Hôm nay,  

Bí Ẩn Obama

07/09/201000:00:00(Xem: 14553)

Bí Ẩn Obama
Vũ Linh

Obama bất tài, hay duy ý chí đi làm cách mạng"
Trong thời gian gần đây, TT Obama trở thành câu hỏi lớn, một trường hợp đáng để sinh viên chính trị học dùng làm bài nghiên cứu thực tập. Hiện tượng Obama đã được nhiều người coi như là một hiện tượng “sao chổi”, xẹt qua thật mau rồi biến mất. Hay nói theo kiểu Việt Nam ta, như “lửa rơm” bùng cháy thật mạnh rồi tắt ngúm cũng thật nhanh.
Từ trong bóng tối không ai biết đến, ông Barack Obama chỉ cần một bài diễn văn bóng bẩy trong Đại Hội đảng Dân Chủ năm 2004 là đã từ địa vị nghị sĩ tiểu bang Illinois trở thành tổng thống Mỹ, trong vỏn vẹn bốn năm.
Sự kiện này nói lên cái dễ tin ngây ngô của dân Mỹ, nhưng có thể hiện những đặc điểm hiếm có trong con người Obama. Ông là một người “có cái mã”, trẻ tuổi, có tài hùng biện không ai bằng (nói như Mỹ: có thể lên Bắc Cực bán tủ lạnh được) và có vẻ đầy sinh lực, tự tin và đáng tin, biểu tượng của thế kỷ 21. Trái lại với đối thủ John McCain thì có vẻ là người của thiên niên kỷ trước, hay đối thủ Hillary Clinton, có vẻ như là người của chính trường lươn lẹo và tham vọng cá nhân. Ông cũng chứng tỏ là người thông minh, quyền biến, tuy chưa có kinh nghiệm chính trị gì mà đã mau mắn học bài để có câu trả lời thỏa đáng cho mọi câu hỏi của cử tri Mỹ, có đáp số cho mọi vấn đề. Quan trọng hơn nữa, ông liên tục khẳng định là một người ôn hòa, không bè phái, không giáo điều, có đầu óc cởi mở thực tiễn, phục vụ nhu cầu của đại chúng. Và lại là một ứng cử viên da đen: sau Tướng Colin Powell bên đảng Cộng Hòa thời 1996 (mà vì bà vợ lạnh cẳng nên ông rút dù), thì Barack Obama là một hy vọng lớn cho cả nước Mỹ và dân thiểu số da màu.
Tất cả các chính trị gia đều có những câu nói để đời.
Cố TT Kennedy có câu nói để đời (mượn từ... Ấn Độ): "đừng hỏi đất nước đã làm gì cho mình, mà phải tự hỏi mình có thể làm gì cho đất nước". Nhà chính khách Obama cũng có câu làm dân Mỹ mê mệt: "không có nước Mỹ đỏ (Cộng Hòa, bảo thủ) hay nước Mỹ xanh (Dân Chủ, cấp tiến), mà chỉ có Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ". Vấn đề là các chính khách có áp dụng những tư tưởng đó không" Hay chỉ là những khẩu hiệu bóng bẩy che mắt thiên hạ" Dù sao thì câu nói của Obama đã đưa ông vào Tòa Bạch Ốc một cách mau mắn chưa từng thấy trong lịch sử. Và điều đáng thắc mắc hiện nay là có phải chính câu nói đó cũng sẽ đưa ông ra khỏi Tòa Bạch Ốc một cách mua mắn kỷ lục không"
Khi bầu cho ứng viên Barack Obama, dân Mỹ đinh ninh mình đã bầu được một tổng thống có ý định và khả năng mang lại đoàn kết dân tộc, chấm dứt những phân hóa mà họ nghĩ quá nặng dưới chính quyền của TT Bush. Những phân hoá làm tê liệt chính quyền qua những xích mích bất tận giữa Cộng Hoà và Dân Chủ, thả lỏng cho các khối thế lực tư nhân như các tài phiệt, các nghiệp đoàn lộng hành, đưa nước Mỹ từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác. Đó là niềm hy vọng của cử tri Mỹ. "Change We Can Believe In".
