn trong chòi lá dưới chân núi. Bà cụ chỉ học lóm được dăm câu kệ, trong đó có câu đúng, câu sai nhưng cụ nào biết, mà chí tâm chí thành, tận lực trì tụng ngày đêm nên chính cái chân tâm ấy đã chiêu cảm tới Chư Phật, biểu hiện thành hào quang rực rỡ phát ra từ căn chòi nghèo nàn đó.
Hành giả đi từng bước, phải lần tìm cái nguồn sinh ra vọng rồi "lâm chiến" với nó bằng tất cả sự tự tin, dũng mãnh của ý chí tìm cầu giải thoát giác ngộ. Trân chiến này nhẹ nhàng hay khốc liệt, trường kỳ hay đoản kỳ là tùy thuộc trí tuệ và quyết tâm của hành giả.
Theo kinh nghiệm của bao người xưa thì khi công phu tu tập đạt tới trạng thái rỗng-không-tuyệt-đối là lúc ta có thể nhìn thấy mặt-mũi-thật của bao khổ đau mà ta từng bị giam hãm ngày đêm.
Hóa ra, cái khổ đau đó vẫn đứng tách rời. Nó là đối tượng bị nhìn. Ta là kẻ đứng nhìn. Nó và ta chẳng có chi ràng buộc, sao nó lại có khả năng khiến ta khổ đau"
Khi tâm-vọng bị tâm-không nhận diện một cách dũng cảm như thế, nó sẽ lập tức biến dạng từ khổ đau thành phương tiện giải thoát hữu hiệu nhất cho hành giả!     
Đó là, sự kỳ diệu khi ta nhận ra cái ta quyết diệt, quyết tìm, đã hòa tan thành cái rỗng rang, cái nhận biết mọi sự vật hoàn toàn qua cảm quan khác.    
Đó là, qua bao nhiêu quá trình tu tập khổ nhọc, cái ta tìm ra chẳng có gì là mới mẻ! Nó chính là những cái vẫn Từng-Là, Đang-Là; chỉ khác, ta  không lầm lẫn nhìn nó Là-Ta hay Của-Ta nữa. Ta vừa giải thoát khỏi sự ràng buộc với nó. Ta đã bước ra, đã tách rời. Ta trở về được ngôi vị chủ-nhân-ông mà ta vẫn-hằng-là.
Tới đây, bãi chiến trường đã lặng!
Ôi, để bước qua được lằn ranh Mê và Ngộ rất vi tế này, biết bao bãi Chiến-Trường-Tâm khốc liệt đã và đang xảy ra, đã cứu vớt hoặc dìm sâu bao hành giả miệt mài khổ lụy. Có lẽ biết thế nên Ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ đã sách tấn chúng ta qua ba câu thơ ngắn nhưng thật đầy đủ, khi diễn tả về Tâm:
"Tâm, tâm, tâm, nan khả tầm
Khoan thời biến pháp giới,
Trách giả bất dung châm"
Một thiền-sư đã dịch rất sát nghĩa là:
"Tâm, tâm, tâm, khó thể tìm
Rộng thời trùm pháp giới,
Hẹp không dung mũi kim"
Nghe được lời khuyến tấn này, dù đã bị quần thảo tả tơi, tôi lại hăng hái lên đường.
Ra bãi chiến trường lần này, khí giới tôi mang theo là hạnh thứ ba, thứ tư và thứ năm trong Lục Độ Ba La Mật. Đó là Nhẫn Nhục, Tinh Tấn và Thiền Định.      
Tôi tự biết, năng lượng của mỗi hạnh, tôi đều chỉ có rất giới hạn, nhưng nương theo lời cổ nhân "Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng", tôi có thể thành thật tự nhủ rằng: "Biết mình biết người, trăm trận . một thắng!"
Chiến đấu với những đối thủ hữu hình còn dễ, chứ đối tượng đã vô hình, lại, khi bao trùm cả pháp giới, lúc nhỏ như mũi kim thì trận chiến này chẳng đơn giản đâu! Chiến sỹ lơ mơ như tôi, trăm trận thắng một cũng là kỳ công lắm! Nhưng nếu thắng được một, rồi thừa thắng xông lên, tiếp tục chiến đấu, biết đâu ..
Vâng, biết đâu . biết đâu ..
Đó là lời các Bậc Thầy Từ Bi luôn khuyến khích chúng ta.
Điều quan trọng là hãy can đảm cất bước.
NAM MÔ THƯỜNG TINH TẤN BỒ TÁT
Hạnh Chi
(Độc-Cư-Am, Đông 2008)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.