Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Câu Chuyện Giáo Dục Tại Mỹ

14/04/200900:00:00(Xem: 6591)

Câu Chuyện Giáo Dục Tại Mỹ

Vũ Linh
...các học sinh tỵ nạn Việt đều đứng đầu lớp...
Đầu Tháng Ba vừa qua, TT Obama đọc bài diễn văn đầu tiên về cải tổ giáo dục tại Mỹ. Nói chung, những điều ông tuyên bố không có gì mới so với những hứa hẹn đã đưa ra khi tranh cử. Trước hết, ông chê trách hệ thống giáo dục hiện hành và kêu gọi tập trung nỗ lực để cải tiến. Sau đó, ông kêu gọi nên tăng thêm chương trình học hàng năm cho các học sinh. Ông nêu ví dụ là tại Nam Hàn, niên học dài hơn niên học Mỹ một tháng.
Kêu gọi cải tổ hệ thống giáo dục bết bát của Mỹ là chuyện tất cả các tổng thống Mỹ đều làm, ít nhất từ thời Carter đến giờ. Và những lời kêu gọi của TT Obama cũng không có gì mới lạ. Tuy nhiên trong chương trình cải tổ giáo dục lần này, hai điều ông đề nghị lại gây ngạc nhiên lớn -nếu không muốn nói là thắc mắc- cho các nghiệp đoàn giáo chức. Đó là ủng hộ kế việc trả lương giáo chức tương xứng với thành quả, và ủng hộ việc mở thêm các trường hiến ước (charter schools - xin sẽ giải thích sau).
Trước khi bàn thêm vào những đề nghị của TT Obama, chúng ta cần ghi nhận lại nguyên nhân vấn đề.
*
Nước Mỹ nổi tiếng là có hệ thống đại học uyên bác nhất. Trên thế giới ngày nay, không nước nào không có đại học, nên hiện đã có cả trăm ngàn đại học lớn nhỏ. Nhưng nói chung ít ai phủ nhận được các đại học Mỹ là những trung tâm xuất sắc nhất. Từ các trường danh tiếng như Harvard, Yale, MIT, Stanford, Berkeley, đến các đại học của tiểu bang (state universities), tất cả đều là giấc mơ của giới trẻ trên khắp thế giới, từ Âu sang Á, từ Phi đến Úc. Và ngay đến các nước chống Mỹ, hay là kẻ thù của Mỹ trước đây, hoặc có chủ trương chính trị xã hội đối nghịch với Mỹ, như các nước Hồi Giáo hay Trung Quốc và Việt Nam, cũng rất hồ hởi gửi thanh niên nam nữ qua Mỹ du học.
Có thể nói là đại học Mỹ là ngôi sao bắc đẩu ít quốc gia nào sánh kịp. Số giải thưởng Nobel về nhiều bộ môn khoa học dành cho các nhà nghiên cứu trong đại học Mỹ cũng có thể là tiêu chuẩn khác về giá trị của hệ thống giáo dục và đào tạo cấp đại học của Hoa Kỳ.
Thế nhưng, xuống đến cấp trung học thì trái lại, Mỹ là nước đang có vấn đề. Mà lại là những vấn đề lớn.
*
Cách đây không lâu, người ta tổ chức một cuộc khảo sát trong giới sinh viên năm đầu của đại học Mỹ, tức là các học sinh vừa tốt nghiệp trung học, bước qua ngưỡng cửa đại học hay cao đẳng. Được đưa cho coi một bản đồ thế giới không có ghi tên nước nào hay thành phố nào, một phần năm các sinh viên Mỹ này hoàn toàn mù tịt không biết nước Mỹ nằm ở đâu. Cũng theo một thăm dò khác, một phần tư số sinh viên mới vào đại học không viết được một bài luận tiếng Anh trôi chẩy.
Tất cả các cuộc thăm dò từ trước đến nay đều cho thấy học sinh trung học Mỹ đứng xấp xỉ hạng bét so với các học sinh cùng lớp của Á Châu, Âu Châu, và cả Nam Mỹ.
