Hôm nay,  

Tiêu mau kẻo trễ.

21/11/202500:00:00(Xem: 807)
 
Khanh Trường Phục Sinh
Phục Sinh - Tranh Khánh Trường

Thỉnh thoảng chúng tôi hay tới thăm ông niên trưởng Hải Quân của tôi. Ông đã gần 90 tuổi, mái tóc đã bạc trắng, bên khuôn mặt nhiều vết nhăn, đi đứng chậm chạp, nhưng ông vẫn minh mẫn, trí nhớ vẫn rành rẽ về những câu chuyện thời cuộc xa xưa, và hát vẫn rất hay. Lần thăm viếng vừa qua, ngồi nói chuyện với ông lâu hơn. Trong câu chuyện ông kể: “mình qua đây làm việc vất vả, mong ngày về hưu đưa vợ con đi du lịch cho biết đó biết đây, nhưng không thành, vì bà vợ bị tai biến mạch não khiến nửa người bị tê liệt phải ngồi xe lăn đã 25 năm qua, đi đâu cũng khó khăn”. Tôi bồi hồi xúc động, nhìn ông với tất cả sự cảm thông.

Trong ba thập niên 1970s, 1980s, 1990s hàng triệu người Việt đã ồ ạt bỏ nước ra đi tìm tự do. Hầu hết ra đi với hai bàn tay trắng, mang theo trái tim in hằn vết thương của chiến tranh và thời cuộc. Đến đất lạ, quê người phải lao mình vào cuộc sống mới, làm lụng vất vả để xây dựng lại cuộc đời. Người Việt tị nạn làm hai ba việc chân tay, kể cả những ngày cuối tuần. Sau đó, để vươn lên cho một ngày mai tươi sáng hơn, họ đã phải vừa đi làm, vừa đi học. Kí ca, kí cóp dành dụm được ít tiền thì gởi về giúp gia đình đang khốn khổ ở Việt nam. Hoặc giúp gia đình tìm đường vượt biên. Sau đó, lại tiếp tục làm việc ngày đêm để dành tiền mua căn nhà, cái xe tốt hơn, hoặc để dành phòng khi bị cho nghỉ việc bất thình lình. Và rồi, lại tiếp tục làm việc cật lực để lo cho các con ăn học nên người. Chắt chiu cứ thế bám theo họ gần cả đời người. Khi về già, lại không dám tiêu, để dành tiền phòng khi bịnh hoạn, hoặc để lại cho các con khi lìa đời .

*
***
 
Có một câu chuyện mà tôi nhớ mãi. Đó là câu chuyện của Đại Đế Alexander the Great. Alexander là vua của Macedonia, một vương quốc Hy Lạp cổ đại. Ông kế vị cha mình là Philip II lên ngôi vào năm 336 trước Công nguyên ở tuổi 20. Ông dành phần lớn thời gian trị vì của mình để chinh phục Đế chế Ba Tư (Persian Empire), bao gồm cả khu vực sau này trở thành trung tâm của Đế chế Ottoman, tức là Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Đến năm 30 tuổi, ông đã tạo ra một trong những đế chế lớn nhất trong lịch sử, trải dài từ Hy Lạp đến tây bắc Ấn Độ. Ông bất bại trong mọi trận chiến và được coi là một trong những vị  chỉ huy quân sự vĩ đại và thành công nhất trong lịch sử.

Trên đường trở về sau khi xâm chiếm và chinh phục nhiều nước trên thế giới, Alexander ngã bệnh nặng, nằm chờ chết. Khi đối diện với tử thần, ông bỗng nhận ra rằng: những chiến tích, quân đội hùng mạnh, lưỡi gươm sắc bén, tiền tài của cải… chẳng đem lại điều gì khi ta nằm xuống. Giờ đây ông chỉ ao ước được nhìn lại gương mặt người mẹ hiền để nói với bà lời vĩnh biệt. Nhưng ông đành phải chấp nhận với sự thật rằng, ông đang đối diện với sức khoẻ đang tàn lụn của ông, và bịnh tật không cho phép ông trở về nơi quê nhà xa xăm kia nữa. Vị vua oai hùng giờ đây nằm liệt giường, gương mặt xanh xao, mệt lả, chờ phút lâm chung.