Để rồi họ khám phá ra họ đã bầu cho một cái gì hoàn toàn khác với sự mong đợi. Thay vì một tổng thống ôn hòa của “đại đoàn kết dân tộc”, họ thấy một tổng thống phân hóa nhất lịch sử cận đại, bỏ xa TT Bush và TT Clinton về phương diện cực đoan.
TT Clinton là người chủ trương sách lược gọi là “triangulation”, kiểu tổng thống trung dung ở trên “xàng xê" giữa hai đảng cực đoan ở dưới. Ông sẵn sàng thu nạp và thi hành một số sách lược bảo thủ của Cộng Hòa, tiêu biểu là câu nói để đời của ông “thời của đại chính phủ đã cáo chung” ("the era of Big Government is over"), cũng là châm ngôn của phe bảo thủ. TT Bush là người thông qua được một số luật quan trọng như cải tổ giáo dục, luật nội an (Patriot Act), luật giảm thuế, và luật cải tổ Medicare, tất cả với sự hậu thuẫn đáng kể của đối lập Dân Chủ. Dự luật cải tổ An Sinh Xã Hội (Social Security) bị Dân Chủ chống đối, thế là TT Bush bỏ chứ không tìm cách nhất quyết cho thông qua bằng cửa hậu như TT Obama đã cho thông qua luật cải tổ y tế.
Khác với hai vị tiền nhiệm và trái với lời hứa khi tranh cử, TT Obama công khai đứng về cánh thiên tả nhất của đảng Dân Chủ và trở thành tiếng nói chống đảng Cộng Hoà và chống cựu TT Bush mạnh nhất. Nói cách khác ông là một tổng thống của Dân Chủ cấp tiến cực đoan, không phải là tổng thống của cả nước, trong đó có cả khối Cộng Hòa.
Những người ủng hộ TT Obama cho rằng ông đã “làm nên lịch sử” khi thông qua được những luật cải cách quy mô. Làm như thể đây là công trình, thành quả của một mình ông tổng thống kiệt xuất này. Thực tế là với cái đa số mà đảng Dân Chủ có tại lưỡng viện, thì bất cứ tổng thống nào cũng có thể thông qua bất cứ điều luật nào. Xét cho cùng, với cái đa số kiểm soát tuyệt đối cả thượng viện lẫn hạ viện đó mà phải thông qua luật kích cầu với vừa đúng túc số không thừa một phiếu, thông qua luật cải tổ y tế bằng cửa sau, thông qua luật cải cách tài chánh khít nút với đúng ba phiếu đa số, và không dám đưa luật di dân ra trước quốc hội, thì phải nói là thất bại chứ không có gì đáng khoe là “làm nên lịch sử”.
Nếu nói về khả năng lãnh đạo thì TT Clinton và TT Bush đều thành công hơn khi hai ông đã cho thông qua được những dự luật quan trọng trong khi không có đa số tuyệt đối kiểm soát quốc hội như TT Obama. Cuộc bầu cử tháng Mười Một tới có nhiều hy vọng làm mất thế đa số tuyệt đối của đảng Dân Chủ, chúng ta hãy chờ xem TT Obama có còn khả năng “làm nên lịch sử” nữa không.
Phe cấp tiến có thể đổ thừa là phe Cộng Hoà đã có thái độ quá khích chống đối tổng thống bằng mọi giá. Nhưng vấn đề là trong tư thế lãnh đạo cả nước, một vị tổng thống phải có khả năng huy động được hậu thuẫn của cả nước, kể cả một phần của khối đối lập.


