Hôm nay,  

Năm mươi năm, Một chặng đời…

4/23/202505:17:00(View: 2874)

Lê Lạc Giao

Năm mươi năm, Một chặng đời…
  

Quê hương đó chưa một lần về lại

Dòng sông xưa giờ chắc đã xa nguồn

Một lần hẹn để rồi ra đi mãi

Ở phương này sương gió dục mưa tuôn[1]

  

Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975[2] là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.

blank 
 

Là một người Việt nam lưu vong từ một cuộc chiến tranh thất bại, sự tồn tại và ý nghĩa cuộc sống của tôi đến ngày hôm nay đích thực biểu hiện sự thừa hưởng di sản tinh thần từ một cuộc chiến tranh. Tôi quan niệm Định mệnh lịch sử của mỗi cuộc chiến tranh chính là kết quả vinh quang hay nhục nhằn mà những con người liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc chiến tranh thừa hưởng. Trong suốt nửa thế kỷ qua, tôi đã sống cùng bóng tối của sự nhục nhằn mà cuộc chiến dành cho những kẻ thua cuộc. Với thân phận chính trị con người, thực ra không cần thiết khi đề cập đến chính nghĩa hay phi nghĩa của một cuộc chiến tranh mà chỉ nên nói Thắng - Bại hoặc Được - Thua, bởi vì sau khi cuộc chiến tranh chấm dứt cả hai phía đều thừa hưởng trọn vẹn di sản của nó. Lúc ấy dù muốn phủ nhận hay chấp nhận, cuộc sống của những con người thoát thai từ cuộc chiến tranh vẫn cứ tiếp tục;  và năm mươi năm trôi qua đã có hơn ba thế hệ người Việt nam lưu vong sống tại nước ngoài từ khi cuộc chiến tranh Việt nam chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.  

Là con người dẫu cụ thể hay trừu tượng ai cũng có một quê hương. Quê hương là biểu tượng tình cảm gắn bó đối với nơi chốn mình sinh ra, lớn lên, hay trải qua một thời gian đủ dài cho bất kỳ ai có dịp ngoảnh lại bảo rằng “ở đó tôi một thời sinh sống, một thời kỷ niệm…”  mang ý nghĩa một chặng đời trải qua của mình. Đấy là một định nghĩa mang tính phổ quát hai chữ Quê Hương, và sâu xa hơn nữa vì tính chất lịch sử và truyền thống dân tộc, quê hương còn ràng buộc sinh mệnh con người trên căn bản nòi giống cha ông.  
 

Nếu tôi hoặc chúng ta bằng lòng thân phận con người với đầy đủ trang bị tinh thần như thế thì nhìn lại ý nghĩa quê hương trong lòng con người Việt Nam lưu vong như thế nào? Phải chăng chúng ta chỉ là những rong rêu đeo bám trên dòng sông lạc loài, ngày một xa cội nguồn gốc rễ hay có thể đã quên mất cội nguồn gốc rễ? Thời đại toàn cầu hóa giúp con người gần gũi với những sự kiện, thông tin thường xuyên cập nhật cho nhận thức có thể giúp ích phần nào những kẻ sống với tâm thức lưu đày, hay mặc cảm đánh mất quê hương, hoặc cùng cực hơn nữa bị quê hương ruồng bỏ chối từ như tôi hôm nay. Niềm kiêu hãnh, lòng tự tôn trong thân phận chính trị của kẻ không chịu sống chung một bầu trời với người cộng sản không đủ sức che dấu, xoa dịu những bức thiết, đau buồn của “một con ngựa cất tiếng hí dài mỗi khi nghe gió Bấc” trở về bi thương vô cùng tận[3].
 

Đấy là một bi kịch đối với những con người Việt nam lưu vong thế hệ đầu tiên đến Hoa Kỳ và các nước khác trên thế giới sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cho đến hôm nay thế hệ ấy còn rất ít và trong đó có tôi, tuy cuộc sống trên quê hương thứ hai thật đầy đủ, thật trọn vẹn cho một giấc mơ hoàn hảo, nhưng trong hồn tôi vẫn khôn nguôi nỗi ám ảnh lưu đày vì mãi chèo chiếc thuyền đời mình lênh đênh trên dòng sông xa cội nguồn gốc rễ.
 