Các học giả, chuyên gia giáo dục đã bù đầu bù cổ đi tìm nguyên nhân, và tìm cách sửa đổi.
*
Nếu nói về nguyên nhân thì thật ra, chẳng cần mất thời giờ hay tiền bạc để tổ chức thăm dò quy mô và tốn tiền kiểu Mỹ. Tất cả các bậc phụ huynh trong đám dân Việt tỵ nạn chúng ta đều có thể trả lời một cách mau lẹ: trường học Mỹ vô kỷ luật và thật sự chẳng dạy gì hết.
Hồi năm 1975 là năm người Việt chúng ta bắt đầu đổ qua Mỹ. Một số lớn đã mau chóng ghi tên đi học lại tại các trường Mỹ, từ các trường hàm thụ, dạy nghề, cho đến các lớp Anh ngữ, các trường trung học… đủ loại, đủ cấp.
Và họ hết sức ngỡ ngàng với cách học của người Mỹ. Trò và thầy như bạn bè cười nói luyên thuyên, cãi nhau như mổ bò, cả thầy lẫn trò quần áo lôi thôi lếch thếch, đầu tóc đủ kiểu, từ rối bù đến trọc lóc, thầy muốn dạy kiểu gì thì dạy, trò muốn học hay không cũng mặc, học trò đi học có hai tờ giấy trắng xếp làm năm làm ba nhầu nát, bỏ túi quần cao bồi. Về đến nhà là vội bật TV coi đủ loại phim, hoặc như ngày nay, chơi đủ loại games. Bài vở về nhà làm chẳng bao giờ thấy. Tại trường đến giờ nghỉ giải lao, “ra chơi”, thì trai gái cỡ 12-13 tuổi là đã cặp kè ôm ấp hôn hít công khai, nếu không phải là tụ năm tụ bẩy hút sì-ke với nhau.
Trong tình trạng đó, nếu có học sinh nào mà học giỏi mới là chuyện lạ. Và cũng chính trong tình trạng đó mà các học sinh tỵ nạn Việt đều đứng đầu lớp trong hầu hết các trường tại các nơi có cộng đồng tỵ nạn Việt. Các phụ huynh Việt không bao giờ dung túng cho con cái học hành theo kiểu Mỹ.
*
Tình trạng bê bối của các trường trung học Mỹ là hậu quả của ba yếu tố chính.
Thứ nhất hầu hết các trường trung học là trường công, tất cả các trẻ em trong tuổi đi học đều bắt buộc phải ghi tên theo học, thượng vàng hạ cám, không có sự tuyển lựa nào.
Thứ nhì, các học sinh Mỹ đều là “bất khả xâm phạm”. Hơi có lời nói nặng hay lấy thước gõ đầu là thầy giáo có nhiều hy vọng bị thưa ra tòa, mất việc, đi tù như không.
Thứ ba, Nhà Nước trả lương giáo chức, tuy không cao nhưng được bảo đảm không bao giờ bị sa thải, chẳng những vì họ là công chức - và công chức thì không bao giờ bị sa thải - mà cũng vì sức mạnh rất lớn của nghiệp đoàn giáo chức, không thua gì các nghiệp đoàn nhân công xe hơi.
Dù việc làm được bảo đảm, nhưng vì mức lương thấp nên hệ thống giáo dục công lập ít thu dụng được người giỏi. Mức lương không cao mà việc làm lại bảo đảm thì dĩ nhiên đưa đến tình trạng thầy dạy dở vì không có động lực khuyến khích, và còn nuôi dưỡng tinh thần vô trách nhiệm, bất cần.
Đã vậy, các trường trung học Mỹ lại có cái nạn bắt buộc học sinh phải học theo trường đã được chỉ định, và chỉ định bởi các… chính trị gia muốn trộn chấu các thành phần học sinh trắng, đen, vàng, nâu, đủ loại với chủ đích tạo ra sự “kết hợp chủng tộc”, gọi là racial integration. Các vị chức sắc đó ngồi nghiên cứu bản đồ rồi vẽ ra khu vực cho mỗi trường trung học và tiểu học. Mỗi nhà đều được chỉ định trường học cho con em.
