Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Hảo Ngọt

02/03/200800:00:00(Xem: 10493)

Có một điểm tương đồng ở tất cả mọi người, dù già hay trẻ, dù Ta hay Tây ai nấy cũng đều thích ngọt cả... Một món ăn có vị ngọt vẫn dễ hấp dẫn khẩu vị hơn là một món ăn nhạt nhẽo vô vị.

Một lời nói ngọt ngào dù cho không thật lòng đi nữa, vẫn làm mát lòng người nghe hơn là một lời nói móc lò xỏ ngọt, chua cay, đầy đố kỵ hơn thua cao thấp!

Thèm ngọt là một nhu cầu thiết yếu của cơ thể, để củng cố năng lượng.

Carbohydrate hay Glucide là những hợp chất bao gồm đường (sugar), bột đường hay tinh bột (amidon, starch) và chất xơ (fibre).

Những chất nầy rất cần thiết cho chúng ta để sống. Nhưng ngọt quá đôi khi cũng nguy hiểm lắm đó!

Ngọt mật chết ruồi mà! Lời đường mật làm cho con người mù oán, si mê điên dại.

Hảo ngọt quá đôi khi cũng làm cuộc đời thêm khốn khổ rắc rối…

Các loại đường

Đường là chất phụ gia (additif alimentaire, food additive) đứng hàng đầu tại Hoa Kỳ. Các chất đường thiên nhiên sau đây được xem là tiêu biểu và thông dụng nhất:

*-Đường cát (table sugar, white sugar, granulated sugar): Đường cát là loại đường thông dụng nhất hiện nay trên thế giới. Màu trắng, hạt nhuyễn mịn hay to, được trích lấy và biến chế từ mía đường hoặc từ củ cải đường (beets). Tên khoa học của đường cát là sucrose hay saccharose. Đường cát đã chịu qua nhiều giai đoạn tẩy trắng bằng hóa chất nên rất tinh chế, cho nên có người nói rằng ăn đường cát thường xuyên sẽ không tốt cho sức khỏe.

*-Đường thô (raw sugar): Có được trong giai đoạn đầu của việc sản xuất đường. Đường thô màu xậm và hạt to hơn đường cát trắng. Tại Hoa Kỳ, sau khi lấy bớt chất bẩn ra, đường thô được bán với những tên như demerera, turbinado, hoặc muscavado.

*-Đường nâu (brown sugar, sucre roux, cassonade): Màu từ sậm tới lợt. Đây là 90% đường cát có trộn 10% mật đường. Rất được nhiều người sử dụng vì họ nghĩ rằng loại đường nầy có vẻ thiên nhiên cho nên tốt cho sức khỏe hơn mấy loại đường cát trắng tinh chế" 

*-Đường bột (confectioner’s sugar, powdered sugar): Đây là loại đường nhuyễn y như bột. Đôi khi người ta thêm tinh bột bắp để giúp đường khỏi bị đóng cục. Đường bột được dùng để áo bên ngoài của các loại bánh ngọt. 

*-Đường trái cây (fructose): Hiện diện một cách tự nhiên trong các loại trái cây.

*-Đường của sữa (lactose): Các loại sữa đều có chứa lactose một cách tự nhiên. Ít ngọt.

*-Đường lúa mạch (maltose)

*-Mật đường (molasse): Sau khi đường cát được trích lấy, chất nước còn lại được gọi là mật đường. Chất nầy có màu đen, vị ngọt hơi đắng và có chứa nhiều chất khoáng như magnesium và chất sắt. Mật đường được dùng để nuôi gia súc, để cất rượu cồn ethyl alcohol, hoặc để làm bánh.

*-Sirop bắp (corn syrup): Còn được gọi là high fructose corn syrup vì chứa rất nhiều fructose. Đường glucose của tinh bột bắp được chuyển thành fructose. Sirop bắp được sử dụng rất rộng rãi trong kỹ nghệ biến chế thực phẩm.  

*-Sirop nhựa cây phong (sirop d’érable, maple syrup): Đây là sirop quốc hồn quốc túy của Canada.  Nhựa cây phong được trích lấy khoảng tháng ba khi trời bớt tuyết và trời bắt đầu hơi ấm áp, đến cuối tháng tư lúc cây đâm chồi thì ngưng hứng nhựa. Bốn mươi gallons nhựa cây phong đem nấu cho được một gallon sirop. Từ sirop nhựa cây phong người ta còn biến chế thành nhiều thành phẩm khác rất ngon như beurre d’érable, tire, kẹo, v.v... 

*-Mật ong (honey): Rất thay đổi tùy loại mật. Nói chung, mật ong chứa nhiều đường fructose (levulose) 38%, dextrose 31%, sucrose 1%, nước 17% và vitamins. 

*-Đường nghịch chuyển (invert sugar): Có được qua phương pháp làm thủy phân sucrose ra đường glucose (dextrose) và đường fructose với một tỷ lệ bằng nhau. Đường nghịch chuyển ngọt hơn đường cát, và thường được dùng để làm chậm lại hiện tượng kết tinh (thí dụ trong các lọ mứt) cũng như để giữ ẩm đổ lâu hơn nhất là đối với các loại bánh ngọt có chứa rất ít chất béo, nhờ vậy sản phẩm sẽ lâu khô và có vẻ tươi mới.

+ Ở Việt Nam, ngoài những loại đường thông thường như vừa kể bên trên, mình cũng có nhiều loại đường rất đặc biệt và rất bình dân, đó là: đường thẻ, đường móng trâu, đường chảy dùng để nấu chè hoặc kho cá vì nó rẻ tiền. Đường xắc, dùng làm nước mắm hoặc để ăn xoài tượng sống ngon khỏi chỗ chê. 

Vùng Tân Châu, Châu Đốc thì có đường thốt lốt, ngọt dịu và thơm nữa.

Muốn sang hơn thì ăn đường phổi, đường phèn, nhưng những loại đường nầy cũng không mấy thông dụng cho lắm.

Rồi còn đường mạch nha kéo trên bánh tráng bánh phồng nữa.

Ba bốn chục năm về trước, lúc quê hương còn trong khói lửa, đường là một nhu yếu phẩm, thường bị khan hiếm một phần do con buôn đầu cơ tích trữ cho nên giá mua rất đắt.

+Tại Canada, lúc bán sale mua đường có khi còn rẻ hơn là mua muối.           

Đường đơn giản hay đường hấp thụ nhanh

(Sucre simple ou à absorption rapide)

Đây là đường thiên nhiên theo nghĩa thông thường mà chúng ta hiểu…Những chất tạo vị ngọt nầy được thấy trong bánh, kẹo, chè, chocolat hoặc trong các loại nước ngọt loại regular như Pepsi, Coca, Soda, Seven Up, v.v…

Đường mía (saccharose), đường trái cây (fructose), đường sữa (lactose) là những thí dụ điển hình.

Trong ruột, đường đơn giản chuyển thành glucose và được hấp thụ vào máu một cách rất nhanh chóng.

Khi đường huyết glycémie tăng, lập tức tụy tạng sẽ tiết ra insuline để giúp tế bào hấp thụ glucose vào đồng thời kéo đường huyết xuống mức bình thường.