Rất nhiều người Việt như tôi tại Hoa Kỳ mãi ước mơ mong mỏi một ngày đất nước có tự do dân chủ để trở về, nhất là sau khi cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt và chế độ cộng sản trên thế giới hầu như hoàn toàn tan rã.  Tuy vậy, đất nước Việt Nam thống nhất vẫn mãi trơ trơ dưới sự cai trị của đảng cộng sản với chiêu bài đối mới kiểu “treo đầu dê bán thịt chó.”  Họ không mỏi mệt tuyên truyền vai trò độc tôn không thay thế được của đảng cộng sản, để được vĩnh viễn cai trị đất nước Việt nam như chế độ quân chủ chuyên chế của những ông vua các thế kỷ trước.   
 

Bước sang thế kỷ 21, thế giới “toàn cầu hóa” cùng cuộc cách mạng công nghiệp, hai đất nước cộng sản Trung quốc và Việt nam còn lại sau chiến tranh lạnh, tiếp tục thỏa hiệp với phương thức đổi mới chiến lược kinh tế kiểu kinh tế tư bản chủ nghĩa dấu mặt hầu sống còn. Người dân từng sống dưới chế độ cộng sản với lý thuyết kinh tế nhà nước xã hội chủ nghĩa tập trung, triền miên chịu đựng sự đói nghèo, thiếu thốn mà biểu tượng rõ ràng nhất “thời bao cấp”.  Chính sách “Đổi mới” cho phép kinh tế cá thể,  người dân được tự do buôn bán làm ăn, nông dân giã từ hợp tác xã tích cực lao động sản xuất trên đồng ruộng gia đình, hưởng được thành quả trực tiếp từ mồ hôi nước mắt của mình đã khiến đất nước phát triển nhanh chóng như phép lạ. Phương thức kinh tế tư bản là nền kinh tế căn bản sản xuất, thương mại thị trường tự do mà mọi người trong nước trực tiếp tham gia. Nền kinh tế đổi mới này mang đến sự thỏa mãn nhu cầu trao đổi cho tất cả mọi người, thế nên dân tộc có đầu óc thực tiễn như người Trung quốc trong hai thập niên đã vươn lên vị trí giàu có và dần trở thành cường quốc kinh tế. Đảng cộng sản Việt nam theo chân Trung quốc đổi mới, giải phóng đất nước thoát khỏi sự đói nghèo, từng bước nâng cao đời sống người dân và Việt nam có được bộ mặt thịnh vượng phát triển hôm nay. Và cũng từ kết quả này mà  thế giới dường như quên mất chủ nghĩa cộng sản một thời gây bao đau thương điêu đứng cho loài người.    


 

Sự phát triển của Trung Quốc ngày hôm nay còn làm thay đổi chiến lược kinh tế chính trị toàn cầu. Vấn đề đặt ra là chủ nghĩa ý thức hệ không còn thiết yếu quan trọng trong việc xây dựng thể chế cai trị, lãnh đạo đất nước, mà chính phương thức làm ăn quản lý kinh tế mới chính yếu quyết định giúp đất nước giàu có phát triển. Lúc này người ta nói với nhau về GDP[4] tức Tổng Sản Phẩm Quốc nội của mỗi nước trước khi tìm hiểu đất nước đó được cai trị lãnh đạo như thế nào. Kinh tế phát triển nâng cao GDP, và lợi tức đầu người người dân trong nước. Nếu trước kia ai cũng bảo “đấu tranh để tồn tại” thì ngày hôm nay “đấu tranh để lợi tức đầu người nâng cao.” Thế là đủ và rõ ràng ý thức hệ chủ nghĩa thực sự lỗi thời lạc hậu, và ngày hôm nay tổng quát thế giới có hai nhóm nước đều áp dụng phương thức kinh tế tư bản chủ nghĩa. Nhóm một từ lâu với thể chế tự do dân chủ như Mỹ, liên minh châu Âu, Úc, Nhật bản, Nam hàn … và nhóm nước thứ hai với nền kinh tế tư bản kiểm soát đi kèm chế độ độc tài độc đảng kiểu Nga, Trung quốc, Việt nam… Con người từ đó tôn vinh quyền tự do lựa chọn bất kỳ phương thức cai trị, lãnh đạo nào miễn nó có thể mang lại sự giàu có cho mọi người, hơn là phân tích phê phán bản chất chế độ ảnh hưởng như thế nào đối với con người nhân văn.  Trung quốc ngày nay là hình mẫu đối với những nước còn phân vân trước việc chọn lựa một thể chế chính trị thế nào để cai trị đất nước mình. Do đó các từ Tự do, Dân chủ giờ đây tuy định nghĩa không thay đổi, nhưng giá trị ý nghĩa thực tế nhẹ hơn nhiều so với nguyên bản gốc.
 