Tình trạng đó thường dẫn tới trường hợp tréo cẳng ngỗng tại nhiều khu trắng và đen gần nhau, với mục đích bắt một số học sinh da trắng qua khu đen học, và ngược lại mang một số học sinh đen qua khu trắng. Đôi khi có trường học cách nhà một con đường, nhưng phải đi xe buýt của Nhà Nước để đi học tại một trường khác cách đó năm ba dặm.
Sự kiện trường dở kèm theo chuyện trộn chấu đã gây bất mãn cho nhiều phụ huynh, nhất là giới da trắng hơi khá giả. Kết quả, họ đem con qua học trường tư.
Các phụ huynh này khiếu nại họ phải mang con qua học trường tư tốn bộn tiền rồi, mà mỗi năm vẫn phải trả thuế trường học -school taxes- cho các chính quyền tiểu bang và địa phương để họ nuôi các trường công, mặc dù con họ không học tại các trường công đó. Coi như họ phải trả tiền học phí cho con hai lần.
*
Để tránh tình trạng ấy, Nhà Nước chế ra một loại phiếu học phí (school vouchers). Đây là phiếu của chính phủ cấp cho phụ huynh nào muốn cho con học các trường trung học tư thục, coi như là bồi hoàn tiền thuế trường học mà họ phải đóng. Cũng không khác gì một loại học bổng. Trị giá từ 2.500 đến 5.000 đô la cho một học sinh, tùy tiểu bang.
Tuy số tiền này giảm được phần nào gánh nặng học phí, nhưng dĩ nhiên vẫn không thấm vào đâu so với học phí tại các trường tư thục.
Biện pháp ấy đưa đến tình trạng... “phân chia giai cấp”, chỉ có con nhà giàu mới có tiền học trường tư, trong khi con nhà nghèo thì lụi đụi trong mấy trường công hết sức bết bát, và như vậy coi như con nhà nghèo không có cơ hội thăng tiến.


Một số chuyên gia cho rằng không cần phải cấp phiếu học phí để học trường tư gì cả mà chỉ cần cải tổ chế độ lương giáo chức. Đặt tiêu chuẩn cho rõ ràng, rồi lượng giá giáo chức và trả lương họ theo thành quả. Đây là trọng tâm của kế hoạch cải tổ của TT Bush.
Nhưng dĩ nhiên, biện pháp này bị các nghiệp đoàn chống đối mạnh cho dù theo một nguyên tắc rất hợp tình hợp lý, được áp dụng khắp nơi, trong tất cả các công ty, hãng xưởng, ngành nghề.
Để có thể áp dụng nguyên tắc ấy mà không bị các nghiệp đoàn ngăn chận, một số tiểu bang nghĩ ra một kế sách mới: đó là các trường trung học “hiến ước” (việc chuyển ngữ này có lẽ chưa hoàn chỉnh lắm để chỉ các trường mà Mỹ gọi là “charter school”, những trường tự nguyện tôn trọng một số quy ước trong hiến chương).
Đây là trường do tư nhân - cá nhân hay tổ chức - thành lập, nhưng theo quy chế trường công. Nôm na là trường bán công. Giống các trường công, các trường hiến ước này không thu học phí vì được tài trợ bởi tiểu bang. Nhưng tuy theo quy chế trường công,  các trường này có hiến chương (charter) riêng, tức là có quy luật riêng, với điểm nổi bật nhất là không mướn giáo chức trong nghiệp đoàn giáo chức, do đó không bị ràng buộc bởi điều kiện khắt khe của nghiệp đoàn. Nhờ vậy, các trường này có quyền ấn định lương giáo chức một cách tự do, thưởng lương cao cho giáo chức giỏi, tra lương thấp cho mấy người dở, và có thể sa thải luôn nếu quá tệ.
Đây là những chuyện không thể xẩy ra trong các trường công cổ điển dưới sự “thống trị” của các nghiệp đoàn.