Đường phức tạp hay đường hấp thụ chậm

(Sucre complexe ou à absorption lente)

Vị hơi ngọt và gồm có bột đường (tinh bột) và các chất xơ. Tinh bột được thấy trong bánh mì, khoai Tây, cơm, gạo, ngũ cốc và trong các loại pasta như nouille, macaroni, spaghetti, v.v...

Chất xơ có nhiều trong rau, cải, hoa quả, đậu, trong hạt dẻ (walnuts) cũng như trong các loại cereal làm từ hạt thô (wholemeal grain, grain entier)...

Đường phức tạp cần sự tác động của một số enzymes để chuyển ra thành glucose rồi mới được hấp thụ vào máu. Bởi lý do nầy, cho nên đường huyết tăng lên chậm hơn so với trường hợp đường đơn giản. 

Đường phức tạp rất cần cho các hoạt động biến dưỡng của cơ thể.

Đường đơn giản và đường phức tạp không thể thay thế lẫn nhau được.

Ăn nhiều đường quá có hại sức cho khỏe không" 

Đường đơn giản và đường phức tạp đều tạo ra năng lượng. 

Một gram đường cho ra 4 calories. Năng lượng dư thừa sẽ được dự trữ dưới dạng glycogen và mỡ... Ăn ngọt thường xuyên quá, mập ra cũng dễ hiểu mà thôi.

Tình trạng béo phì dễ dẫn đến các bệnh tim mạch, tăng huyết áp và tiểu đường. Ngoài ra, việc ăn nhiều đường, kể cả đường thiên nhiên như đường trái cây và mật ong cũng vậy, có thể đưa đến tình trạng hư răng nếu không chịu súc miệng đánh răng kỹ lưỡng.

Ăn nhiều bánh kẹo ngọt cũng có thể làm chất triglyceride (một loại chất béo xấu) trong máu gia tăng.

Năm 2005, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết trên thế giới có vào khoảng trên 170 triệu người mắc bệnh tiểu đường và con số nầy có thể tăng gấp đôi vào năm 2030. Chỉ riêng Hoa Kỳ cũng có trên 21 triệu bệnh nhân.

Thực phẩm quá dồi dào đường cũng như quá nhiều dầu mỡ và chất béo bão hòa, cộng thêm việc thiếu vận động là những nhân tố dẫn đến tình trạng béo phì, bệnh tim mạch và bệnh tiểu đường type II còn được gọi là Diabetes mellitus .

Bệnh tiểu đường đã chiếm 8% ngân sách về y tế tại các quốc gia kỹ nghệ. Người ta còn gọi đây là bệnh của nhà giàu, nhưng thực tế cho thấy bệnh tiểu đường không tha nhà giàu cũng như không bỏ nhà nghèo.

Bệnh tiểu đường là bệnh gì"

Tiểu đường là một bệnh mạn tính do tụy tạng không có khả năng tiết insulin, hay tiết không đủ số cần thiết hoặc insulin không hữu hiệu trong việc giúp hấp thụ đường glucose từ máu vào tế bào.

Tiểu đường type II (non insulin dependent diabetes) chiếm đa số 90% , thường xảy ra cho những người trung niên trở lên, nhưng hình như ngày nay giới trẻ tiêu thụ quá nhiều fast foods cũng có khuynh hướng mắc bệnh tiểu đường type II...

Tiểu đường type I (insulin dependent diabetes, juvenile diabetes), là một loại bệnh tự miễn (autoimmune) hủy hoại tế bào bêta của tụy tạng nên không thể tiết được hormone insulin. Bệnh  nầy  chiếm 10% và thường thấy ở trẻ em và thiếu niên. Người bệnh cần phải được tiêm insuline mỗi ngày và chích suốt cuộc đời.

Ngoài ra, đôi khi chúng ta thấy một loại bệnh tiểu đường ở phụ nữ lúc đang mang thai (gestational diabetes). Bệnh thường khỏi sau khi sanh, nhưng có thể có nhiều nguy cơ tái phát thành bệnh diabetes type II sau nầy.

Bệnh có thể do di truyền hoặc thụ đắc (acquise).

Mệt mỏi, mất cân, ăn nhiều (polyphagia), uống nước nhiều (polydipsia) và đi tiểu nhiều (polyuria) là những dấu hiệu chính của bệnh tiểu đường.

Nguy hiểm nhất là bệnh có thể gây những biến chứng về mắt (rétinopathie diabétique) đưa đến mù lòa, làm suy thận (insuffisance rénale), hoặc dẫn đến các bệnh lý về tim mạch (cardiopathies), về thần kinh (neuropathie diabétique) hoặc làm loét chân (ulcération des pieds) đưa đến việc cưa chân... Bệnh nhân chết vì các biến chứng của bệnh tiểu đường gây ra mà thường nhất là bị hư thận.

Có rất nhiều loại thuốc uống để kềm hãm đường huyết, và nếu trường hợp quá nặng thì cần phải chích insuline mỗi ngày. Đa số thuốc đều có phản ứng phụ (side effects) bất lợi. Tùy theo tình trạng sức khỏe của mỗi người cũng như sự hiện diện của biến chứng mà bác sĩ kê toa một loại thuốc nào đó, hoặc đổi thuốc khác, hoặc điều chỉnh liều lượng của món thuốc cho thích hợp hơn, v.v...

Người bị tiểu đường cần phải thay đổi nếp sống, kiêng cữ đủ thứ, tránh các loại thức ăn ngọt, cơm gạo, xôi chè, bánh trái chế biến từ bột tinh chế (refined). Cần tránh thức ăn chứa nhiều mỡ dầu, ngoài ra cũng cần phải kiên trì vận động tập thể dục thường xuyên mỗi ngày.

Tập chí New England Journal of Medicine, Feb7/2008 có đăng bài nghiên cứu về bệnh tiểu đường. Đây là kết quả của một công trình khảo cứu nằm trong chương trình Diabetes Prevention Program DPP do National Institute of Diabetes and Digestive and Kidneys

Disease s tài trợ, và thực hiện từ nhiều năm qua trên 3000 người có dấu hiệu nói lên nguy cơ có thể bị bệnh tiểu đường type II trong tương lai.

Đó là sự béo phì (obesity) và sự rối loạn khả năng dung nạp glucose (Impaired Glucose Tolerance), có nghĩa là đường huyết nằm cao hơn mức bình thường 6,1mmol/L nhưng dưới 7mmol/L. Bác sĩ gọi tình trạng nầy là Prédiabétique.

Nếu đường huyết từ 7mmol/L trở lên thì đó là bệnh diabetes thật sự.

Kết quả khảo cứu đã cho biết là, một chế độ dinh dưỡng thích nghi, vừa phải và cộng thêm một chương trình thể dục đều đặn 30 phút/ngày sẽ giúp giảm 58% nguy cơ bị bệnh tiểu đường type II, so với 22% nếu chỉ uống Metformin là loại thuốc rất thông dụng để làm hạ đường huyết xuống mà thôi.

( By adopting a moderate, consistent diet and exercice program, many people with one or more risk factors for type II diabetes can stop the disease before it becomes irreversible).

http://diabetes.niddk.nih.gov/about/dateline/spri02/1.htm

Một chế độ dinh dưỡng thích nghi có nghĩa là ăn nhiều rau cải trái cây, đậu, hạt dẻ, thực phẩm làm từ bột thô không tinh chế (unrefined complex carbohydrate), giảm việc ăn thịt đỏ (heo, bò) và thay thế bằng thịt trắng như thịt gà hay cá. Ngoài ra, cần nên tránh ăn nhiều dầu mỡ và muối.

