Hôm nay,  

Ngợi Ca Thị Trường

24/02/201000:00:00(Xem: 11017)

Ngợi Ca Thị Trường

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

...càng thu hẹp vận hành của thị trường lại càng tạo ra bất công xã hội...

Mọi chuyện khởi đầu hai năm về trước, khi tập đoàn đầu tư Bear Sterns của Hoa Kỳ vỡ nợ vào tháng Ba năm 2008 và bị bán tháo cho JP Morgan Chase. Rồi khủng hoảng lên tới cao điểm vào tháng Chín năm đó với sự sụp đổ của hàng loạt cơ sở tài chính Mỹ như Lehman Brothers, AIG, Fannie Mae và Freddie Mac... Từ Hoa Kỳ, vụ khủng hoảng tài chính lan rộng và gây hốt hoảng toàn cầu khiến người ta hoài nghi quy luật thị trường và nguyên tắc tự do kinh tế. Nhiều chính quyền phải trực tiếp can thiệp vào thị trường để cứu vãn tình hình. Hai năm sau, người ta bắt đầu thấy ra là kinh tế thế giới chỉ bị suy trầm toàn cầu chứ không bị khủng hoảng. Nhưng mối hoài nghi nguyên tắc tự do kinh tế thì vẫn còn, và vẫn còn ảnh hưởng đến chính sách kinh tế của nhiều quốc gia. Nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa nêu quan điểm ngược trong phần trao đổi của mục Diễn Đàn Kinh Tế đài RFA do Việt Long thực hiện sau đây. Rằng người ta không nên vì hốt hoảng mà vội xoá bỏ thị trường và phạm nhiều sai lầm khác về chính sách.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Hai năm sau vụ sụp đổ của tập đoàn đầu tư Bear Sterns tại Hoa Kỳ và những chấn động lan rộng cho kinh tế toàn cầu, người ta có thể nói là thế giới hú vía vì không bị một vụ Tổng khủng hoảng như đã xảy ra 80 năm về trước. Tất cả chỉ là một vụ suy trầm toàn cầu như ông trình bày cuối năm ngoái. Nhưng, nếu nhìn lại toàn cảnh trong viễn ảnh dài thì chúng ta có nên đưa kinh tế thị trường ra trước vành móng ngựa không" Vì dù sao, những bấp bênh của thị trường hay bất cẩn hoặc thậm chí sự bất lương của nhiều doanh gia đã dẫn tới tình trạng suy sụp chung mà nạn nhân chính yếu vẫn lại là dân nghèo ở khắp nơi. Đánh dấu hai năm của vụ khủng hoảng tài chính Mỹ, từ chuyện tổ hợp Bear Sterns vỡ nợ vào tháng Ba năm 2008, chúng tôi muốn mở lại hồ sơ này. Ông nghĩ sao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là nhờ thời gian lắng đọng, chúng ta rất nên mở lại hồ sơ ấy để đừng phạm nhiều sai lầm cũ. Sai lầm tai hại nhất là vì nạn suy trầm toàn cầu mà nhiều người hết tin tưởng vào quy luật thị trường, nhiều chính quyền còn can thiệp nặng nề hơn và gây nhiều tổn thất kinh tế cho người dân. Vụ tập đoàn đầu tư hạng thứ tư của Mỹ Bear Sterns vỡ nợ và phải bán tháo là "con hoàng yến chết trong hầm mỏ", tức là chỉ dấu báo hiệu tai họa, nhưng không là chỉ dấu duy nhất, mà cũng chẳng là nguyên nhân....
