Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Trong Căn Phòng Rưỡi (2)

11/01/200500:00:00(Xem: 4202)
Gửi L. K.
Joseph Brodsky

16
Có hai con quạ ở sân sau nhà tôi, ở đây, tại South Hadley. Hai con quạ lớn, loại kên kên, và chúng là những gì đầu tiên mà tôi nhìn thấy, mỗi lần đi, hoặc về nhà. Chúng xuất hiện từng con một: con đầu, cách đây hai năm, khi mẹ tôi mất; con thứ nhì, năm ngoái, ngay sau khi cha tôi mất. Có thể, đây chỉ là cách mà tôi nhận ra sự hiện diện của hai con quạ ở sân sau nhà mình. Bây giờ, thì chúng cùng tới, và cùng vỗ cánh bay đi, và cả hai đều quá lặng lẽ, so với những con quạ khác. Tôi cố không nhìn chúng; ít ra, tôi cố không theo dõi chúng. Tuy nhiên, tôi nhận ra một điều là hai con quạ này thường đậu ở đám rừng thông bắt đầu từ cuối sân nhà tôi và chạy dài chừng một phần tư dặm đường, tới bãi cỏ ở ven thung lũng nhỏ có mấy tảng đá thật lớn ở mãi cuối thung lũng. Tôi không bao giờ đi bộ tới cuối thung lũng nữa, vì sợ rằng là, sẽ nhìn thấy hai con quạ nằm ngủ trên đỉnh hai tảng đá, duới ánh sáng mặt trời. Tôi cũng chẳng bao giờ kiếm cách nhìn thấy chúng, ở trong tổ. Hai con quạ đen, nhưng tôi để ý thấy ở phía bên trong cánh của chúng có chút mầu tro ướt. Thời gian độc nhất mà tôi để ý không thấy chúng, đó là lúc trời mưa.
17
Vào năm 1950, theo tôi, cha tôi được giải ngũ, cùng với nghị quyết của Trung Ương Đảng, theo đó, nhân dân nào gốc Do Thái thì không nên giữ cấp bậc cao trong quân đội. Nghị quyết này, nếu tôi không lầm, do Andrei Zhdanov phát động, khi phụ trách kiểm tra ý thức hệ trong toàn cõi nhà binh. Vào thời gian đó, cha tôi đã bốn muơi bẩy tuổi, và như vậy là, ông lại phải bắt đầu cuộc đời của ông, làm lại nó như mới, nói như vậy cho thật đẹp. Cha tôi bèn quyết định trở lại với cái nghề ký giả, với cái nghề phóng sự bằng hình ảnh. Tuy nhiên, muốn làm vậy, ông cũng phải được tuyển dụng bởi một tạp chí, hay một nhật báo. Việc này hóa ra khó vô cùng: thập niên 1950 quá bết bát cho những người Do Thái. Chiến dịch chống “đám vô tổ quốc không có gốc rễ” [rootless mosmopolites] đang vào lúc cao điểm nhất của nó; rồi thì, vào năm 1953 lại xẩy ra “Trường hợp mấy ông Bác sĩ”, và, nếu vụ này không kết thúc bằng một biển máu như thường lệ phải như thế, ấy là do chính Đồng chí Stalin, người khởi xướng, không hiểu sao, bất thình lình bỗng suy sụp, bèn tung hê tất cả. Nhưng thời gian dài trước đó, và một thời gian sau đó, đã đầy những lời đồn, những rỉ tai, là Bộ Chính Trị đang lên kế hoạch càn quét đám Do Thái, tái định cư đám loài vật thuộc “phần năm” [paragraph five] này vào khu Siberia phía Đông, một vùng có tên là Birobidzhan, gần biên giới Trung Hoa. Còn có cả một lá thư được lưu hành, thư này được ký tên bởi những cá nhân nổi tiếng nhất trong “phần năm” - những kỳ thủ, những nhà soạn nhạc, và những nhà văn – nội dung của nó là một lời thú nhận tội lỗi gửi tới Ban Bí Thư Trung Ương Đảng, và cá nhân Đồng Chí Stalin, xin cho phép chúng tôi, những người Do Thái, được cứu chuộc, bằng lao động khổ sai tại những vùng thật là xa xôi, về những tội ác lớn lao mà chúng tôi đã gây ra đối với nhân dân Nga. Lá thư này sẽ xuất hiện trên nhật báo Sự Thật, trong bất cứ một ngày đẹp trời nào đó, như là cái cớ, the pretext, cho việc tống xuất đám Do Thái chúng tôi.