Trong quá khứ,  North Calorina University và Toronto University (Dr David Jenkins) đã thực hiện nhiều khảo cứu về dinh dưỡng nói lên sự ích lợi của việc ăn chay để ngừa bệnh tiểu đường và cholesterol trong máu. Tuy vậy, cũng cần nên biết là ăn chay phải cho đúng cách nếu không thì cũng vẫn bị bệnh tiểu đường như thường.

http://www.vietbao.com/"ppid=45&pid=6&nid=99927

 Khi đi du lịch xa, bệnh nhân cần phải đến pharmacie lấy đủ thuốc dùng trong suốt thời gian du lịch. Bệnh nhân mỗi ngày nên tự đo mức độ đường huyết của mình bằng cách chích lấy một giọt máu ở đầu ngón tay và đọc kết quả qua máy glucometer để biết tình trạng thật sự của mình lúc đó.

Bệnh tiểu đường cần phải được theo dõi và chữa trị suốt đời.

Tại Hoa Kỳ, một số thuốc trị tiểu đường thường thấy sau đây:

Class of Agent, Generic Name, Trade Name(s)

Sulphonylureas:

1st generation*, tolbutamide

chlorpropamide

tolazamide, Orinase®

Diabinese®

Sulphonylureas:

2nd generation, glyburide

glipizide

glimepiride, Diabeta®, Micronase®, Glynase®, Glucotrol®, Glucotrol XL®, Amaryl®

Benzoic Acid Derivatives, repaglinide, Prandin®

Biguanides, metformin, Glucophage®

Thiazolidinediones, troglitazone

roziglitazone

pioglitazone, Rezulin®

Avandia®

Actos®

Alpha-glucosidase inhibitors acarbose

Miglitol, Precose®

Glyset®

* This is not a complete list of 1st generation sulphonylureas. Their only current indication is cost. When costs of generic second generation sulphonylureas become low enough, there will not be an indication for first generation agents any longer in the treatment of diabetes.

Tại Canada, các thuốc sau đây thường được bác sĩ kê toa:

- Metformin (Glucophage)

- Glyburide (Diabeta)

- Pioglitazone (Actos)

- Gliclazide (Diamicron)

Không ít bệnh nhân tiểu đường, đồng thời với thuốc Tây, họ cũng tự động uống thêm các loại thuốc thiên nhiên để mong giúp hạ đường huyết cho nhanh.

Kết quả thật sự ra sao khó có ai biết được.

http://www.yduocngaynay.com/5-5NgTChanh_HaDuongHuyet_ThuocThienNhien.htm

Nói tóm lại, lối sống vội vả + ăn nhiều fast foods + ù lì thiếu vận động, là những nguyên nhân quan trọng cho sự bộc phát của những bệnh tim mạch và bệnh tiểu đường.

Người bị bệnh tiểu đường có thể dùng đường được   không"

Theo l’Association Canadienne du Diabète, thì họ vẫn có thể ăn ngọt được, nhưng phải ăn một cách điều độ chừng mực và vừa phải thôi. Họ cũng có thể thay thế đường bằng cách ăn trái cây, rau cải, hoặc bằng các sản phẩm của sữa.

Trong một ngày họ không được ăn quá giới hạn tối đa 10% calories từ các thức ăn ngọt. Thí dụ, một người có nhu cầu năng lượng là 2000 calories/ngày, thì 10% tương đương là 200 calories. 

Biết rằng 1gr đường cho 4 calories...

200 calories sẽ là năng lượng của 50 grams (12 muỗng café) đường tạo ra.

Trên đây là những chỉ dẫn chung chung mà thôi. Bệnh trạng mỗi người mỗi khác, nên chỉ có bác sĩ điều trị mới có thẩm quyền quyết định.

Các nhà khoa học Âu Mỹ đều nói rằng không có mối liên hệ trực tiếp cho thấy đường là nguyên nhân gây ra bệnh diabetes type II. Nhưng về mặt sinh lý học, rất có thể đường gây ra bệnh diabetes một cách gián tiếp, chẳng hạn như trong trường hợp chúng ta thường tiêu thụ những thức ăn thức uống có chỉ số đường huyết (glycemic index) cao, khiến tụy tạng bị mệt mỏi và trở nên yếu đi, vì phải thường xuyên tiết insuline.

Gs Jim Mann thuộc Đại Học Otago, New Zeland cũng nhận định rằng đường gây béo phì  và tình trạng nầy sẽ dẫn tới bệnh diabetes. Mập bụng (abdominal obesity) là một mối nguy cơ (risk factor) làm xuất hiện bệnh tiểu đường type II..

Trong thực tế, rất khó tách rời ảnh hưởng của đường trong bệnh diabetes. Thêm đường vào thức ăn thức uống chỉ làm tăng calories ăn vào chớ chẳng làm gia tăng giá trị dinh dưỡng của sản phẩm. Các khảo cứu về bệnh tiểu đường những năm gần đây nghi ngờ các loại nước ngọt có gaz như Coca, Soda, Pepsi, Seven Up, v.v...đã dự phần quan trọng trong sự xuất hiện của bệnh diabetes.

Vậy thì Fructose có tốt hơn không"

Đây là đường trích từ trái cây. Fructose ảnh hưởng ít hơn các loại đường khác trong việc làm gia tăng đường huyết, vì vậy từ trước tới giờ các bệnh nhân diabetes thường được khuyên nên sử dụng đường fructose để tạo vị ngọt, nhưng ngày nay thì fructose mất dần sự sáng chói của nó.

Được biết rằng ảnh hưởng của fructose không mấy quan trọng trong việc kiểm soát đường huyết, vì nó không kích thích sự tiết insuline, và tai hại hơn nữa là nó làm tăng hàm lượng loại chất béo xấu triglyceride lên.

Sự gia tăng triglyceride trong máu là một yếu tố làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch. Thí nghiệm trên súc vật cho thấy fructose còn làm tăng sự kháng insuline (résistance à l’insuline), đồng thời cũng làm thay đổi hiện tượng dung nạp glucose (tolérance au glucose) và hiện tượng cao máu.

Thí nghiệm lâm sàng sơ khởi thực hiện ở người, còn cho biết fructose làm tăng cân do tác dụng xấu trên hàm lượng của hai hormones liên hệ tới sự no (satiété) và sự đói  (appétit)... Đó là hormones leptine và ghréline.

Chỉ số đường huyết (Glycemic index, GI)  là gì"

GI do Gs David Jenkin, Canada nêu ra đầu tiên vào  năm 1981. Ý niệm nầy lần hồi đã thay thế ý niệm đường đơn giản và đường phức tạp đã lỗi thời.

Chỉ số đường huyết là vận tốc chuyển hóa của một carbohydrate ra thành glucose để được hấp thụ vào máu.

Một thức ăn có GI càng cao thì đường huyết càng tăng nhanh. Vì vậy, các nhà dinh dưỡng khuyên chúng ta nên dùng những thức ăn nào có GI thấp để ngăn ngừa bệnh béo phì, bệnh tim mạch và tiểu đường type II.