Alexander triệu tập các tướng lãnh và nói: “Ta sắp lìa cõi thế gian này và ta có 3 điều ước, các ngươi hãy ghi nhớ và thực hành cho đúng”. Nước mắt lăn dài trên má, các vị tướng cúi đầu vâng lệnh, và hứa sẽ thi hành đúng những điều ước của Đại Đế.

“Điều ước thứ nhất của ta là …” Alexander nói, “các ngự y của ta phải khiêng quan tài của ta”. Ngừng một lát, ông tiếp: “Điều ước thứ hai là quan tài của ta phải được khiêng tới mộ phần trên con đường rải bằng vàng, bạc, và đá quý mà ta cất giữ trong kho châu báu.” Đại Đế kiệt sức sau khi tuyên bố những lời trên, ông nghỉ một phút rồi tiếp: ” Điều ước thứ ba của ta là hãy để hai bàn tay ta thòng ra ngoài quan tài.”

Mọi người đều ngạc nhiên trước những ước muốn cuối cùng của Đại Đế Alexander, tuy vậy, không ai dám hé môi nêu lên thắc mắc của mình. Một vị tướng thân cận với Alexander hôn lên tay ông, đặt tay ông lên ngực mình và nói: “Thưa Đại Đế, chúng thần xin hứa sẽ hoàn tất tốt đẹp tất cả những ước nguyện của Ngài, nhưng xin Ngài cho biết lý do tại sao Ngài có những điều ước lạ lùng này không? ” Lúc bấy giờ Alexander hít một hơi dài rồi nói: “Ta muốn thế giới biết 3 bài học mà ta đã lãnh hội được:

Điều ước thứ nhất: “Ta muốn các ngự y của ta khiêng quan tài vì các ngươi phải hiểu rằng các người ấy không có khả năng để có thể cứu vớt con người khỏi móng vuốt cuả tử thần. Bởi thế, con người không nên xem nhẹ đời sống của mình mà phải tự chăm lo sức khỏe”.

Điều ước thứ hai: “Trải vàng, bạc, châu báu trên lối đi đến nghĩa trang”. Ta muốn con người hiểu rằng: mặc dầu ta đã dùng suốt cuộc đời để tạo ra của cải, nhưng khi chết, ta không mang theo được gì cả. Theo đuổi làm giàu chỉ phí thời giờ vô ích!”

Và về điều ước thứ ba: ”ta muốn thòng hai tay ra ngoài quan tài “. Với điều ước này, ta mong  con người hiểu rằng: ta vào đời với hai bàn tay trắng, và lìa đời cũng với hai bàn tay trắng mà thôi.”

Nói xong, nhà vua nhắm mắt lại. Trong phút chốc, tử thần đã chinh phục ông, và ông đã trút hơi thở cuối cùng.

*
***
 
Sau bốn năm chục năm làm việc cật lực, không dám tiêu pha, đã trở thành bản năng của nhiều người Việt tị nạn trong thế hệ đầu tiên. Một ông bạn của tôi đã tìm ra chân lý trong nhiều năm trước và đã phán một câu xanh rờn: Tiêu mau kẻo trễ! Tiêu mau trước khi lìa đời! tiêu mau trước khi sức khỏe không cho phép chúng ta đi đứng vững vàng khi đi du lịch đó đây, và đừng bao giờ để: xe tang đi trước, xe tiền theo sau. Con cháu chúng ta đã được chúng ta lo lắng cho ăn học, có số vốn kiến thức để có thể tự sóng vai cùng người bản xứ trong mọi lãnh vực, và tiến xa hơn. Do đó, chắc chắn các cháu sẽ không phải làm những công việc vất vả như thuở chúng ta, những người tị nạn Việt nam, đã phải làm khi chân ướt, chân ráo đến xứ sở này.

Những năm gần đây, một số đông bạn của tôi bắt đầu tiêu pha rộng rãi hơn, rủ nhau đi du lịch đó đây. Chúng tôi đã cùng đi những chuyến du lịch đường bộ hoặc đường biển qua nhiều nước tại Âu châu, Bắc/Nam Mỹ châu, và nhiều nước tại châu Á. Nhiều ông đã thực thi châm ngôn “Tiêu mau kẻo trễ” đi du lịch mỗi tháng hai ba lần, như ăn trả bữa sau khi ốm dậy.