Các tiểu bang tài trợ loại trường này dựa trên số học sinh ghi tên. Trung bình các trường nhận được khoảng 7.000 đô đến 10.000 đô (tùy tiểu bang) cho mỗi học sinh d8i học trong trường. Đây là số tiền mà các tiểu bang trợ cấp cho các trường công cho mỗi học sinh của trường, được lấy từ ngân sách giáo dục của tiểu bang. Nói cách khác, các trường loại này thu hút bao nhiêu học sinh thì các trường công sẽ mất nguồn tài trợ cho ngần ấy học sinh.
 Người ủng hộ trường hiến ước cho rằng sự xuất hiện của loại trường này sẽ tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh để thu hút học sinh, từ đó mới hy vọng các trường công cải tiến. Nếu duy trì tình trạng độc quyền như trước đây thì các trường công vĩnh viễn nằm trong tình trạng bết bát, không bao giờ khá được.
Với ba vấn đề trên, trả lương giáo chức theo thành quả, phiếu học phí và trường hiến ước, dĩ nhiên là các nghiệp đoàn giáo chức hết sức chống đối. Theo các nghiệp đoàn, cả ba phương cách đều trực tiếp đe dọa sự tồn tại của trường công. Trên thực tế, cả ba phương cách đều đe dọa sự tồn vong của nghiệp đoàn.
*
Về phía chính quyền, chủ trương của TT Bush và phe Cộng Hòa là mạnh mẽ ủng hộ cả ba kế hoạch là trả lương theo thành quả, phiếu học phí và trường hiến ước. Khi tranh cử tổng thống vào năm 2000, nền tảng của chương trình tranh cử của ông Bush là cải tổ giáo dục. Ông muốn đi vào lịch sử như tổng thống sẽ cải tổ toàn diện hệ thống giáo dục Mỹ. Có lẽ một phần vì ảnh hưởng bà vợ là giáo viên tiểu học.
Vừa đắc cử không bao lâu thì TT Bush hợp tác với lãnh tụ cấp tiến nhất bên của Dân Chủ (khi ấy, ông Barack Obama chưa vào Thượng viện) là Thượng nghị sĩ Ted Kennedy để ra luật  “No Child Left Behind” (Không Trẻ Em Nào Bị Bỏ Rơi). Điều không may cho ông tổng thống này là kế hoạch quy mô ấy chỉ thực hiện được một phần rất nhỏ vì Nhà Nước không có tiền. Cuộc chiến chống khủng bố tại Afghanistan, Iraq và ngay tại Quốc nội đã làm cạn ngân sách.
Kết quả là TT Bush chẳng đạt được thành quả gì đáng kể trong việc cải tổ giáo dục Mỹ và còn bị phe bảo thủ trong đảng oán trách vì hợp tác với một Nghị sĩ thiên tả nhất là Kennedy!
Về phía Dân Chủ, phản ứng có phần không rõ rệt cho lắm.
Trước tình trạng bết bát quá đáng của trường công, ai cũng đồng ý là phải cải tổ. Phe Cộng Hòa đưa ra các kế hoạch trên. Phe Dân Chủ thấy có điểm tích cực nhưng lại sợ mất phiếu của nghiệp đoàn giáo chức, và rồi cũng chẳng nghĩ ra được giải pháp nào tốt hơn. Thành ra không biết phải làm sao.
*
Bây giờ đến lượt ông Obama nhập cuộc.
TT Obama chấp nhận nguyên tắc trả lương giáo chức theo thành quả (vì nghe có vẻ công bằng) và cũng ủng hộ việc thành lập trường hiến ước (vì dù sao thì cũng là trường công miễn phí). Nhưng mặt khác, ông không chấp nhận các phiếu học phí vì có vẻ như học bổng khuyến khích phụ huynh cho con theo học trường tư đắt tiền của nhà giàu. Tuy lập trường của ông Obama có vẻ nửa chừng xuân, nhưng nội chuyện ông chấp nhận nguyên tắc thưởng phạt với giáo chức đã làm các nghiệp đoàn dẫy nẩy vì sợ một số không nhỏ các giáo chức sẽ bị sa thải.
