Hôm nay,  

Wabi-sabi Triết lý sống không hoàn hảo của người Nhật

07/11/202500:00:00(Xem: 818)

Wabi 1
Trân trọng điều không hoàn hảo (Ảnh: Internet)
 
Wabi-sabi:
 
Vào một buổi chiều tuyết trắng rơi ngoài hiên, ngồi một mình, chợt nhớ đến một câu thơ mà tôi đã đọc được cách đây lâu lắm rồi. Tuy đã quên tên tác giả, nhưng tôi vẫn nhớ mãi câu thơ vì ý thơ rất hay, nó gây ấn tượng trong tôi rất lâu:
 
„Đời đang tìm những khiếm khuyết để yêu nhau“.
 
Cuộc sống này không có ai là hoàn hảo mà cũng không có cái gì là hoàn toàn, tất cả mọi sự vật trên đời này đều có khiếm khuyết và không vĩnh cửu. Chính vì thế nếu ai cố gắng đi tìm sự tuyệt đối, họ sẽ thất vọng. Câu thơ trên muốn nói lên ý tưởng, hãy chấp nhận và trân trọng những khiếm khuyết của nhau để chúng ta tới gần nhau hơn, hiểu nhau hơn.  Nhà khoa học nổi tiếng Stephen Hawking còn đi xa hơn nữa, ông khẳng định „Nếu không có sự không hoàn hảo, cả  bạn và tôi đều không tồn tại” ("Without imperfection, neither you nor I would exist."). Ông muốn nói sự „không hoàn hảo“ của vũ trụ, những giao động đột biến trong quá trình tiến hóa, những sai lệch trong định luật vật lý đã là những điều kiện để tạo nên sự sống trong đó có con người.
 
Thời đại của chúng ta đang sống là thời đại của Internet, của điện thoại di động (mobile phone), của thực tế ảo (virtual reality), của trí tuệ nhân tạo (AI),… Tất cả những cái đó đã đưa đến  sự đòi hỏi tối ưu hóa về kỹ thuật, tối đa hóa về xử lý những dữ kiện khổng lồ và cũng như tối đa hóa về vận tốc đã đẩy con người đi tới trạng thái luôn luôn bị áp lực, xa rời thực tế để đưa đến xu hướng phải đạt được sự hoàn hảo tuyệt đối, không tì vết trong cuộc sống cũng như trong công việc. Một hội chứng đã được nẩy sinh ra trong thời đại kỹ thuật số (digital age) mang tên „hội chứng hoàn hảo“, tên khoa học „hội chứng Atelophobia“, dành cho những con người theo chủ nghĩa hoàn hảo. Họ luôn luôn lo sợ bản thân làm không được, làm không đủ tốt, làm có thể bị chê bị trách. Nỗi sợ kém hoàn hảo, có khiếm khuyết làm họ lo lắng, hoảng sợ nhiều khi mất ăn mất ngủ rồi đâm ra bị trầm cảm.
 
Đi ngược lại những ám ảnh làm sao đạt được sự hoàn hảo tuyệt đối, triết lý Wabi-sabi đã xuất hiện ở Nhật Bản cách đây cả mấy trăm năm và đã ăn sâu vào tiềm thức người Nhật nhắc nhở chúng ta khiếm khuyết chỉ là một phần tự nhiên trong cuộc sống, chấp nhận điều không hoàn hảo để từ đó chúng ta có cuộc sống hạnh phúc hơn và nhẹ nhàng hơn. Wabi-sabi khuyến khích chúng ta nên buông bỏ, chấp nhận không phải mọi thứ đều hoàn hảo hay vĩnh cửu, hướng dẫn chúng ta trở về với chân thực, với những đơn sơ mộc mạc của thiên nhiên và xa rời những ảo giác không thực để hưởng cái tĩnh lặng của một buổi chiều sắp qua đi hay một buổi uống trà thanh tịnh và ngay cả trong một ngày trời âm u, mưa tầm tã, Wabi-sabi cũng hướng chúng ta tìm thấy được một nét đẹp nào đó trong lúc trời đất đang nổi cơn „gió bụi“.
 