Trong một chuyến du lịch bằng du thuyền, được phục vụ tối đa, ăn uống thả dàn, một ông bạn tôi sung sướng ra mặt, quay qua tôi nói: “Thế này mà các ông bà văn sĩ cứ nói tiền bạc không mang lại hạnh phúc! Tôi nhìn ông, mỉm cười và thầm nghĩ: Tiền có thể không mua được thời gian; không mua được sức khỏe. Nhưng tiền có thể mua được những khoảnh khắc khiến ta thấy mình đang sống, chứ không chỉ đang tồn tại. Và như thế, cũng đủ ấm cả quãng đời còn lại.

Nhân dịp Lễ Tạ Ơn, xin cảm tạ mọi đấng tối cao đã cho chúng ta được an bình, đầy đủ và hạnh phúc.

Phạm Xuân Thái
(Virginia, Thanksgiving 2025.)
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm nay gần lễ Phật Đản, chúng ta nghe thầt Đạt Ma Huy Bảo nói chuyện trong khóa tu một ngày, thầy kể vui lắm, về câu chuyện người dẫn đường hay nói rõ hơn là người chỉ đường. Bắt đầu là một cô phật tử, cũng là hình thức người dẫn đường, cô ngoan đạo, có nhiều tín tâm và từ tâm nên hay đi giúp những người vừa mất, họ họp thành một nhóm 7, 8 người, đi độ niệm cho người chết vừa chết, hướng dẫn vong linh cầu nguyện buông bỏ phiền toái thế gian, xin mau sớm gặp đức từ phụ A Di Đà tiếp dẫn…
Tuần này tôi đi tiễn một anh bạn đồng tuế vừa nằm xuống. Gọi là đồng tuế nhưng anh nhỉnh hơn tôi một tuổi. Thấy anh nằm thảnh thơi, bạn bè mừng cho anh. Mừng vì anh chỉ bị cảm có một tuần rồi nhẹ nhàng ra đi. Đi như vậy là phúc. Mấy ông bạn già ai cũng khen vậy. Cái chết hình như thân cận với những người đã quá luống tuổi. Họ đã nhờn với anh thần chết. Nhớ: Nguyễn Xuân Hoàng những ngày cuối của căn bệnh ung thư cột sống đã nhắn tin cho tôi: “Tao không sợ chết, chỉ sợ đau”.
Kỹ thuật về điện thoại di động đã tạo điều kiện cho mọi người có thể lưu lại hình ảnh hoặc một sự kiện nào đó đang xảy ra của hiện tại. Những sự ghi lại này đã góp phần tốt trong việc tìm ra những sự việc sai trái của cá nhân hay của tổ chức nào đó hầu đưa ra ánh sáng của tòa án. Tuy nhiên có những trường hợp không nên dùng phương tiện điện thoại di động để thu lại hình ảnh và đưa lên mạng xã hội. Điều này ít ai để ý đến và có thể làm nguy hiểm đến một cá nhân nào đó. Hãy nhìn ở một góc nhìn rộng lớn để cùng nhau bàn thảo cho chủ đề này.
Bạn tôi, nhà thơ Triều Hoa Đại ấn hành tác phẩm Lên Rừng Đếm Lá. Nhân dịp nầy, người bạn vong niên từ thời ở Đà Nẵng - Lê Bảo Hoàng (nhà thơ Luân Hoán) - hai nhà thơ thực hiện cuộc trò chuyện với nhau. Theo Triều Hoa Đại thì khi rời bỏ đất nước ra đi, hình như một số anh, chị em trong đó có tôi đã bỏ “của” mà chạy lấy người nên đã không đem theo được một tác phẩm nào…
Chiếc British Airways khởi hành lúc 10 giờ đêm từ phi trường Trudeau, Montreal Canada, bay hai tiếng rưỡi đến Heathrow, London (LHR), nằm ở phía Tây London, cách trung tâm thành phố 23km, là một sân bay bận rộn nhất Châu Âu với hàng triệu lượt khách mỗi năm; chúng tôi chờ ở đây hai tiếng rưỡi, rồi bay tiếp thêm 7 tiếng rưỡi nữa để đến Madrid, thủ đô của Tây Ban Nha (Spain). Madrid đi trước Montreal 6 tiếng vào mùa đông và 5 tiếng vào mùa hè bắt đầu vào cuối tháng 3 đến cuối tháng 10.