Thế giới đổi thay quá nhanh về mặt nhận thức chính trị. Những mâu thuẫn xung đột đấu tranh trong lĩnh vực chính trị không còn mang tính chiến thuật và chiến lược ngày trước. Lý do cuộc cách mạng toàn cầu hóacách mạng công nghệ làm đảo lộn những phương cách, sách lược cũ trước kia. Nó là lý do chính làm thay đổi thế giới và tái tạo quan điểm chính trị, kinh tế và xã hội ngày hôm nay.
 

Bên cạnh đó sự phát triển ghê gớm của trí tuệ nhân tạo AI[5] hầu như đưa con người đến một bến bờ mới mà chính họ không biết thực ảo như thế nào. AI tạo ra được kết quả mà con người ước muốn, khát khao. Ngày hôm qua tôi ngồi nghe nhạc Jazz của thập niên 1920s, 1930s trên TV với hiện diện đầy đủ ban nhạc, ca sĩ, khán thính giả trong không gian và thời gian của hơn thế kỷ trước do AI tạo ra. Phải nói tôi thưởng thức một cách khoái lạc với cách tiếp cận mới mẻ này, và tôi được biết trong tương lai không xa AI còn làm nhiều điều kinh khủng hơn thế nữa. AI đang trên đà thu ngắn khoảng cách ước mơ và sự thật để có thể đạt được kết quả phi thời (imtempestive) do nó định hình tái tạo công trình quá khứ trên cả không gian ba chiều.

AI chính là bản sao của trí tuệ con người và không ngừng lũy tiến khả năng của mình bằng vào tốc độ và tham số công trình mỗi ngày. Ngày hôm  nay AI đã gần như cân bằng với trí tuệ của một con người có chỉ số thông minh tối đa, tuy nhiên AI còn vượt qua con người bằng cách có thể cùng một thời điểm tạo ra bản sao trí tuệ gấp nhiều lần, giống như máy in có thể in nhiều và in nhanh bản sao trong một khoảnh khắc nhất định. Về mặt nghệ thuật AI có khả năng làm thơ, viết văn, vẽ tranh, viết nhạc… như ước mơ của con người và sẽ từng bước cải tiến khả năng cho đến khi đạt được kết quả mong muốn là những kiệt tác (magnum opus) ra đời phục vụ nhu cầu nghệ thuật. 
 

Tôi nghĩ một ngày AI có khả năng thay thế cả những giá trị nhân văn mà ngày trước chúng ta khăng khăng bảo rằng nó độc nhất vô nhị. Ngày nay AI tuy không làm mất đi những niềm tin giá trị đó, nhưng nó có khả năng làm người ta quên đi những giá trị một thời tồn tại như một yếu tố định vị thân phận con người. Và nếu ai đó có nhớ lại tự hỏi đồng thời cũng tự bào chữa cho sự quên lãng của mình chỉ vì AI có khả năng thay thế mọi thứ mà chính con người ước muốn thay thế. AI thực sự biểu tượng khát vọng và tham vọng của loài người hôm nay.
 

Trong khi đó nỗi thương nhớ, hoài niệm Quê Hương (Nostalgia) đối với những kẻ lưu đày chúng ta như thế nào, nếu đảng cộng sản cứ mãi ăn trên ngồi trốc đất nước quê hương Việt Nam?  Chắc chắn chúng ta mãi mãi hoài vọng một quê hương chỉ có trong ký ức và lưu giữ trong  tiềm thức. Vậy AI một ngày sẽ biến chúng ta trở thành khán giả trước một sân khấu đang trong thời điểm chúng ta lớn lên và trưởng thành tại quê nhà. Thời gian sẽ bị xóa đi một khi chúng ta nhập được vào vai “đứa con đi hoang trở về”. Và lúc ấy qua AI, chúng ta hoàn tất nỗi thèm muốn một quê nhà tiền chiến tranh. Tôi thực sự hình dung một sân khấu kiểu Kabuki mà AI tái tạo để rồi thành kẻ tuẫn đạo trên hành trình tìm về một thiên đường đã mất. Tâm lý của những con người chịu kiếp lưu đày năm mươi năm thông qua AI sẽ xóa đi ranh giới giữa ảo và thực và dành cho chúng ta một nụ cười: Nụ cười của kẻ sống với khung cảnh êm đềm, một quê nhà trong buổi  hoàng hôn! 
 