Wabi-sabi là một khái niệm về thẩm mỹ và triết lý theo truyền thống của người Nhật tập trung vào vẻ đẹp của sự không hoàn hảo, không vĩnh cừu và không hoàn toàn đi từ giáo lý của đạo Phật là vô thường, khổ và vô ngã. Vô thường là một trong ba dấu ấn của Tam Pháp Ấn khẳng định mọi sự đều thay đổi, không vĩnh cửu theo quy trình của „thành, trụ, hoại, diệt“. Wabi-sabi tôn vinh vẻ đẹp thoáng qua không hoàn hảo như đóa hoa sắp tàn, một phiến đá phủ rêu xanh, một ly trà bị nứt. Wabi-sabi chấp nhận vẻ đẹp in dấu vết của thời gian, sự lão hóa của vạn vật, phản ảnh triết lý Vô thường. Khổ là chân lý thứ nhất trong Tứ diệu đế chỉ ra nguyên nhân của khổ đau là sự bám víu vào những thứ không trường tồn. Wabi-sabi khuyến khích nhận diện và chấp nhận điều không hoàn hảo như là một liều thuốc để hòa giải với khổ đau. Vô Ngã của đạo Phật dạy chúng sanh buông bỏ và không bám víu vào „cái tôi“, nguồn gốc của khổ đau. Wabi-sabi khuyến khích con người sống khiêm nhường, buông bỏ „cái tôi“, đề cao sự hòa đồng vào thiên nhiên.
 
Wabi 2
Nét đẹp của sự phai tàn theo thời gian trong thiên nhiên (Ảnh: Tác giả)
 
Wabi-Sabi kết hợp từ hai từ Wabi và Sabi. Mỗi chữ mang một ý nghĩa riêng nhưng khi kết họp lại mang một ý nghĩa chung là không hoàn hảo, đơn giản và phù du. Lúc ban đầu Wabi mang ý nghĩa là cô đơn, u buồn có tính cách tiêu cực. Sau này khi tiếp xúc với Thiền của đạo Phật, Wabi được hiểu nghĩa tích cực hơn như đơn giản, khiêm nhường và chấp nhận mọi vật không hoàn hảo. Sabi có ý nghĩa vẻ đẹp của sự vật theo thời gian trở nên cũ kỹ, hao mòn một cách tự nhiên, Như một bức tường loang lổ rêu phong hay một thanh gỗ bạc màu theo ngày tháng. Nó không có tính tiêu cực mà là một sự chấp nhận và trân trọng vẻ đẹp tự nhiên, không hoàn hảo trong quá trình soi mòn của thời gian. Wabi-sabi bắt nguồn từ khoảng thế kỷ 12-16, thời kỳ mà đạo Phật xâm nhập và phát triển mạnh mẽ ở Nhật. Wabi-sabi không phải là một lý thuyết khô khan mà đúng hơn là phong cách người Nhật áp dụng nó vào đời sống hàng ngày, trong nghệ thuật, kiến trúc và cả quan niệm sống của họ.
 
Sau đây là 3 câu chuyện có dính dáng đến triết lý sống Wabi-sabi.
 
Câu chuyện về bức tường không hoàn hảo:
 