Phe cấp tiến cũng vẫn tiếp tục đổ thừa mọi chuyện lên đầu TT Bush. Vấn đề là đa số dân Mỹ đã tin tưởng vào lời hứa và khả năng của ứng viên Obama để sửa đổi mọi chuyện nên mới bầu cho ông, và câu hỏi là trong gần hai năm qua TT Obama đã làm được gì ngoài chuyện ngồi đổ thừa. Nếu làm tổng thống mà chỉ cần biết ngồi xỉa tay đổ lỗi cho người này người kia, thì chính kẻ viết này hay bất cứ một học sinh trung học nào cũng có dư thừa khả năng làm… tổng thống!
Khối cấp tiến cũng mạnh mẽ ủng hộ TT Obama, ca ngợi ông như một người can đảm, một người hùng dám chống lại tài phiệt tư bản. Họ ca tụng chức năng của một Nhà Nước Obama độ lượng, bao che cho người nghèo, người bé cổ thấp họng. Không có Nhà Nước bảo vệ thì cả nước sẽ bị bóc lột tận xương tủy, thậm chí tru diệt bởi các tập đoàn quyền lợi tư nhân tham lam không đáy. Nghe hao hao như Tư Bản Luận của Karl Marx! Dân Việt tỵ nạn đã trốn chạy tới Mỹ vì những lý luận kiểu này rồi, bây giờ lại phải nghe lại. Mà có người lại khen hay!
Một chuyện tréo cẳng ngỗng không kém là chính quyền Obama lúc nào cũng phô trương hình ảnh của một chính khách thanh liêm chống tài phiệt, chống các khối thế lực dùng tiền mua chuộc chính khách, lũng đoạn chính trị. Nhưng chính quyền đó cũng cố lờ đi chuyện ứng viên Obama khi tranh cử tổng thống đã nuốt lời hứa không nhận tiền yểm trợ của tư nhân, để có dịp nhận số tiền vô tiền khoáng hậu 700 triệu yểm trợ của tư nhân, hai phần ba số tiền đó là từ tài phiệt Wall Street, các tỷ phú George Soros, Warren Buffett, các đại tổ hợp Goldmann Sachs, Fanny Mae, Freddie Mac, các ông trùm nghiệp đoàn và khối thế lực!
Chính sách cấp tiến cực đoan của TT Obama, trái với hình ảnh ôn hòa, đại đoàn kết dân tộc của thời còn tranh cử, cùng với các chương trình vung cả ngàn tỷ ra cửa sổ, khiến cho dân Mỹ mau chóng thức tỉnh. Hiện nay TT Obama chỉ được hậu thuẫn của một tỷ lệ càng ngày càng ít của dân Mỹ. Sự hậu thuẫn của TT Obama từ ngày ông tuyên thệ nhậm chức đến giờ, một năm rưỡi sau, đã rớt nhanh hơn bất cứ tổng thống nào của lịch sử cận đại Mỹ, hơn cả các tổng thống bị chê là bết bát nhất như Nixon, Carter, hay Bush 43. Những thăm dò mới nhất cho thấy sự hậu thuẫn này suy giảm trong tất cả mọi tầng lớp quần chúng, từ khối da đen, da nâu đến da trắng, từ giới giàu đến nghèo, từ nam giới đến nữ giới, thành thị đến thôn quê, bảo thủ đến cấp tiến, trẻ đến già. Đại khái, trong 10 người trước đây ủng hộ TT Obama thì đã có ba người đổi ý kiến.
Báo “phe ta” Time phải nhìn nhận dân chúng đã có một cảm giác thất vọng, gần như bị phản bội, và bây giờ cảm thấy đã không biết gì về ông tổng thống họ đã bầu, không ngờ ông ta đang mang đất nước này đi quá xa về một hướng mà họ không muốn. Thăm dò mới nhất của đài “phe ta” CNN cho thấy gần 60% dân Mỹ cho rằng sự bành trướng của Nhà Nước Obama trực tiếp đe dọa tự do cá nhân của họ.