Chuyện lo sợ này không phải không có cơ sở, như ta có thể thấy ở vài thí dụ sau đây.
Thí dụ thứ nhất là tại thủ đô. Trước sự suy thoái trầm trọng của hệ thống trường học tại thủ đô Washington D.C. khiến học sinh luôn xếp hạng bét trong tất cả các thăm dò, hội đồng đô thành đã mướn một thầy giáo gốc Đại Hàn tên là Michelle Rhee làm Giám Đốc Học Vụ cho cả quận hạt Columbia, vùng thủ đô.
Tướng người nhỏ nhắn, trẻ trung, tươi cười, hiền lành, nhưng bà Rhee mau chóng trở thành một thứ “sát thủ”. Bà sa thải hàng loạt giáo chức bà cho là không xứng đáng, tăng lương hàng loạt các giáo chức khác bà cho là nhiều khả năng. Nói cách khác, bà không cần biết ảnh hưởng của nghiệp đoàn, thẳng tay cải tổ hệ thống giáo dục tại thủ đô, có thưởng có phạt theo khả năng rõ ràng. Chuyện mà tất cả các chính trị gia đều hứa mà không dám làm. Bà Rhee không là chính trị gia nên không cần phiếu của nghiệp đoàn.
Hành động quyết liệt của bà đã mang lại thành quả rõ rệt khi những thăm dò mới nhất cho thấy trình độ học sinh tại thủ đô có tiến triển.
Phe Cộng Hòa dĩ nhiên hoan nghênh nhiệt liệt. Phe Dân Chủ dè đặt hơn vì vẫn sợ mất phiếu ghiệp đoàn giáo chức, nhưng cũng không dám chống đối công khai vì những thành quả có thật của bà Rhee.
Điều làm cho phe cấp tiến thiên tả khó chịu là bà Rhee không phải là thành phần bảo thủ Cộng Hòa. Bà ủng hộ ứng viên tổng thống Obama! Mặc dù bà thẳng tay đối phó với các nghiệp đoàn và ủng hộ việc bắt giáo chức phải có thành quả cụ thể cũng như ủng hộ các trường hiến ước, bà cũng chống đối mạnh mẽ việc cấp phiếu học phí.
TT Obama có ý ủng hộ bà Rhee, nhưng mặt khác vẫn phải vuốt ve các nghiệp đoàn.
*
Thí dụ thứ hai là thành phố Detroit.
Trong kế hoạch kích động kinh tế, TT Obama dành cho các trường học ngân sách khổng lồ hơn một trăm tỷ để các trường có tiền sửa chữa tu bổ, và nhất là trả lương cho giáo chức để họ khỏi “đào ngũ” qua hệ thống trường tư và các trường hiến ước. Dĩ nhiên càng nhiều giáo chức đào ngũ thì các nghiệp đoàn sẽ càng suy yếu.
Trong chương trình kích động thì thành phố Detroit - với kết quả bết bát nhất trên toàn quốc và tỷ lệ nổi bật là chỉ một phần tư (24%) học sinh tốt nghiệp được trung học - được cấp cho 530 triệu đô, và được toàn quyền sử dụng tùy hỷ. Tung ra hơn nửa tỷ mà chẳng ai rõ sẽ được chi tiêu thế nào, giúp được gì trong việc cải tiến trình độ học sinh, hay kích động gì kinh tế! Ngược lại, giải pháp của bà Rhee chẳng tốn xu nào mà mang lại kết quả cụ thể trông thấy.
Cũng như trong bao vấn đề khác, giải pháp của TT Obama là tung cả trăm tỷ tiền thuế của dân ra để giải quyết. Một trăm tỷ này chắc chắn là chẳng liên hệ xa gần gì đến kích động kinh tế. Nhưng có cải tiến được hệ thống giáo dục của Mỹ hay không thì chúng ta hãy chờ. Và hãy xem phản ứng của các nghiệp đoàn giáo chức, nếu như mình thực sự  quan tâm đến chuyện học hành của con em (12-4-09).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.