Cách đây đã lâu, tôi có dịp đọc được cuốn sách của thiền sư Ajahn Brahm bằng tiếng Đức „Die Kuh, die weinte“, nguyên bản bằng tiếng Anh „Opening the Door of  Your Heart“. Ajahn Brahm là người Anh sinh ở London, năm 17 tuổi ông quy y theo Phật giáo và đã từng học ở đại học Cambridge về ngành vật lý học, ra trường đi dạy học ở trường trung học một thời gian ngắn. Năm 23 tuổi, Ajahn Brahm qua Thái Lan để xuất gia tại tu viện Wat Saket dưới sự hướng dẫn của thiền sư Ajahn Chah, thuộc hệ phái Nguyên Thủy. Ajahn Chah là một thiền sư danh tiếng và rất được tôn kính ở Thái Lan. Sau 9 năm tu tập, Ajahn Brahm được cử qua Úc để lập tu viện và hướng dẫn Phật tử ở đó. Trong sách, ông kể lại cái thủa ban đầu mới tới Úc, tu viện còn rất nghèo nàn, chưa có nhà cửa khang trang như bây giờ, nên tất cả các tăng ni, cả thầy lẫn trò, đều phải xắn quần xắn áo, bỏ chuông, gác mõ, xếp bồ đoàn tạm thời qua một bên. Người làm thợ hồ, người làm thợ mộc, người đi cuốc đất, tay xách xẻng, tay cầm sà beng đi xây tu viện. Ajahn Brahm được giao cho nhiệm vụ xây một bức tường, một công việc mà thiền sư chưa bao giờ làm. Nhưng vốn tính kiên nhẫn và chăm chỉ, sau một thời gian cố gắng vật lộn với gạch, cát và xi măng, ông đã hoàn tất công việc được giao phó. Ajahn Brahm vui mừng và hãnh diện đứng chiêm ngưỡng bức tường đầu tiên mà mình đã tự tay xây lên. Bất chợt ông khám phá ra 2 viên gạch nằm không ngay hàng, thẳng lối, hơi bị lệch ra ngoài. Ăn không ngon, ngủ không yên với hai viên gạch nằm sai chỗ. Hai viên gạch quái ác ấy đã trở thành nỗi ám ảnh của ông từ ngày này qua ngày khác. Đến nỗi ông không còn muốn nhìn bức tường đó nữa. Mỗi lần có khách tới thăm, ông đều tìm cách dẫn khách đi đường vòng để tránh gặp bức tường. Nhưng một hôm, có một vị khách quí tới thăm, vô tình đi qua và đã buộc miệng khen bức tường xây rất đẹp. Giật mình và ngạc nhiên Ajahn Brahm hỏi lại là khách có nhìn thấy 2 viên gạch nằm sai chỗ không? Vị khách mỉm cười, trả lời là chỉ nhìn thấy bức tường với 998 viên gạch được xây rất ngay hàng thẳng lối. Câu trả lời đã làm Ajahn Brahm tỉnh ngộ, thời gian qua vô tình ông đã bỏ mất quá nhiều thời gian để tập trung vào 2 viên gạch „không hoàn hảo“ mà quên đi 998 viên gạch còn lại được xây rất „hoàn hảo“. Từ đó cho đến về sau, Ajahn Brahm chỉ còn nhớ đến bức tường với 998 viên gạch xây rất đẹp mà ông đã bỏ công sức để dựng lên và với hai viên gạch còn lại, ông chấp nhận nó như một định luật trong cuộc sống „không có gì là tuyệt đối“ và cũng „không có gì là hoàn hảo“. Và cũng từ đó, thiền sư đã tìm lại sự bình an của mình.
 
Ajahn Brahm viết tiếp cũng như trong cuộc sống gia đình nếu chúng ta chỉ nhìn thấy, 2 viên gạch không hoàn hảo “ trong người vợ hay người chồng của mình mà quên đi “ 998 viên gạch còn lại được xây rất hoàn hảo“ thì hạnh phúc gia đình chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều và con đường dẫn đến chia tay chắc cũng không xa lắm. Cuộc sống này vốn vô thường, không có gì hoàn hảo mà chả có gì là hoàn toàn. Bởi chẳng có gì tồn tại mãi với thời gian, chẳng có gì hoàn toàn 100% và cũng chẳng có gì hoàn hảo mà không có khiếm khuyết. Tất cả cái gì đi ngược lại là điều không tưởng và trái với tự nhiên. Nếu chúng ta biết áp dụng triết lý Wabi-sabi vào cuộc sống để nhận diện và chấp nhận những khiếm khuyết, những thứ không hoàn hảo thì chúng ta sẽ thấy nhẹ nhàng hơn và có cái nhìn rất khác về cuộc sống hơn.
 