 Trong khi đó, bà ký giả cấp tiến Maureen Dowd viết trên New York Times đã bênh vực TT Obama là “một người có lý trí, cai trị một quốc gia hết sức không lý trí” (a rational man running a most irrational nation). Dưới con mắt của khối cấp tiến, không ủng hộ Obama chỉ có thể là kỳ thị dân da đen (như nhà báo Thomas Friedmann đã khẳng định), đầu óc thiển cận hay nịnh bợ dân da trắng (như vài độc giả đã tố kẻ viết này), hay mất lý trí (như bà Dowd nhận định).
Có lẽ bà Dowd có lý phần nào. Dân Mỹ quả là đã mất hết lý trí, nhưng không phải mới đây, mà từ ngày họ bầu cho ông tổng thống của Hy Vọng hão huyền năm 2008.
Trái ngược với lý luận của bà Dowd, nhiều chuyên gia chính trị thắc mắc không biết TT Obama thực sự là người “có lý trí” hơn người hay không.
Một ví dụ điển hình là dự luật cải tổ y tế. Cuộc tranh cãi về vấn đề này gây sôi nổi trong suốt mùa hè năm ngoái. Thăm dò dư luận cho thấy từ 55% đến 60% dân Mỹ chống. Vậy mà TT Obama vẫn bất chấp cho thông qua, kể cả bằng cách đi cửa sau.
Gần đây hơn là vụ xây đền Hồi giáo tại Nữu Ước. Đây là một vấn đề địa phương chẳng mắc mớ gì mà tổng thống phải can dự và lên tiếng. Tự nhiên tổng thống thuộc phe Dân Chủ lại lên tiếng ủng hộ một quan điểm mà 70% dân Mỹ chống đối. Đặt các ứng viên đảng Dân Chủ trong thế kẹt cứng đến độ cả lãnh tụ đa số Dân Chủ tại Thượng Viện Harry Reid lẫn Chủ Tịch đảng Dân Chủ Howard Dean đều phải lên tiếng phản bác lại ý kiến của tổng thống, hy vọng tránh đại họa trong kỳ bầu cử tới.
Cũng có một cách khác để hiểu hành động của TT Obama.
Cách đây ít lâu, trả lời phỏng vấn của báo chí, TT Obama tuyên bố ông không màng bị thất cử năm 2012, sẵn sàng chấp nhận làm tổng thống một nhiệm kỳ, miễn là thực hiện được lý tưởng. Hầu hết các tổng thống hay chính khách đều hay tuyên bố như vậy, và ai cũng hiểu là họ không thành thật cho lắm. Nhưng trong trường hợp TT Obama, có lẽ ông đã thành thật khi nói câu này. Những hành động bất chấp dư luận, đi ngược lại quyền lợi của đảng, có khi mang tính “liều mạng” của ông, dường như chứng minh ông là một tổng thống có tham vọng cực lớn, lớn hơn tám năm của hai nhiệm kỳ rất nhiều.
Hình như ông có tham vọng làm chuyện để đời, lợi dụng cơ hội hiếm có để xoay chuyển hẳn xã hội qua hướng tả và để lại dấu ấn cho vài thế hệ tới là ít. Một hay hai nhiệm kỳ không quan trọng. Hay là TT Obama là người của một “thế lực hậu trường” nào đó, đưa ra để thực hiện một “dự án” vĩ đại chuyển hướng đất nước, không cần biết vấn đề một nhiệm kỳ hay hai nhiệm kỳ" Nếu đúng như vậy thì TT Obama là một người thật đáng sợ. Và như Time đã viết, sẽ còn thêm rất nhiều người cảm thấy thất vọng hay bị lừa trong những ngày tháng tới.
Tóm lại, có hai cách giải thích những việc TT Obama đang làm: một là ông hành động không lý trí, bất tài, không biết mình phải làm gì và đang làm gì; hai là ông nhất quyết chuyển hướng xã hội bất chấp những thiệt hại ngắn hạn cho cá nhân và cho đảng Dân chủ. Chuyện gì đang xẩy ra, không ai biết rõ. (5-9-10)
Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng mỗi Thứ Ba trên Việt Báo.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.