Ô hô, ai tai, thượng hưởng: Tuy nhiên, điều xuất hiện trên tờ Sự Thật, sau cùng lại là thông báo về cái chết của Stalin, mặc dù vào thời gian đó, chúng tôi đang sửa soạn đi du lịch và đã bán cái piano kiểu đứng của chúng tôi, vì chẳng ai trong gia đình có thể đàn [mặc dù má tôi mời một người bà con xa tới tập cho tôi: Tôi chẳng có một tí tài đàn, ấy là chưa kể, chẳng có một tí kiên nhẫn]. Tuy nhiên, trong tình trạng vào lúc đó, đừng trông mong một tạp chí hay một nhật báo tuyển dụng một tên Do Thái, lại không phải là Đảng viên, thế là, a lê hấp, cha tôi lên đường.
Trong vài năm, ông làm nhiếp ảnh viên tự do trên toàn xứ sở, qua khế ước với cơ quan Triển Lãm Canh Nông Toàn Liên Bang tại Moscow. Nhờ vậy, thỉnh thoảng trên bàn ăn cũng có món trân quí - cà tô mát hộp, loại bốn pound, hay hộp trái cây, táo và đào; nhưng tiền công ngày càng giảm, và cả ba chúng tôi vưỡn còn sống được, chủ yếu là nhờ tiền lương của má tôi, nhân viên hội đồng phát triển khu vực. Đó là những năm mất mùa của chúng tôi, và rồi thì cả hai người bắt đầu bịnh. Nhưng gì thì gì, cha tôi vẫn tỏ ra thích giao du, và thường dẫn tôi xuống phố, gặp bạn bè Hải Quân của ông, lúc đó trông coi một câu lạc bộ thuyền buồm, chăm sóc mấy bến tàu cũ, huấn luyện mấy người trẻ. Ông có khá nhiều bạn, và những người đó luôn luôn tỏ ra rất mừng vì gặp ông (nói chung, tôi chưa hề gặp một ai, đàn ông hay đàn bà, tỏ ra bực bội đối với ông). Một trong số những người đó, trưởng biên tập một nhật báo ngành, thuộc Hải Thương, Merchant Marine, một người Do Thái nhưng có một cái tên đọc lên như người Nga, sau cùng đã muớn cha tôi, và cho tới khi về hưu, ông làm cho cơ sở xuất bản này, tại cảng Leningrad.
Dường như suốt đời ông, là đi bộ, [“Phóng viên, thì cũng như chó sói, sống bằng chân cẳng của chúng”, ông thường nói vậy], giữa những con tầu, những thuỷ thủ, những ông đại uý thuyền trưởng, những cần cẩu, những kiện hàng. Trong cái nền sau, hay nói một cách bóng bẫy, ở nơi hậu trường của đời ông, là một dải nước xám bạc, lăn tăn gợn sóng, những cột buồm, cái đuôi tầu: một khối kim loại kếch xù, với vài con chữ đầu, hoặc đuôi, của một bến cảng quê nhà. Ngoại trừ mùa đông, cha tôi luôn đội cái nón đen Hải Quân có cái lưỡi trai bóng như sơn mài. Ông thích cận kề nước, ông mê biển. Đó là nơi cận kề nhất với tự do. Chỉ nội nhìn biển không thôi, là đôi khi cũng đủ lãng quên tù đầy rồi. Và thế là ông cứ nhìn biển, chụp hình biển, hầu như suốt cuộc đời của ông.