Câu chuyện không tưởng về sắc đẹp vĩnh cửu:
 
“Sắc đẹp vĩnh cửu“ tên một cuốn phim với tựa đề tiếng Anh “The Age of Adaline“ được đạo diễn Lee Toland Krieger mang ra trình chiếu vào năm 2015. “Sắc đẹp vĩnh cửu“ là một câu chuyện kể về Adaline, một cô gái trẻ đẹp 29 tuổi. Một tai nạn suýt nữa làm cô mất mạng đã mang lại cho cô một „đặc ân“ là được trẻ mãi không già. Đây là nỗi mơ ước của mọi phụ nữ muốn mình có được một sắc đẹp vĩnh cửu. Nhưng đối với Adaline, đây là một nỗi đau và cũng là một nỗi khổ tâm không dứt. Vì càng ngày Adaline càng trở lên cô độc, khi những người chung quanh cô già đi và chết, ngay đứa con gái của cô cũng không tránh được định luật „sinh lão bệnh tử“, còn Adaline thì mãi mãi trẻ trung với tuổi 29. Cô giấu điều bí mật đó và để có một cuộc sống bình thường, không bị soi mói, dò xét của mọi người, cô thay đổi liên tục chỗ ở, thay đổi giấy tờ và cô đã sống đơn côi như thế gần 1 thế kỷ. „Sắc đẹp vĩnh cửu“ mà con người ai cũng mong muốn, đã trở thành bi kịch đối với Adaline, cô sống với những ngày tháng lặng lẽ, buồn tẻ trôi đi. Cho đến một hôm, cô gặp được một chàng trai tên là Ellis. Ellis là người đã khơi dậy sự đam mê, lãng mạng và cuối cùng đã đánh thức tình yêu trong Adaline trổi dậy, một người đàn bà trên 100 tuổi nhưng mang một thân xác của cô gái chưa đầy 30. Tình yêu đã thay đổi đời cô hoàn toàn và mãi mãi. Cuối cùng cô chỉ ao ước như mọi người khác, được già đi với Ellis, người mà cô rất yêu thương. Nỗi sợ hãi ám ảnh lớn nhất của cô là ngày nào đó Ellis không còn nữa, cô phải ở lại thế gian sống một cuộc đời trơ trọi. Câu chuyện trong cuốn phim “Sắc đẹp vĩnh cửu“ đã nhấn mạnh về ý nghĩa của cuộc sống khi không có sự kết thúc và đi ngược lại định luật của thiên nhiên “thành, trụ, hoại, diệt“. Bởi sự lão hóa hay ngay cả cái chết cũng là những phần không thể tách rời khỏi cuộc sống của con người. Wabi-sabi là triết lý khuyến khích chúng ta nhìn nhận thực tế, chấp nhận quy luật của đổi thay, của vô thường, của “sinh lão bệnh tử“ để chúng ta trân trọng hơn về hiện tại và nơi đây.
 
Câu chuyện về tịch trà (wabi-cha):
 
Đây là một câu chuyện về một nhân vật đặc biệt, người Nhật tên là Sen No Rikyū (1522-1591), một vị thầy về trà đạo. Trà đạo là một phong cách uống trà với những dụng cụ thật đơn giản, với bối cảnh xung quanh thật giản dị mà chủ yếu là tập trung vào để thưởng thức trà trong yên tĩnh và thanh tịnh.
 
Một hôm vào chiều mùa thu, Rikyū sai học trò  sửa soạn một buổi uống trà ở trong sân vườn. Được lệnh của thầy, người đệ tử đã hăng hái đi quét lá, xếp lại những viên đá vương vãi trong vườn và cắt tỉa lại những nhánh cây cho gọn gàng đẹp mắt. Trong lúc học trò đang làm vườn, người thầy đứng âm thầm quan sát. Một lúc sau, ông tới một cây sum suê lá và ra sức rung mạnh thân cây để lá trên cây rụng xuống đầy sân. Đây chính là sự khởi nguồn của triết lý sống trong Wabi-sabi, đề cao sự mộc mạc, đơn giản, hòa hợp với thiên nhiên, ngay cả chấp nhận điều khiếm khuyết để nhận diện được cái đẹp, cái tinh hoa trong đó. Rikyu ở thế kỷ 16 được coi là cha đẻ của trà đạo  (Chanoyu) mà cũng còn được gọi là phong cách uống trà wabi-cha (tịch trà). Rikyu đặt trọng tâm trong việc uống trà là sự thanh tịnh, yên tĩnh chỉ có chủ  với khách ngoài ra không còn gì quan trọng hết. Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của „trà đạo“ vào thế kỷ thứ 16, Wabi-sabi đã được đưa lên địa vị cao nhất trong quan niệm về thẩm mỹ ở nước Nhật.
 