Lê lạc Giao

4/12/2025

 

 


[1] Thơ Dương Hoài

[2] The Fall of Saigon

[3] Hồ mã tê bắc phong

[4] Gross domestic Product

[5] Artificial Intelligence



Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Ngày 4/1/2025, trong phòng House Press Gallery của Capitol Hill, giữa hàng trăm dân biểu chuẩn bị tuyên thệ nhậm chức, có một người đàn ông gốc Việt, nắm chặt tay cậu con trai nhỏ của ông, đứng trò chuyện với các dân biểu, thượng nghị sĩ khác. Vài tiếng sau đó, cùng với các dân biểu đắc cử trên khắp tiểu bang nước Mỹ, ông đưa tay tuyên thệ, chính thức trở thành dân biểu liên bang gốc Việt đầu tiên đại diện cho Little Saigon trong 50 năm qua.
Trong 50 năm vừa qua, cộng đồng Việt Nam đã có những thành tựu nào về chính trị và văn hóa? Thực tế là đã có rất nhiều chuyển biến. Thời gian đầu là những cộng đồng tỵ nạn ở Hoa Kỳ, lan rộng thành những cộng đồng đông người Việt hơn ở rất nhiều nước trên thế giới; và rồi hình ảnh những người thất trận và tỵ nạn mờ nhạt đi. Nhiều thế hệ trẻ ra đời, trưởng thành, trở thành và gánh vác một căn cước mới. Từ đó, có nhiều cộng đồng mang thêm sức mạnh chính trị, văn hóa.
Có lần tôi đứng trước một căn phòng đầy học sinh trung học và kể một câu chuyện về thời điểm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, về việc tôi đã bỏ chạy sang Mỹ khi còn nhỏ, và trải nghiệm đó vẫn ám ảnh và truyền cảm hứng cho tôi như thế nào, thì một cô gái trẻ giơ tay hỏi tôi: “Ông có thể cho tôi biết tại sao cha tôi không bao giờ kể cho tôi nghe về cuộc chiến đó không? Cha tôi uống rượu rất nhiều, nhưng lại ít nói.” Giọng nói cô run rẩy. Cô gái bảo cha cô là một người lính miền Nam Việt Nam, ông đã chứng kiến nhiều cảnh đổ máu nhưng nỗi buồn của ông phần nhiều là trong nội tâm, hoặc nếu đôi khi thể hiện ra ngoài thì bằng những cơn thịnh nộ.
Những ngày này, trên phạm vi cả nước, đảng cộng sản việt nam đang tổ chức rầm rộ kỷ niệm 50 năm ngày “giải phóng” Miền Nam, thống nhất đất nước. Thực chất, đây là cuộc nội chiến tương tàn giữa hai anh em Bắc- Nam cùng một Nước vì ý thức hệ cộng sản và dân chủ. Lẽ ra, sau khi đã “thống nhất”, “bên thắng cuộc” phải chủ động trong việc “hòa giải, hòa hợp” dân tộc để tái thiết và phát triẻn Đất Nước. Nhưng, 50 năm qua, hận thù vẫn luôn được nhà cầm quyền cộng sản nuôi dưỡng và khích lệ dưới mọi hình thức.
Điều thú vị nhất của nghề làm báo là luôn có sự mới lạ. Ngày nào cũng có chuyện mới, không nhàm chán, nhưng đôi khi cũng kẹt, vì bí đề tài. Người viết, người vẽ, mỗi khi băn khoăn tìm đề tài, cách tiện nhất là hỏi đồng nghiệp. Ngày 26 tháng 3, 1975, hoạ sĩ Ngọc Dũng (Nguyễn Ngọc Dũng: 1931-2000), người dùng bút hiệu TUÝT, ký trên các biếm hoạ hàng ngày trên trang 3 Chính Luận, gặp người viết tại toà soạn, hỏi: “Bí quá ông ơi, vẽ cái gì bây giờ?”
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Vũ Xuân Thông sinh ngày 9 tháng 12 năm 1939 tại Hà Nội. Là gia đình có đạo dòng, Thông theo học trường Puginier, là một ngôi trường cổ xưa được xây cất từ năm 1897 tại Hà Nội. Năm 1954, khi gia đình di cư vào Nam, ở tuổi 15 Thông là con trai cả trong một gia đình lúc đó có 4 anh em: Vũ Xuân Thông, Vũ Văn Thanh, Vũ Văn Phượng, Vũ Thị Bích, sau này trên vùng đất mới, gia đình Thông có thêm 2 người em nữa là Vũ Hồng Vân, Vũ Văn Dũng.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.