Ngày thứ bảy 15/3/2025 vừa qua, các nhân viên làm việc cho các đài phát thanh Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA và đài Á châu Tự Do RFA khi tới sở đã nhận được lệnh nghỉ hành chánh, phải ra về và nộp lại thẻ báo chí. Báo chí cho biết đây là khởi đầu cho tiến trình phẹc mê bu tích các đài phát thanh này. Giám đốc đài VOA Michael Abramowitz lập tức ra tuyên bố: “Tôi vô cùng đau lòng khi lần đầu tiên sau 83 năm, đài VOA lừng lẫy không được phép lên tiếng. Sáng nay tôi mới hay tin gần như toàn bộ nhân viên VOA, hơn 1.300 nhà báo, nhà sản xuất và nhân viên bị cho nghỉ hành chánh. Tôi cũng không phải ngoại lệ”. Ngoài đài VOA, đài Á Châu Tự Do RFA cũng cùng chung một số phận. Đài Á châu Tự Do là một đài phát thanh tư nhân phi lợi nhuận, được chính phủ Hoa Kỳ tài trợ nhằm cung cấp thông tin, tin tức và bình luận trực tuyến cho thính giả tại Á châu. Đài hoạt động bằng 9 thứ tiếng trong đó có tiếng Việt. Đài bắt đầu hoạt động từ ngày 12/3/1996 với mục đích thúc đẩy và nâng đỡ tự do và dân chủ tới những ng
Phải thanh minh thanh nga ngay cho các cụ, đây không phải chuyện trâu già gặm cỏ non mà là chuyện ngày xưa các cụ tán gái khi còn thanh xuân. Chuyện trâu già gặm cỏ non cũng có, khi cụ Nguyễn Trãi làm thơ tán cô bán chiếu Nguyễn Thị Lộ, nhưng tuy đây là một cuộc tán gái nổi tiếng nhưng không thuộc vào category này nên không nhắc tới tại đây.
Sáng sớm hôm nay, khi mở hộp thư, nhận được tin, tôi liền điện thoại cho anh Phạm Văn Nhàn, người bạn thân với anh chị Thương – Quy. Hỏi, “Anh Nhàn ơi, anh hay tin gì chưa? Anh Lê Ký Thương đã ra đi lúc 9 giờ 50 phút sáng hôm nay 14/2/2025. Cả hai anh em đều buồn. Im lặng một lúc, anh kể mới gọi thăm anh LKT cách nay mấy tuần. Chị Quy nói chuyện rồi đưa phone qua cho anh Thương, nhưng khi đó miệng anh Thương đã cứng, không nói được gì...
Hồi trẻ tôi đi lính xa nhà có lần về phép được Mạ tôi nấu cho một bữa cơm ngon ngất ngư. Ăn lạ miệng tôi hỏi cơm chi Mạ nói cơm Âm Phủ. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được ăn món cơm mang cái tên thật kỳ dị của xứ Huế, quê Mạ tôi. Khi tôi trở ra đơn vị ở Cheo Reo, Mạ không quên bới cơm Âm Phủ cho tôi mang theo. Biết đâu nhờ miếng "cơm ma" này mà tôi sống sót cho tới ngày tàn cuộc chiến.Ngày nay Mạ tôi đã gần trăm tuổi, tôi cũng chẳng còn trẻ trung chi. Hai mẹ con cùng tóc bạc da mồi, cùng lụm cụm ngồi ôn lại chuyện xa xưa ở quê nhà. Khi tôi nhắc tới cơm Âm Phủ thì Mạ tôi cười thật hiền, nụ cười "hăng rết hết răng" thiệt là dễ thương.
Mỗi năm, tôi đều nhận được điện thư hoặc thiệp chúc Tết từ một số bạn, trong đó có nó. Nó không gởi thư Merry Christmas, Happy New Year, chỉ duy nhất dịp Tết Âm lịch. Nó là dân miền Tây cần cù, hiếu hoc, là bạn thân của tôi...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.