Wabi-sabi xoa dịu những vết thương:
 
Cuộc đời không phải là một con đường thẳng tắp, êm ái không có những khúc quanh vấp ngã, những dốc sâu của thất bại, những hố thẳm của cạm bẫy. Chấp nhận sự không hoàn hảo là để xoa dịu đi nỗi đau khổ của thất bại làm đòn bẩy để đứng lên tiến tới thành công cho mai sau. Bởi vì mỗi lần thất bại là một bài học cho ngày mai. Chấp nhận những vấp ngã không đồng nghĩa với đổ vỡ cuộc đời mình mà là một cơ hội để thay đổi hiện tại.
 
Sự ra đi bất ngờ của người thân thương cũng là nỗi đau thương tưởng chừng như không bao giờ dứt. Wabi-sabi chỉ cho chúng ta cuộc sống là hữu hạn, chỉ thoáng qua, không phải mãi mãi như thế mà còn có thay đổi, có lão hóa và có mất mát. Chấp nhận cuộc sống chỉ là phù du là hòa giải những nỗi đau thương mất mát và để chúng ta trân trọng hơn những giây phút hiện tại mình đang sống.
 
Wabi-sabi khuyến khích chúng ta sống đơn giản, mộc mạc, chân thực, gần gũi và hòa đồng với thiên nhiên. Điều đó giúp chúng ta cân bằng được cuộc sống vì không phải chạy theo xa hoa, phù phiếm, nhất thời để đưa tới sự bình an trong một thế giới luôn luôn biến động. Như một buổi uống trà trong thanh tịnh (Wabi-cha) mang đến cho chúng ta những giây phút tận hưởng sự lắng đọng tâm hồn làm giảm bớt đi căng thẳng và lo âu.
 
Cuối cùng, Wabi-sabi không phải là lý thuyết suông mà là phong cách sống, như Trịnh Công Sơn đã từng viết lời tựa trong tập nhạc "Tự tình khúc" chấp nhận những điều bất toàn trong ta và tha nhân để tha thứ cho nhau:  
 
"Có những ngày tuyệt vọng đến cùng cực, tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau"
 
Lương Nguyên Hiền
 
Tài liệu:
- “Die Kuh, die weinte“: nguyên bản bằng tiếng Anh „Opening the Door of  Your Heart“, tác giả thiền sư Ajahn Brahm. Sách được dịch ra tiếng Việt “Mở Cửa Trái Tim“,
- “Wabi-Sabi: Die japanische Weisheit für ein perfekt unperfektes Leben“ nguyên bản bằng tiếng Anh “Wabi-sabi: Japanese Wisdom for Living a Perfectly Imperfect Life“, tác giả Berth Kempton
-“Chanoyu (Trà đạo), Quá trình ra đời và vai trò của RikyūVĩnh Sính