Trong thực tế, người ta thường pha trộn lẫn lộn các loại thức ăn có GI khác nhau trong các bữa ăn hằng ngày. Nhìn chung, các loại đường phức tạp như ngũ cốc, cơm gạo, bánh mì, pasta, spaghetti, và các loại rau cải xanh là những thực phẩm chứa nhiều dưỡng chất và chất xơ.

Đối với những loại carbohydrate nầy, thì đường huyết sẽ tăng chậm hơn là nếu dùng các loại đường đơn giản quá tinh chế như đường cát trắng chẳng hạn.

Tuy vậy, cũng có một vài ngoại lệ, một số chất đường phức tạp như gạo trắng, pain blanc, bắp, khoai Tây lại có GI cao hơn một số đường đơn giản.

GI cũng có thể thay đổi tùy theo nhiều yếu tố khác nhau như: tùy theo kích thước các phân tử tạo nên sản phẩm, chẳng hạn như cereal càng nhuyễn, càng tinh chế thì có GI càng cao; tùy theo cơ cấu sinh hóa (thí dụ gạo Basmati chứa nhiều đường amylose nên có GI thấp hơn gạo trắng hạt dài, là thứ gạo chúng ta ăn hằng ngày); tùy theo cách biến chế nấu nướng, như khoai Tây nấu chín trong nồi có GI thấp hơn khoai Tây đút lò; bột khoai Tây (purée, flocon de pomme de terre) có GI cao hơn GI khoai Tây nguyên củ; carotte tươi có GI thấp hơn GI carotte nấu chín, v.v…

Trong lĩnh vực thể thao, ý niệm GI rất được các vận động viên quan tâm đến.

Trước hôm ngày tranh tài, nên ăn những loại thực phẩm có GI thấp và GI trung bình, như pasta, spaghetti, chuối, yogurt để dự trữ năng lượng…

Ngày tranh tài, thì dùng những thức ăn dễ tiêu, có GI cao như các thỏi bánh kẹo ngọt có nhiều đường và vitamins.

Ngay sau khi kết thúc cuộc thi đấu, nên ăn những món có GI cao để bù đấp lại nhanh chóng năng lượng tiêu hao.

Đây là một nguyên tắc thường được các người tham dự các cuộc chạy marathon áp dụng.

Tải lượng đường huyết (charge glycémique, glycemic load hay GL) là gì"

Ý niệm rất mới mẻ trong dinh dưỡng.

GL bổ túc cho chỉ số đường huyết GI. Tải lượng đường huyết GL có tác dụng ước định khả năng làm tăng đường huyết của một phần chuẩn (par portion, per serving) của một thức ăn nào đó. Người ta tính GL bằng cách lấy GI nhân cho số lượng glucides (g) chứa trong phần chuẩn của sản phẩm, sau đó chia cho 100:

GL=  GI x quantity glucides (g) per serving/100

Thí dụ: 1 serving cereal corn flake 30g có GI 82 và có chứa 25g glucide. GL của nó sẽ là

25 x 82/100 = 20,5

  Tóm lại, GI là thước đo chất lượng của glucides và GL là thước đo số lượng của glucide hiện diện trong một thức ăn.

Tải lượng GL của một phần chuẩn thức ăn:

- GL thấp nếu dưới 10

- GL trung bình từ 11 đến 19

- GL cao nếu từ 20 trở lên

Tải lượng GL trong một ngày:

- thấp nếu dưới 80

- cao nếu từ 120 trở lên

Tiêu thụ thức ăn có GI cao mà đồng thời chứa ít chất xơ thì rất dễ làm xáo trộn đường huyết. Lâu ngày có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện bệnh diabetes type II và bệnh tim mạch.

Ý niệm tải lượng đường huyết GL được nhiều nhà dinh dưỡng ưa chuộng hơn ý niệm chỉ số đường huyết GI, vì lý do GL phản ảnh đồng thời số lượng và chất lượng của glucide trong một thức ăn.

Chỉ số đường huyết GI của một vài loại thực phẩm.

+Thức ăn chuẩn là Glucose có GI = 100

+Thức ăn có GI thấp hơn 55:

Đậu nành - đậu phọng (15), đậu xanh (30), đậu trắng (38), đậu đỏ (40), sữa (30), yogurt (35), cam (40), táo pomme (39) , biscuit khô (55), bột lúa mạch oat (50), bún (35), gạo Basmati có nhiều amylose (50), carotte tươi (35), fructose hay đường trái cây (20), gạo lức - đậu petit pois - khoai lang - bánh mì multigrain - pain au son (45), rau cải xanh - tomate - cà tím, ớt xanh - hành tỏi - nấm rơm (10), bưởi (22), cam (43), trái poire (36), khoai mỡ (51), xoài (55), trái pêche tươi (28), nước trái táo pomme (48), nho tươi (43).

+Thức ăn có GI trung bình 56 - 69:

Càrem (59), nước cam lon (65), chuối (62), đu đủ (60), pain blé entier, wholemeal bread (69), trái kiwi (58), nho khô (64), đường cát sucrose, saccharose (65), khóm (66).

 +Thức ăn có GI cao trên 70:

Carotte chín (85), pain blanc (70), cơm trắng gạo hạt dài (72) chứa ít amylose, gạo tấm broken rice (86), nếp (98), các loại cereal, cornflakes (80), mật ong ( 90), Pepsi Coca (70), riz instantané (90), maltose beer (110), khoai Tây chiên fries hay khoai đút lò (95), khoai tây nấu chín (70), dưa hấu (72), bí rợ (75), corn chip (72), bánh biscuit khô cracker (78), bánh mì baguette (95).

**Chú ý: Cơm, nếp (xôi chè, bánh tét, bánh chưng, v.v...), bánh mì baguette, là những món mà đa số người VN mình đều ăn thường xuyên.

Đây cũng là những món có GI cao rất dễ làm tăng đường huyết.

Nên tránh hoặc ăn thật ít nếu chúng ta đang có vấn đề tiểu đường.

Nên thay thế chúng bằng những thức ăn có chỉ số GI thấp như bún, miếng, rau cải luộc hoặc cơm gạo Basmati...

Ăn để giảm mập

«Je mange, donc je maigris»...

Đây là tựa đề một quyển sách của Michel Montignac. Ông này là người Pháp và cũng là một nhà dinh dưỡng tự học lấy, nhưng ông ta lại có sáng kiến độc đáo đánh trúng vào yếu điểm của dân Tây phương là ai ai cũng đều sợ mập cả.

Theo Montignac, thì năng lượng calories không đáng cho ta quan tâm đến. Thịt, mỡ, chất đạm, chất béo cũng không đáng ngại. Thủ phạm của tình trạng béo phì, vẫn theo Montignac, là đường, và các carbohydrate quá tinh chế (raffiné, refined), như các loại khoai Tây, white bread, đường cát trắng, v.v…

Muốn giảm cân thì cần tránh những thực phẩm có GI cao, chỉ nên dùng những thức ăn nào có GI thấp dưới 50 mà thôi, và phải biết cách phối hợp các loại thức ăn với nhau cũng như cần ăn nhiều rau cải trái cây có nhiều chất xơ. Ăn bao nhiêu thức ăn cũng được, ăn cho đến no thì thôi, không cần phải hạn chế số lượng ăn vào.

Lẽ dĩ nhiên, là ý niệm quá cách mạng của Montignac đã làm phần lớn các nhà dinh dưỡng nhảy nhỏm lên hết. Phương pháp Montignac đã bị công kích, đã phá khắp mọi nơi. Tuy vậy, Montignac vẫn tìm được một số đồng minh cho thuyết dinh dưỡng của mình.