18
Tới tuổi, tuỳ theo đứa, đứa trẻ nào cũng muốn làm người lớn, đòi ra khỏi nhà, ra khỏi cái tổ giam cầm áp bức nó. Đi ra ngoài! Nhập vô cuộc đời thực! Nhập vào thế giới rộng lớn. Nhập vào đời, với những qui luật của chính mình.
Thì cũng tới một lúc nào đó, thằng bé thỏa được ước muốn. Trong một thời gian, nó loay hoay với những viễn ảnh mới, bận bịu xây tổ riêng, xây thực tại của riêng nó.
Rồi thì một ngày, khi thực tại mới đã vào lề thói, khi những qui luật của riêng nó được ban hành, được thực thi, nó bất thình lình nhận ra, tổ cũ đã mất tiêu, những người đem cho nó cuộc sống, đã chết.
Vào cái ngày đó, nó bất thình lình nhận ra, mình giống như có hậu quả mà không có nguyên nhân. Sự mất mát này lớn lao quá khiến nó không làm sao hiểu được. Cái đầu của nó, do mất mát trở nên rỗng tuếch, và bắt đầu chao đảo, và càng khiến cho sự mất mát tăng thêm mãi.
Nó nhận ra rằng, do đòi hỏi của thời mới lớn, làm sao có “đời thực”, nên bỏ nhà ra đi, và sự kiện rời khỏi tổ của nó, khiến cho cái tổ trở nên yếu ớt, không còn khả năng phòng thủ.
Thế cũng đã quá tệ rồi, nhưng ít ra, nó còn có thể đổ vạ cho thiên nhiên, cho bản chất.
Điều nó không thể ăn vạ thiên nhiên, bản chất, đó là, sự thành tựu của nó, thực tại nó làm ra thì chẳng có giá trị gì, nếu so với thực tại tổ ấm của bị bỏ rơi kia. Và nếu có một điều chi là thực, ở trong đời của nó, thì chính là cái tổ kia, cái tổ áp chế, làm nghẹt thở, mà nó chỉ lăm le bỏ chạy. Bởi vì cái tổ đó được xây nên bởi “những người khác”, những người đã cho nó đời sống, chúng không phải do nó xây, nó, kẻ biết rất rõ giá trị thực sự của việc làm của mình, kẻ, sau cùng mới hiểu ra được rằng, hoá ra là mình “sử dụng” cuộc đời được những kẻ khác ban cho.
Nó biết, những thành quả của nó đó, chúng đã được ước mong, tính toán như thế nào. Và sau cùng, tất cả đều chỉ là tạm bợ. Và ngay cả, không tạm bợ mà là lâu bền, cách tốt nhất mà nó có thể đưa chúng ra sử dụng, thì cũng hiển nhiên như là tài năng của mình mà nó vẫn thường huênh hoang.