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chính quyền Tổng Tống Donald Trump đang mở rộng chiến dịch trấn áp nhập cư sang mạng lưới chăm sóc sức khỏe, tiến hành điều tra chi tiêu Medicaid tại ít nhất sáu tiểu bang do Đảng Dân Chủ lãnh đạo. Đây là những tiểu bang cung cấp bảo hiểm y tế đầy đủ cho người nhập cư không giấy tờ, nghèo và khuyết tật sống tại Hoa Kỳ.
Có lẽ ngày xưa các bậc sinh thành nên đặt tên tôi là Măng mới hợp với lẽ trời. Tôi khoái măng một cách kỳ lạ trong khi thằng con trai tôi lại ghét thậm tệ. Không biết có phải loại hình cha ăn mặn con khát nước không. Măng làm cách chi tôi cũng thích dù chỉ là thứ măng ngâm trong hũ bán đầy chợ. Nhưng món tôi hẩu nhất là món bún măng vịt. Nghe nhà hàng nào có bún măng vịt là tôi tìm tới, như tìm tới nhà người thương. Bún măng vịt với đĩa gỏi thịt vịt nằm xếp lớp trên lớp rau bên cạnh chén nước mắm gừng trông cứ như là Bá Nha của đôi mắt Tử Kỳ là tôi.
Hãy thử kiểm tra lại ký ức của bạn xem. Trong bộ phim kinh điển The Empire Strikes Back, Darth Vader đã nói gì với Luke Skywalker? Bộ sách thiếu nhi về gia đình nhà gấu có tựa đề là Berenstain Bears hay Berenstein Bears? Và trên logo của thương hiệu phô mai Con Bò Cười, liệu con bò có đeo khuyên mũi? Nếu câu trả lời của bạn là “Luke, ta là cha của con,” “Berenstein,” và “Có,” thì xin chia buồn, ký ức đã đánh lừa bạn. Darth Vader thực chất chưa bao giờ nói câu đó; tên của gia đình gấu luôn được viết là “Berenstain”; và con bò trên logo phô mai nổi tiếng chưa từng đeo khuyên mũi.
Giữa lúc tỷ lệ sinh sản (birth rates) tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia trên thế giới liên tục sụt giảm, từ giới công nghệ ở Thung lũng Silicon đến các viên chức tại Tòa Bạch Ốc đều đồng loạt lên tiếng cảnh báo rằng dân số giảm nhanh có thể gây ra những tác động nghiêm trọng cho nền kinh tế. Chính quyền Trump từng tuyên bố đang tìm kiếm các biện pháp để khuyến khích người dân sinh con đẻ cái, nhất là khi tổng sinh suất (Total Fertility Rate, TFR) hiện đã giảm tới 25% so với năm 2007 – xuống mức thấp nhất lịch sử. Tuy nhiên, theo các nhà nhân khẩu học chuyên nghiên cứu về sinh sản, đời sống gia đình và khuynh hướng sinh con: dân số sẽ không giảm ngay, cũng không phải chắc chắn sẽ giảm, và nếu có thì cũng không phải là điều bi đát.
Trong một lần tới thăm Hải Học Viện Nha Trang cách đây khoảng vài chục năm, tôi đã thấy một cặp sam sống trong một lồng kính. Phải thú nhận là tôi rất ngạc nhiên. Chúng dính vào nhau, một con trên một con dưới. “Dính như sam” thì tôi thuộc nằm lòng nhưng không ngờ chúng dính cứng như vậy. Dò hỏi nhân viên của Viện, tôi được cho biết hai con dính vào nhau như vậy suốt ngày đêm. Con đực kính thước chỉ nhỏ bằng nửa con cái luôn nằm dính trên lưng con cái. Cứ như mẹ cõng con đi chơi. Thân nam nhi mà coi bộ lép vế. Đeo dính sát sạt như vậy ngày đêm thì teo tắt là cái chắc. Vết đôi chân con đực bám vào hằn rõ trên mai con cái. Cùng sống chết với nhau như vậy nên ngư dân thường bắt được cả cặp. Nếu chỉ bắt được một con, gọi là sam độc, họ thả trở lại biển. Chẳng phải nhân nghĩa chi nhưng vì họ không bán được cho người ta làm thịt. Thực khách luôn mua làm thịt cả cặp, ăn một con họ tin rằng sẽ bị độc. Vậy sam sống cùng sống, chết cùng chết, lúc nào cũng dính nhau. Như…sam!