Tại Quebec/Canada, Bs Dumesnil chuyên khoa tim mạch đã hết lòng bênh vực Montignac. Ông lang Tây này nói là đã áp dụng thành công và hiệu quả phương pháp Montignac, và nó đã giúp ông sụt được 21 kg trong vòng có 6 tháng mà thôi ("). 

Rất nhiều người trên thế giới đã theo phương pháp Montignac và xem nó như một loại mode trong cuộc sống vậy.

Hiệp hội các nhà dinh dưỡng Quebec đã đưa ra nhận xét là phương pháp Montignac là dỏm, rất nguy hiểm và thiếu cơ sở khoa học cũng như thiếu những thử nghiệm lâm sàng đáng tin cậy...

Thực chất của phương pháp Montignac là việc giảm thiểu đáng kể của số lượng calories ăn vào mà thôi. Phương pháp này cũng nguy hiểm vì nó không quan trọng hóa các loại chất béo và mỡ dầu ăn vào, cũng như nó không đặt nặng việc cần phải vận động tập thể dục để có một sức khỏe tốt.

Ai chê, ai khen mặc ai, Montignac vẫn phây phây và đã trở thành triệu phú nhờ vào hằng triệu sách bestseller của ông bán ra, cũng như vô số trung tâm dinh dưỡng theo phương pháp Montignac mọc lên khắp thế giới.

Chế độ ăn uống ít chất đường/bột đường (Low carb diet)

Từ hơn 30 năm nay, tại Hoa Kỳ, Bs Robert Atkins, chuyên khoa tim mạch đã hết lòng quảng bá và bảo vệ thuyết dinh dưỡng do ông đề xướng ra, đó là cách ăn uống ít đường và bột đường, nhưng ăn nhiều thịt nhiều mỡ để giảm cân. Tiếng Anh gọi là Low carb diet.

Theo ông ta, ăn nhiều carbohydrate sẽ tạo ra nhiều glucose trong máu, đồng thời tụy tạng sẽ tiết nhiều insulin. Số glucose thặng dư được chuyển thành mỡ và chất insulin sẽ giúp vào sự tích tụ của mỡ trong cơ thể. Thông thường, lối 60% năng lượng của cơ thể có nguồn gốc từ các loại đường và bột đường ăn vào.

Vậy muốn giảm mập thì phải giảm chất carbohydrate xuống còn lối 40g/ngày và tăng khối lượng chất đạm của thịt ăn vào. Trong tình trạng thiếu glucose này, cơ thể bắt buộc  phải làm thoái biến số mỡ dự trữ ra thành các acid béo và gan sẽ chuyển chúng thành các chất ketones. Chất này là nguồn năng lượng của cơ thể trong điều kiện ăn uống ít chất carbohydrate. 

Hiện tượng sinh hóa này khoa học gọi là benign dietary ketosis và là căn bản của Atkins diet.

Thuyết low carb của Atkins có vẻ ngược đời nên đã bị cộng đồng khoa học chỉ trích thậm tệ và cá nhân Bs Atkins bị ngạo báng hết cỡ.

Mặc dù vậy, Low carb diet cũng được hằng triệu người Hoa Kỳ hoan nghênh, trong số có nhiều tài tử Hollywood.

Họ nói Atkins diet đã thật sự giúp họ giảm cân một cách mau lẹ"

Bs Atkins và phe nhóm của ông ta đã trở thành triệu phú nhờ vào việc bán sách chỉ dẫn phương pháp dinh dưỡng Low carb cũng và như nhờ vào sự khai thác các cơ sở kinh doanh Atkins Nutritionnals.

Ngày nay, phong trào dinh dưỡng Low carb diet đã trở thành một lối sống mới đối với một số lớn người tiêu thụ, cho nên kỹ nghệ thực phẩm và các hệ thống nhà hàng fast foods như Mac Donald cũng nhảy vô ăn có, tạo ra vô số sản phẩm ít đường và bột đường để mong giành giựt thị trường với các sản phẩm Atkins.

Beer low carb chai 12 oz chứa 2.5g carbohydrate và 97 calories, trong khi loại beer regular có 13g carb. và 146 calories.

Vậy thực chất của low carb diet là gì" có tốt cho sức khỏe hay không"  Hầu như tất cả các nhà khoa học về dinh dưỡng đều chống đối mãnh liệt phương pháp dinh dưỡng của Bs Atkins. Họ nói, low carb diet có thể có hiệu quả ngắn hạn, nhưng rất nguy hiểm cho sức khỏe về lâu về dài. 

Một chế độ nhiều đạm động vật, nhiều mỡ dầu nhất là cholesterol và chất béo bão hòa sẽ dẫn đến các bệnh về tim mạch, làm nghẽn mạch máu, gây tai biến mạch máu não và làm gia tăng nguy cơ xuất hiện của vài loại cancer.

Ngoài ra, một khẩu phần quá nhiều đạm động vật có thể rất có hại cho thận, cho gan và dễ dẫn đến tình trạng loãng xương (osteoporosis). Vì thiếu chất bột đường (gạo, bánh mì, pasta, ngũ cốc, đậu) và rau quả nên cơ thể sẽ thiếu rất nhiều dưỡng chất thiết yếu như vitamins cũng như thiếu chất xơ khác để có được một sự tiêu hóa tốt.

The American Heart Association cũng đã bày tỏ nỗi lo ngại của mình đối với phương pháp Atkins. Dòng đời không phải lúc nào cũng bằng phẳng cả đâu. Một biến cố quan trọng gần đây đã làm mọi người bàng hoàng và hoài nghi về thuyết dinh dưỡng Atkins.

Ngày 8 tháng 4 năm 2003, cha đẻ của thuyết low carb diet trượt té trên đường phố New York, bị hôn mê bất tỉnh trong 9 ngày rồi chết sau đó. Phúc trình khám nghiệm cho biết nạn nhân 72 tuổi, rất béo phì cân được 258lbs là sức nặng trên mức quy định sức khỏe, và rất có thể ông ta đã chết vì bệnh tim.

Lẽ đương nhiên, bà vợ và phe nhóm của Bs Atkins đã cực lực cải chính và nói rằng nạn nhân đã chết vì bị chấn thương sọ não mà thôi. Theo họ, ông có vẻ mập vì đã được tiếp quá nhiều dịch truyền" Họ nghi phúc trình bệnh viện là âm mưu triệt hạ uy tín của Bs Atkins cũng như để đã phá thuyết low carb diet mà thôi"

Thật ra lúc còn sống, nhân một buổi phỏng vấn Tv, Bs Atkins đã xác nhận là ông cũng có vấn đề tim nhưng mà nhẹ thôi.

Không biết trong tương lai sẽ còn thuyết gì nữa đây"

Ai cũng sợ bệnh, ai cũng sợ chết hết, cho nên những gì nghe được, có vẻ hơi bùi tai và hơi hợp lý một chút thì rất dễ bị mê hoặc.

Đường hóa học và các chất thay thế đường

Đây là những chất có vị ngọt nhưng tạo ra rất ít calories.