Việt Long: Xin ngắt lời ông ngay tại đây. Ông ví chuyện Bear Sterns với "con hoàng yến chết trong hầm", ẩn dụ ấy có nghĩa là gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Đây là điều ta cũng nên nhớ vì truyền thông kinh tế thường hay sử dụng. Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, người ta chưa có phương tiện kỹ thuật hiện đại để phỏng đoán tai nạn. Vào thế kỷ 19, giới khai thác than đá tại Anh và Mỹ thường đem theo chim hoàng yến xuống hầm. Khi thấy chim chết, họ có thể đoán là trong hầm có hơi độc chết người, như thán khí hoặc chất mêtan không mùi vị, để kịp ra khỏi hầm trước khi tai họa xảy ra. Sau đấy, giới kinh tế dùng chuyện ấy làm ẩn dụ để nói về chỉ dấu dù nhỏ nhoi mà báo hiệu chấn động lớn.
- Thật ra, con hoàng yến đầu tiên báo hiệu khủng hoảng tài chính là ngân hàng Northern Rock của Anh bị vỡ nợ từ ngày 14 tháng Chín năm 2007 vì tín dụng gia cư sụp đổ, và kéo theo nhiều ngân hàng Âu châu khác. Nghĩa là chỉ dấu đã manh nha từ một năm trước, và từ Âu Châu. Ngày nay mà các ngân hàng Âu Châu vẫn chưa ra khỏi khó khăn thì cũng do nguyên nhân của khủng hoảng nằm trong nội tạng của kinh tế Âu Châu chứ không vì bị lây bệnh từ Hoa Kỳ.
Việt Long: Bây giờ mà nhìn lại thì ta rút tỉa được những bài học gì mà ông nói rằng không nên đổ tội cho kinh tế tự do"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Giờ đây mà nhìn lại thì chúng ta thấy thế giới đã từng trôi vào chu kỳ suy trầm toàn cầu rất nhiều lần. Theo định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế được hầu hết các nước cùng áp dụng thì suy trầm toàn cầu - hay global recession - xảy ra khi tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế thế giới chỉ đạt mức tối đa là 3% một năm. Nếu đo lường như vậy thì từ khi Việt Nam tiến hành đổi mới và hội nhập vào thị trường thế giới, thế giới đã bị bốn đợt như vậy, trung bình thì cứ tám chín năm lại bị một lần. Vì vậy người ta mới gọi là chu kỳ, là hiện tượng thường tái diễn một cách định kỳ. Về cụ thể thì thế giới có bốn đợt suy trầm: 1990-1993, rồi 1998-1999, rồi 2000-2001. Mới nhất là vụ suy trầm 2008-2009.
Việt Long: Tuy nhiên, tình hình nhiều nơi vẫn chưa mấy khả quan hoặc còn quá nhiều bất trắc, cho nên người ta có quá lạc quan không khi nói rằng suy trầm đã hết"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Khi ta nói rằng chấn động rộng lớn vừa qua chỉ là một chu kỳ "suy trầm toàn cầu", hay "tổng suy trầm", thì đấy cũng là nhận định mà có người cho là lạc quan vì tin rằng tình hình thực tế còn quá u ám ở nhiều nước - ví dụ điển hình là Âu Châu mà diễn đàn này có đề cập tới ngay trước Tết Nguyên đán. Tức là nhân loại chưa ra khỏi hầm tối để thấy ánh sáng của hồi phục kinh tế.
- Tuy nhiên, nếu xét kỹ thì ta có thể thấy là nhiều quốc gia vẫn chưa thoát khỏi cảnh bấp bênh bất trắc như ông vừa hỏi chính là vì các "liều thuốc đổ bệnh", nôm na là bị hiệu ứng từ chính kế hoạch cứu nguy kinh tế. Cũng vì vậy mà bây giờ ta mới nên cảnh giác.
Việt Long: Nếu vậy, xin ông nói qua về những liều thuốc đổ bệnh ấy trước khi giải thích vì sao tự do kinh tế vẫn có giá trị và nhân loại đừng vội dẹp kinh tế thị trường.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Câu chuyện rất dài nên tôi chỉ xin trình bày rất đại lược về một số ví dụ tiêu biểu mà thôi.