Tôi có một người bạn viết lách văn nghệ. Chị cho rằng mình có chút tài nghệ, đủ để khi cần móc túi lấy ra xài. Chị không viết đều. Chỉ viết khi thích – đôi khi chị viết gửi vài tạp chí mạng, có khi chỉ viết để đó, không gửi ai. Chị sống trên căn gác nhỏ, gọi đó là "giang sơn sáng tác" của riêng mình. Mỗi ngày chị dậy lúc gần trưa, pha ly cà phê nguội, rồi mở máy tính. Có bài chị viết ngay sau ngụm cà-phê đầu tiên – vài chục phút là xong – gửi đi ngay rồi gập máy, đi ngủ tiếp. Có bài để ba năm hôm, không sửa gì cả, gửi đi như vậy. Tôi hỏi: “Sao không đọc lại?” Chị nhún vai: Lúc viết là thật nhất. Sửa nhiều, mất hồn. Tôi hỏi tiếp: Không sợ thiếu sót? Chị cười, lấy ngón tay chỉ lên bức thư pháp trên tường:“Tri túc giả phú” (Biết đủ là đủ).
Trong tác phẩm Giông Tố của Vũ Trọng Phụng ấn hành năm 1936. Nhân vật chính trong tác phẩm nầy Nghị Hách, đại tư sản giàu có. “Năm trăm mẫu đồn điền trong tỉnh nhà, có mỏ than ở Quảng Yên, ba chục nóc nhà Tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nữa ở Hải Phòng. Cái ấp của hắn đồ sộ nhất tỉnh, đến dinh quan công sứ cũng không bằng” (Giông Tố). Trên đường đến làng quê thăm ruộng lúa, trong lúc chờ người sửa chữa cái xe bị hỏng, hắn nhìn thấy cô gái quê xinh đẹp tên Thị Mịch... Thèm nhỏ dãi nên làm ra chuyện “ép liễu nài hoa”!
Quê nội tôi nằm bên cạnh sông Thu Bồn, dòng họ Tộc Trần có 5 phái nên con cháu rất đông, ở dọc theo tả và hữu ngạn sông Thu Bồn, từ Quốc Lộ I, cầu Cao Lâu chạy dài theo hướng Đông xuống các làng ở phía Nam thành phố Hội An. Tên gọi xã Điện Phương hiện nay qua những lần thay đổi thuộc quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ranh giới xã Điện Phương ở phía Tây thành phố Hội An, phía Bắc giáp Tỉnh Lộ 608 (Vĩnh Điện - Hội An), phía Đông của Quốc Lộ 1 (cạnh cầu Cao Lâu) và phía Nam giáp sông Thu Bồn). Điện Phương vẫn giữ tên các làng cũ như Thanh Chiêm, Phước Kiều, Phú Chiêm, Kim Bồng (thời gian thuộc xã Cẩm Kim)... Theo dòng lịch sử thì những làng nầy được hình thành mấy trăm năm về trước thời Nguyễn Hoàng, trong đó có di dân từ Thanh Hóa. Vài làng nơi nầy nổi tiếng nghề đúc đồng từ thời vua Tự Đức. Nghề bánh tráng và mì Quảng nổi tiếng từ xa xưa…
Hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng tiếng lóng ra đời từ rất lâu, thường được lưu truyền trong dân gian. Đó là khẩu ngữ, phương ngữ trong cách giao tiếp bằng loại ngôn ngữ riêng được áp dụng trong nhóm người, địa phương và cả trong cộng đồng… Các loại tiếng lóng thường được lưu truyền thời gian trong xã hội. Xấu hay tốt còn tùy thuộc vào đối tượng sử dụng với nội dung, ý nghĩa muốn truyền đạt là gì. Trong sinh hoạt cuộc sống, mỗi nhóm vay mượn có tiếng lóng riêng giao tiếp hằng ngày…
Một anh bạn học cũ, gốc dân Quảng Ngãi (*), mới lãnh lương dạy kèm mấy giờ Anh ngữ, có nhã ý mời tôi đi ăn một món đặc sản quê anh. Ngại cho túi tiền eo hẹp của bạn, tôi từ chối thì anh nói ngay “Rẻ thôi mà!”. Cái quán xập xệ nằm ở đầu đường Bình Giả, Tân Bình. Chị chủ quán có vẻ trầm lặng, khép kín, không đon đả chuyện trò với khách, nhưng quán của chị khá gây ấn tượng là mấy chữ “Don Quảng Ngãi” được ghi dõng dạc, to nét trên tấm bảng lớn treo trước quán. Rồi hầu như để cho đồng bộ, bên trong quán lại có thêm hai cái bảng khác quảng cáo “Bia Dung Quất – Bia Quảng”. Và, rõ ràng là khiêm tốn hơn, một tấm bảng khác nữa ghi mấy chữ “Cháo gà, vịt – Tiết canh – Hủ tíu”, nét nhỏ hơn nhiều so với chữ “Don Quảng Ngãi”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.