Người ta chia chúng ra làm 2 nhóm:

1)- Nhóm có tính dinh dưỡng (édulcorants nutritifs):

Xylitol, Sorbitol và Mannitol, là những chất được làm từ trái cây. Người ta còn gọi những chất nầy là đường rượu (sucre alcoolique). Chúng có vị ngọt, nhưng lại có thêm tính nhuận trường nữa. Ăn trên 30g/ngày có thể bị tiêu chảy...

Mỗi gram của các chất này chỉ cho ra có 2 calories, trong khi đường cát cho ra 4 calo.

Các loại đường này không mấy phổ biến cho lắm, chỉ thấy được sử dụng trong một số sản phẩm, chẳng hạn như trong kẹo chewing gum.

2)- Nhóm không có tính dinh dưỡng (édulcorants non nutrtifs): 

Những chất này không tạo ra năng lượng, nhưng lại có vị ngọt gấp cả trăm lần đường cát. Chúng thường được đựng trong các bao nho nhỏ màu xanh, vàng hoặc hường để chúng ta bỏ vào café.

Kỹ nghệ thực phẩm cũng sử dụng các loại đường hóa học này để tạo vị ngọt cho các loại sản phẩm nhược năng lượng (hypocaloric) và các thực phẩm diet. Đây là những chất tổng hợp hóa học để tạo vị ngọt (édulcorant synthétique) và thường được phân chia ra làm hai nhóm:

* nhóm thế hệ thứ nhất: saccharine, sodium cyclamate, aspartame.

* nhóm thế hệ thứ nhì: sucralose (Splenda), acésulfame-potassium (Sunnet, Sweet One, Acek)), neotame, alitame.

Thông dụng nhất, là chất aspartame mà chúng ta thấy trong các thức ăn thức uống diet.

Tuy nhiên cũng có dư luận cho rằng ăn thường xuyên các loại đường hóa học sẽ không tốt cho sức khoẻ.

Phe chống đối đường hóa học quả quyết rằng chất aspartame gây nhức đầu (migraine) cũng như có thể gây cancer não.

Được biết một phần aspartame sẽ chuyển thành methanol trong bao tử và chất nầy sau đó sẽ phân hóa thành formaldehyde và acide formique là chất độc cho hệ thần kinh.

Họ còn nói là trong cơ thể aspartame còn bị phân cắt ra thành acide aspartique và phénylalanine.

Đối với những người bị bệnh phenylketonuria (PKU), là một bệnh rất hiếm thấy do sự lệch lạc của một gene, khiến cơ thể không tạo ra được enzyme để khử chất phenylalanine, do đó chất nầy tăng nhiều trong máu và gây tổn hại đến hệ thần kinh trung ương.

Thí nghiệm cho thấy, chất saccharine  (Twin, Sweet N Low) ở liều lượng thật lớn nó có thể gây cancer bọng đái ở loài chuột.

Ngày nay tại Canada, saccharine và sodium cyclamate (Sucaryl, Twin sugar) bị rút ra khỏi danh sách các chất phụ gia và bị cấm sử dụng trong kỹ nghệ, nhưng vẫn còn được cho phép sử dụng với liều lượng nhỏ để chúng ta tự bỏ vào café.

Phe cổ võ chất aspartame lẽ đương nhiên là giới kỹ nghệ thực phẩm, nhà nước, FDA, Health Canada, các trung tâm nghiên cứu trong các đại học, National Cancer Institute Hoa Kỳ, Tổ chức Autorité Européenne de Sécurité des Aliments EFSA, Tổ chức y tế thế giới OMS, tổ chức Lương nông FAO thuộc Liên Hiệp Quốc...tất cả đều khẳng định là trong điều kiện sử dụng bình thường, chất aspartame rất an toàn cho sức khỏe cũng như chẳng có mối liên hệ nào với bệnh cancer cả.

Được biết chủ nhân ông của aspartame là đại tổ họp quốc tế Monsanto.

Trên thế giới, aspartame (Nutrasweet, Equal, Egal, Canderel...) được sử dụng rộng rãi trong khoảng 6000 loại mặt hàng và sucralose có mặt trong lối 4000 sản phẩm.

Ý niệm về sự an toàn hoặc không an toàn của đường hóa học rất thay đổi tùy theo từng quốc gia... Alitame được sử dụng tại Mexique, Úc châu và Trung quốc, nhưng Canada và Mỹ thì cấm... Riêng neotame, một chất tạo vị ngọt anh em với aspartame thì được FDA Hoa kỳ chấp thuận từ 2002, nhưng Canada thì chưa cho phép.

Nói chung, các nhà dinh dưỡng đều đồng ý là các loại đường hóa học có thể giúp ích một phần nào cho con người, nhưng không thể xem chúng là một giải pháp thỏa đáng để giúp ta có một hàm răng tốt, để giảm cân, hoặc để kềm hãm bệnh tiểu đường.

Năm 2007 vừa qua, Bs Ramachandran Vasan, Hoa Kỳ, trong khảo cứu thực hiện trên một nhóm 9000 ngàn người trung niên đã cho biết, là có sự liên quan mật thiết giống như nhau, giữa sự tiêu thụ mỗi ngày trên một lon 355ml sođa loại thường regular tức là có chứa đường và loại diet (không có đường sugar free), cùng với sự xuất hiện của hội chứng biến dưỡng (metabolic syndrome) như tăng mỡ vùng bụng, cao máu, tăng hàm lượng chất béo xấu triglyceride, giảm hàm lượng chất cholesterol tốt HDL và tăng đường huyết.

Tất cả các nhà khoa học kể cả Bs David Jenkins (St Micheael's Hospital Toronto) đều bối rối trước khám phá quá mới mẻ nầy "Before we were saying take the diet drink and you're ok. Now we're saying: watch it"...

Bs R.Vasan người thực hiện cuộc khảo cứu đăng trong tạp chí Circulation: Journal of the American Heart Association cũng thắc mắc trước kết quả. Ông ta đưa ra giả thuyết rất có thể những người uống một hai lon soda một ngày đồng thời cũng là những người ăn nhiều calories, nhiều chất béo bão hòa và nhiều trans fat đều là những chất béo xấu cũng như họ là những người ù lì ít chịu hoạt động...(We really don't khnow, this soda consumption may be a marker for a particular dietary pattern or lifestyle. Individuals who drinks one or more sodas tend to be people who have greater caloric intake. They tend to have more of saturated fats and trans fats in their diet, they tend to be more sedentary, they seem to have lower consumption of fibre)...

Một khảo cứu khác do Ts Susie Swithers thực hiện tại Purdue Univ. Indiana và được đăng trong tạp chí Behavioral Neuroscience cho biết thức ăn thức uống nhược năng nghĩa là chỉ có chứa đường hóa học saccharine hoặc aspartame đều có khuynh hướng làm xáo trộn chức năng nhận biết calories của não.

Bình thường khi ăn ngọt thật sự, cơ thể sẽ nhận biết ngay số calories ăn vào đễ sau đó kích động biến dưỡng để đốt số năng lượng thặng dư và tăng thân nhiệt lên.

Trường hợp sử dụng đường hóa học saccharine để tạo cảm giác ngọt giả tạo, nhưng chẳng có calorie nào kèm theo thì cơ thể tăng nhiệt độ rất ít và vì thế sẽ bị mập ra. Thí nghiệm đã được thực hiện trên loài chuột. Đây là một giả thuyết rất mới mẻ và trái ngược với ý niệm cũ là việc sử dụng các chất tạo vị ngọt hóa học như aspartame, saccharine để giúp giảm cân. 