Tuy nhiên, nếu nói về tài năng, làm sao nó có thể tái xây dựng cái tổ hoang sơ, khoẻ khoắn, nơi đã từng nghe tiếng khóc đầu tiên của nó khi vào đời. Nó cũng chẳng thể nào tái xây dựng những người để nó vào đó. Như là một hậu quả, làm sao nó có thể tái xây dựng nguyên nhân của nó"
19
Đồ đạc lớn nhất của chúng tôi – hay nói đúng ra, món đồ chiếm chỗ nhiều nhất – là cái giường của ba mẹ tôi. Cám ơn cái cối cái chầy, cám ơn cái cọc cầu ao, cám ơn cái giường, nhờ có nó, mà có tôi, tôi nghĩ vậy. Đây là một cái giường rộng, “thứ của vua nằm” [“king sized”], những đường nét trang trí của nó, lạ sao, lại thật xứng hợp, về một mức độ nào đó, với toàn thể căn phòng còn lại, mặc dù chúng được chạm trổ theo phong cách hiện đại hơn nhiều. Thì cũng vẫn mô- típ hoa lá cành, nhưng sự thực thi, the execution, thì “đong đưa”, oscillated, ở giữa Nghệ Thuật Mới và ấn bản thương mại của chủ nghĩa Kiến Tạo, Constructivism. Cái giường này là một niềm tự hào lớn lao của mẹ tôi, vì bà mua nó, rất ư là hời, vào năm 1935, trước khi mẹ tôi lấy cha tôi. Bà nhìn ra nó, cùng với cái bàn trang điểm có gắn ba cái gương rất hợp với nó, trong một tiệm bán bàn ghế cũ. Hầu hết cuộc đời chúng tôi là xoay quannh, hoặc bị hút về [gravitated] phía cái giường thấp đó, và những quyết định nhớ đời trong gia đình, là xẩy ra khi cả ba chúng tôi quây quần, không phải quanh cái bàn, mà là ở trên mặt giường, với thằng con ngồi ngay dưới chân cha mẹ.
Theo tiêu chuẩn Nga, cái giường đó đúng là một thứ xa xỉ phẩm. Tôi thường xuyên ban cho mình, cái ý nghĩ, đúng là do cái giường nó đã dụ khị cha tôi lấy má tôi, bởi vì ông mê ngủ nướng, hay nằm ườn ở đó hơn bất cứ điều nào khác ở trên đời. Ngay cả khi hai ông bà mạnh miệng, hầu hết những lần “ông nói bà cũng nói này” là liên quan tới vấn đề quản lý ngân sách của chúng tôi, [“Vậy là bà lại cúng hết tiền cho tiệm chạp phô đó rồi, chẳng chừa cho tôi một xu!”, tiếng cha tôi vượt qua bức tường, là những kệ sách ngăn “nửa” của tôi với “căn phòng” của ba má tôi. “Tôi bị đầu độc, đầu độc trong ba mươi năm trời, bởi cái tính hà tiện của ông!”, mẹ tôi đáp lại], ngay cả tới lúc căng thẳng như thế đó, cha tôi cũng rất ngần ngại rời cái giường, nhất là vào buổi sáng. Một vài người đã tỏ ra chẳng eo hẹp, khi dụ khị má tôi nhường cho họ cái giường. Nó thực sự chiếm quá nhiều chỗ, trong căn phòng rưõi. Nhưng gì thì gì, ngay cả khi túng bấn nhất, cha mẹ tôi cũng không tính đến chuyện bán giường. Nó đúng là một cái gì thái quá, một cái thú chơi ngông, mà tôi tin rằng, cha mẹ tôi thì thật thích chơi ngông, và thích cái giường, chính là vì vậy.
Tôi nhớ ông bà ngủ ở trên cái giường đó, thường là quay lưng vào nhau, và ở giữa họ là đống chăn mền. Tôi nhớ ông bà đọc sách báo ở đó, nói chuyện với nhau ở đó, uống thuốc uống thang cũng ở đó, chống cự con bịnh này, cái bệnh kia, cũng ở đó. Cái giường như là nơi ẩn náu an toàn nhất, và cũng là nơi bầy ra nỗi bất lực, không trông mong bất cứ giúp đỡ, từ bất cứ ai, bất cứ đâu, đối với cả hai, theo tôi. Đó đúng là nơi chốn riêng tư nhất của ông bà, hòn đảo tối hậu, nơi bất khả vi phạm bởi bất cứ một ai, trừ thằng con ra, của ông bà trên vũ trụ này. Cho dù nó đứng ở đâu bây giờ, nó đứng như khoảng chân không, một tách rời, a vacuum, ở bên trong trật tự thế giới. Một chân không bề ngang năm, bề dài bẩy feet. Gỗ thông mầu nâu nhạt bóng loáng, và chưa hề bao giờ kêu cót két, cọt kẹt.
[còn tiếp]
NQT dịch
tanvien.net

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.