- Trước hết, Nhật đã bị bể bóng đầu tư về địa ốc và chứng khoán đúng 20 năm trước mà chưa ra khỏi khủng hoảng và nay vẫn lại bị suy trầm nữa. Lý do bong bóng là thất quân bình từ cơ chế vĩ mô khiến mặt trời lặn quá lâu trên đất nước của Thái dương Thần nữ. Sau đó, ách tắc chính trị và nếp văn hoá muốn duy trì sự ổn định bằng mọi giá khiến Nhật Bản không dám cải cách mạnh cho kinh tế thêm tự do mà cứ tiếp tục biện pháp tăng chi để cứu nguy nên bị mắc nợ quá nặng. Một nguyên nhân khách quan khác là hiện tượng lão hóa dân số khiến năng suất chưa kịp tăng.
- Trường hợp nguy kịch thứ hai là Âu Châu. Khủng hoảng sở dĩ bùng nổ vì sự lạc quan thái quá sau khi giải phóng và hội nhập Đông Âu và Trung Âu, và ngày nay tiếp tục hoành hành vì nhiều nước Tây Âu đã tăng chi quá sức vì chủ trương bao cấp kinh tế - là trường hợp của các nước Pháp, Bỉ, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và nhất là Hy Lạp đang trên mé bờ vỡ nợ. Đã thế, cơ chế pháp lý và chính trị của cả Liên hiệp Âu châu lẫn khối Euro không cho phép giới hữu trách có biện pháp cứu vãn thích đáng. Việc hai cường quốc kinh tế là Đức và Pháp còn bị đình công tuần này ngay vào lúc cần phối hợp kế hoạch cứu nguy Hy Lạp cho thấy nỗi khó khăn của họ. Căn bản nhất là trong cả hai trường hợp Nhật Bản và Âu Châu, chế độ bao cấp và giới hạn tự do kinh tế mới khiến họ khó ứng phó với một chu kỳ suy trầm.
Việt Long: Còn trường hợp của Hoa Kỳ, dù sao cũng là nền kinh tế thuộc loại tự do nhất, vì sao kinh tế xứ này vẫn còn gặp bất trắc sau khi đã hồi phục từ sáu tháng nay"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Hoa Kỳ gặp một vụ khủng hoảng chính trị ngay trong thời chiến.
- Khủng hoảng chính trị bùng nổ từ hai yếu tố song hành mà nhập làm một. Thứ nhất là sự chủ quan và thiếu kỷ luật của đảng Cộng Hoà khi chiếm đa số khiến dân Mỹ thất vọng. Thứ hai là sự lạc quan cũng chủ quan không kém của đảng Dân Chủ sau khi đại thắng trong hai cuộc bầu cử liền vào các năm 2006-2008. Sự lạc quan thái quá xảy ra khi dân Mỹ đang hốt hoảng khiến Chính quyền lầm tưởøng rằng có thể nhân cơn khủng hoảng mà tiến hành cải tạo xã hội thay vì tập trung vào việc cứu nguy kinh tế và tạo thêm công ăn việc làm cho dân chúng.
- Cơ chế chính trị linh động của Mỹ - hơn Nhật Bản và Âu Châu rất xa - khiến Ngân hàng Trung ương Mỹ có thể ráo riết áp dụng biện pháp tiền tệ để kinh tế ra khỏi suy trầm từ giữa năm ngoái. Nhưng các biện pháp cải tạo xã hội của chính quyền đã gây ách tắc chính trị và đánh sụt niềm tin của dân chúng - và của thị trường như ta vừa thấy hôm Thứ Ba 23 này - khiến thất nghiệp chưa thể giảm và sản xuất chưa tăng mạnh. Yếu tố chính ở đây là nhiều người dại dột kết án thị trường và trông chờ vào chính quyền, mà chính quyền thì không ưu tiên kích thích kinh tế vì nhắm vào những ưu tiên khác. Vì vậy mà kinh tế sẽ ảnh hưởng ngược vào chính trị và dẫn tới thay đổi trong kỳ bầu cử cuối năm nay.
Việt Long: Bây giờ ta tiến sang trường hợp Trung Quốc là nơi có đà tăng trưởng rất cao nhờ sự can thiệp của chính quyền vào thị trường. Ông giải thích ra sao về hiện tượng này"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trong chương trình tuần trước, chúng ta có nói đến "ảo ảnh chết người" của Trung Quốc khi mà đầu tư đóng góp tới 92% vào đà tăng trưởng 8,7% của xứ này, trong khi thị trường xuất cảng vẫn sa sút và tiêu thụ thì èo uột. Sự việc ấy cho thấy là nếu nhà nước không thò tay đẩy cỗ xe kinh tế thì kinh tế sẽ trì trệ. Nhưng nhà nước không là giải pháp mà là vấn đề vì khi bơm tiền đầu tư qua ngả tín dụng và tăng chi thì cũng lại thổi lên bong bóng đầu tư và tái phân lại lợi tức cho một thiểu số có chức có quyền. Vì vậy, kế hoạch kích thích kinh tế thật ra gây tác dụng ngược và càng thu hẹp sự vận hành của thị trường lại vừa tạo ra bất công xã hội, nên tích lũy những động lực ngầm của động loạn. Nói như vậy thì nhiều người ở Hà Nội có thể không tin, nhưng nếu so sánh với tình hình Ấn Độ là một xứ bị suy trầm nhẹ hơn và có tốc độ tăng trưởng cũng rất cao thì ta thấy ra sự khác biệt.
Việt Long: Ông giải thích cho sự khác biệt ấy là gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Sau Trung Quốc 10 năm, Ấn Độ đã tiến hành cải cách từ 20 năm trước và dưới một chính quyền thiên tả, bao cấp, của đảng Quốc Đại. Thực tế thì đấy là cuộc cách mạng về tư duy sau khi xứ này áp dụng mô hình tập trung quản lý trong mấy thập niên liền rồi hiểu ra sự thể khi Liên bang Xô viết khủng hoảng và tan rã. Kết quả là kinh tế đạt tăng trưởng từ 7 đến 9%. Chính quyền bảo thủ của đảng Quốc gia lên nắm quyền từ năm 2000 tiếp tục đường lối đó cho tới năm 2005 thì thất cử, nhưng liên minh do đảng Quốc đại thiên tả trở về cầm quyền cùng với đảng Cộng sản vẫn theo đuổi việc cải cách kinh tế cho thêm tự do. Căn bản nhất như ta thấy là xứ này kiên định lập trường bảo vệ quy tắc dân chủ và khi bị suy trầm vẫn không áp dụng lại các biện pháp bao cấp thời xưa. Thành tích ấy ít được thế giới chú ý nhưng thật ra rất đáng cho Việt Nam nghiên cứu.
- Nói chung, kinh tế thị trường có thể gây nhiều xáo trộn hầu như định kỳ nhưng trong một bối cảnh tăng trưởng và phát triển khả quan hơn. Việc nhà nước can thiệp để điều chỉnh cơ chế và kích thích sản xuất là cần thiết. Nhưng, nếu vì những xáo trộn ấy mà nhà nước lại thu hẹp sự vận hành của quy luật thị trường để chủ động tái phân lợi tức và bố trí tài nguyên quốc gia thì kinh tế sẽ khó tăng trưởng. Và sẽ càng không thể phát triển vì những bất công và lệch lạc xuất phát từ chính nhà nước. Sau một trận suy trầm toàn cầu mà nhắc lại chuyện này thì không là vô ích.
Việt Long: Xin cám ơn ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.