Cần nên đọc kỹ nhãn hiệu

Thông thường trên mỗi loại thực phẩm sản xuất theo lối công nghiệp đều có liệt kê bản nguyên liệu (ingredients) sử dụng.  Các chất nầy đều được xếp theo thứ tự quan trọng từ nhiều tới ít, và từ trước ra sau.

Các danh từ tận cùng bằng chữ OSE là đường, như sucrose, fructose, dextrose, saccharose, maltose…

Đôi khi chúng ta cũng thấy ghi trên nhãn hiệu những câu có hàm ý đặc biệt về một chất dinh dưỡng nào đó.

Tại Canada, cơ quan Kiểm traThực phẩm (CFIA) có trách nhiệm ấn định và kiểm soát sự xác thực của các nhãn hiệu. Sau đây là một vài thí dụ:

*FAIBLE TENEUR EN SUCRE (Low sugar): không được chứa nhiều hơn 2g đường cho một phần chuẩn hay xuất ăn (par portion, per serving)

*SANS SUCRE AJOUTÉ, NON SUCRÉ (No sugar added, unsweetened): sản phẩm có thể chứa đường một cách tự nhiên, chẳng hạn như các loại nước trái cây, nhưng ngoài ra  không có một loại đường nào khác (như đường cát, mật ong, mật đường) được thêm vào hết. 

*SANS SUCRE (sugar free): không được chứa hơn 0.25g đường cho 100g sản phẩm và cũng không được có hơn một calorie cho mỗi 100g. Loại thức ăn nầy chứa ít đường và ít calo nhất và được xem là thực phẩm ăn kiêng diète.

*TENEUR RÉDUITE EN CALORIE: sản phẩm chứa 50% calorie ít hơn so với những sản phẩm bình thường đồng loại. 

*ALIMENT HYPOCALORIQUE: là những thực phẩm có số calorie giảm cũng như không thể chứa hơn 15 calories cho mỗi phần chuẩn hay xuất ăn. 

*SOURCE DE FIBRES ALIMENTAIRES: ít nhất phải chứa 2g chất xơ cho mỗi phần chuẩn.

*SOURCE  ÉLEVÉE  DE FIBRES: phải chứa ít nhất 4g chất xơ cho mỗi phần chuẩn.

*SOURCE  TRÈS  ÉLEVÉE  DE  FIBRES: phải có ít nhất 6g chất xơ cho mỗi phần chuẩn.

Khuyến cáo của cơ quan Liên Hiệp Quốc

Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) và Cơ Quan Lương Nông Quốc Tế (FAO) vừa phối hợp nghiên cứu và đồng khuyến cáo mọi người nên cắt giảm số calories do đường mang vào xuống dưới mức 10%. 

Nói một cách dễ hiểu, nếu tổng số nhu cầu của một người là 2000 calories/ngày, thì calories do đường tinh chế tạo nên phải thấp hơn 200.

Được biết, 1g đường cho 4 calories, 1 muỗng café đường có khoảng 16 calories và 1 lon  Coke regular chứa lối 9 muỗng đường tương đương với 145 calories. 

Mục đích của Cơ Quan Liên Hiệp Quốc là nhằm giúp ngăn chặn phần nào các loại bệnh mạn tính cũng như các bệnh về tim mạch, bệnh béo phì, bệnh tiểu đường và một vài loại cancer. 

Để duy trì một sức khỏe tốt, chúng ta cần theo đuổi  một chế độ dinh dưỡng ít dầu mỡ, ít đường, ít muối, không được dùng quá 2400 mg sodium hay 5g muối tương đương với 1 muỗng café muối ăn trong 1 ngày. 

Đồng thời cần phải ăn nhiều rau cải, trái cây tươi  và nên vận động, tập thể dục thường xuyên.

Chắc chắn là khuyến cáo nầy không làm hài lòng kỹ nghệ bánh kẹo và kỹ nghệ nước ngọt rồi. Một tài liệu khảo cứu mới vừa được phổ biến trong tạp chí JAMA, August 2004  cũng đưa kết luận là các loại nước ngọt classic hay regular như Coke, Pepsi, Soda….vì chứa quá nhiều đường nên là một trong nhiều nguyên nhân quan trọng làm gia tăng sự xuất hiện của bệnh tiểu đường type II ở Hoa Kỳ. 

Một khảo cứu đã làm nhiều nhà khoa học bối rối

 http://www.medscape.com/viewarticle/570063

Từ trước tới giờ, các nhà khoa học vẫn cho rằng kim chỉ nam trong vấn đề trị liệu bệnh tiểu đường là việc kiểm soát đường huyết glycémie để đem nó xuống mức bình thường hoặc gần với mức bình thường cũng như việc phòng ngừa các biến chứng về tim mạch do đường huyết cao gây nên.

Theo Association canadienne du Diabète, thì mức glycémie bình thường (sau khi đã nhịn ăn 8 tiếng đồng hồ) phải ở mức thấp hơn 6.1mmol/L và nếu từ 7.0mmol/L trở lên là bị diabetes.

Còn theo American Diabetes Association, glycémie normale phải thấp hơn 110mg/dl, và nếu trên 126ml/dl là bị tiểu đường.

Tuy nhiên, một công trình khảo cứu về đường huyết vừa được phổ biến trong Medscape Medical News Feb 12/2008 đã làm tất cả các nhà khoa học sửng sốt và hết sức bối rối.

Khảo cứu nầy được thực hiện tại Hoa kỳ từ nhiều năm qua trên hơn 10.000 người trung niên hoặc ở lớp tuổi cao hơn đang mắc bệnh tiểu đường type II.

Khảo cứu mang tên: Action to Control Cardiovascular risk in Diabetes (Accord).

Qua đối chiếu và so sánh kết quả của bốn năm theo dõi thí nghiệm thì họ thấy trong nhóm bệnh nhân áp dụng phương pháp trị liệu tích cực để hạ glycémie (intensive glycemic control arm) xuống được gần mức bình thường thì chính trong nhóm nầy lại có số người bị tử vong vì bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim cao hơn nhóm bệnh nhân đã theo đuổi một cách ít tích cực và hời hợt trong việc kiểm soát đường huyết.

Rõ ràng đây là kết quả trái ngược với những gì khoa học mong đợi. Thí nghiệm đã bị đình chỉ ngay sau đó.

Các giả thuyết được đưa ra để giải thích kết quả trên: tử vong thường xảy ra ở nhóm bệnh nhân tuổi đã cao trên 62, đồng thời cũng đã mắc phải bệnh về tim mạch như cholesterol cao hoặc có huyết áp cao từ trước đó, cũng có thể do hiện tượng tương tác interaction giữa nhiều loại dược phẩm với nhau, hoặc do sự kiện sử dụng các loại thuốc để làm hạ đường huyết xuống một cách quá nhanh.

Tuy vậy, các nhà khoa học vẫn duy trì nguyên tắc làm hạ đường huyết xuống mức bình thường như một giáo điều trong việc chữa trị bệnh tiểu đường.

Quả thật là điều khó giải thích rất bối rối cho mọi người!.

Kết luận

Thời đại nào, xã hội nào cũng thế, thức ăn ngọt vẫn dễ hấp dẫn mọi người.

Tại Canada, từ 1986 đến 1996, các sản phẩm ngọt đã tăng vọt lên hơn 102%, trong số này nước ngọt tăng hơn 5%. 

Số người bị béo phì tăng lên một cách đáng ngại, 25% ở trẻ em và 50% ở người lớn.

Công ty Coca Cola và Pepsi Cola không ngừng tìm mọi cách để xâm chiếm thị trường, và khai thác thị hiếu hảo ngọt của dân chúng, đặc biệt là giới trẻ em, sinh viên học sinh.

Các nhà dinh dưỡng thường xếp các loại thức ăn thức uống bán trong máy (bánh, kẹo, chip, chocolat, Coca Pepsi, v.v...) vào nhóm tạp phẩm (junk food), không bổ dưỡng gì hết vì chứa nhiều calorie rỗng (empty calorie), nhiều đường, nhiều caffeine, nhiều gaz và chất hóa học...nhưng lại không có hoặc có rất ít vitamins.

Sức mạnh của đồng tiền là như thế đó! Ai chết mặc ai, tiền ông bỏ túi.

Cuối cùng, cũng cần phải nói đến một loại vị ngọt cũng khá hấp dẫn đối với một số các đấng mày râu bất luận tuổi tác, nhưng lại hay có tính hảo ngọt thích mật, thích đường.

Nếu thuận nhân hòa địa lợi hay gặp hoàn cảnh thuận tiện, tiền bạc xủng xỉn và cộng thêm một sinh lực dồi dào thì tính hảo ngọt lại càng dễ bộc phát ra hơn nữa.

Tuy không làm tăng đường huyết, nhưng nó lại làm tăng adrenaline và nhịp tim nhiều lắm. Đôi lúc nó cũng có thể làm xáo trộn luôn cả một mái ấm gia đình nữa.

Ôi hảo ngọt là như thế đó!

Tài liệu tham khảo:    

   * The glycemic index www.mendosa.com      http://www.mendosa.com/gilists.htm

   *Montignac, Conseils en nutrition. www.montignac-intl.com 

   *Jennifer R Scott, An Overwiew to the Atkins Diet. May 06, 2007

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Không có cách nào để bọc đường tin này: Một nửa người Mỹ lớn tuổi sẽ béo phì rất nghiêm trọng trong vòng hơn 12 năm nữa, theo một phúc trình mới tiên đoán.
Đông y, còn được gọi là y học cổ truyền Trung Quốc, là một hệ thống y tế lâu đời nhất được biết đến trên thế giới. Không như Tây y, Đông y tập trung vào một sinh lực gọi là “Khí” (hay chi) lưu chuyển trong cơ thể, và khi bị tổn thương, cơ thể sẽ dễ mắc bệnh. Các bác sĩ tìm hiểu căn cơ dẫn đến sự mất cân bằng về tinh thần và thể chất, sau đó thực hiện một cách tiếp cận toàn diện để chữa lành và phục hồi khí cho bệnh nhân.
Thường thường phải có thời gian trung bình là từ ba tới sáu tháng để một móng mọc ra từ gốc tới đầu của móng.Hướng mọc của móng được một lớp da mỏng mọc theo chiều cong ở đáy của móng. Miễn là nơi này của móng không bị tiêu hủy, các thương tích của móng có khuynh hướng kích thích sự tăng trưởng cho tới khi nó lành trở lại.
Theo Thiền sư Munindra (1915- 2003), tỉnh thức không phải là điều huyền bí nhưng đó là một một trạng thái bình thường mà chúng ta ai cững có thể thực hiện được bất cứ lúc nào hết. Nên hành thiền trong mọi hoàn cảnh và cho mọi sự việc: lúc ăn, lúc uống, lúc thay quần áo, lúc thấy, lúc nghe, lúc ngửi, lúc nếm, lúc sờ mó, lúc suy nghĩ…
Vị bác sĩ có ảnh hưởng y học trong suốt thế kỷ thứ 15 được sinh ra tại một thị trấn trước đây thuộc Hy Lạp Pergamum (ngày nay là Bergama, Thổ Nhĩ Kỳ) vào khoảng 129 AD. Claudius Galenus hoặc Galen là một thần đồng, viết ba cuốn sách lúc mới 13 tuổi. Sau khi đã hoàn tất toán học, canh nông, thiên văn học, và triết học, anh ta trở lại học y khoa và, trong 12 năm (thời đó học quá lâu) tại thành phố của mình và tại Smyrna, Corinth và quan trọng hơn, tại Alexandria.
“Năm 2008, thế giới có 115 nước trồng lúa và sản xuất khoảng gần 700 triệu tấn thóc mỗi năm…Lúa gạo là thức ăn căn bản của 36 quốc gia và cung cấp từ 20 đến 70% nguồn năng lượng quan trọng cho hơn phân nửa dân thế giới, đặc biệt tại nhiều nước Á Châu…“…Hiện nay lúa gạo ngày càng trở nên phổ biến sâu rộng ở các lục địa khác, như châu Mỹ, Trung Đông và nhất là châu Phi, vì loại thực phẩm này được xem như thức ăn bổ dưỡng lành mạnh cho sức khỏe và thích hợp cho đa dạng hóa thức ăn hàng ngày…” (Trần V. Đạt Ph.D)
Mỗi ngày ta hít thở khoảng 18,925 lít không khí. Thở có hai nhiệm vụ: Thứ nhất là nó cung cấp cho cơ thể dưỡng khí cần để đốt thực phẩm và cho dưỡng khí. Thứ hai là nó thải ra thán khí là chất không cần của đời sống. Dưỡng khí là chất hơi chiếm khoảng 20 phần trăm không khí mà ta hít vào phổi. Không khí thở ra chứa nhiều thán khí. Mặc dù thở là không tự chủ, tuy nhiên ta có thể du di nó một phần nào. Thí dụ ta có thể lấy hơi thật lớn trước khi lặn ở dưới nước.Ta cũng có thể ngưng thở nhưng đừng ngưng lâu quá; phản ứng không tự chủ bắt con người thở quá mạnh khiến ta không thể tự tử bằng cách ngưng thở.
Trong đời sống hằng ngày, cho để nhận là một chuyện rất bình thường trong mọi sự trao đổi lẫn nhau. Tôi trả tiền, tôi nhận món hàng. Vậy, cho để nhận là một quy luật tự nhiên hay còn là một nguyên tắc đạo đức? Đó là một hành động tự nguyện, bất vụ lợi, xuất phát từ lòng thương người?
Hoa Kỳ mất đi một cây cổ thụ quý giá có một trăm năm với hai ngày lẻ tuổi thọ.Trước sự ra đi này, đích thân vị nguyên thủ quốc gia cũng phải lên tiếng tỏ ý nuối tiếc là người Mỹ mới mất một bảo vật hiếm có. Đó là tài tử Bob Hope mà nhân dân Hoa Kỳ coi như một nhà ái quốc, một diễn viên hài tuyệt hảo, một người mang niềm vui tới cho mọi người.
Cách nay 100 năm, Émile Coué (1857-1926) một nhà tâm lý học và đồng thời cũng là một dược sĩ Pháp đã đề xướng ra phương pháp tư tưởng tích cực (pensée positive) để cải thiện sức khỏe. Đây là một phương pháp đơn giản và rất dễ thực hiện. Theo nhiều người cho biết nó tỏ ra rất hiệu nghiệm.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.