Hôm nay,  

Chuyện Vãn: Chiếc Lá Trong Ca Khúc

11/04/202500:00:00(Xem: 1618)


La do

 

“Les feuilles mortes se ramassent à la pelle...

Tu vois je n'ai pas oublié

Les feuilles mortes se ramassent à la pelle

Les souvenirs et les regrets aussi…”

((Jacques Prévert: Œuvres complètes Tome II)

 

Chiec la cuoi cung

 

 

Bạn tôi, nhà thơ Triều Hoa Đại ấn hành tác phẩm Lên Rừng Đếm Lá. Nhân dịp nầy, người bạn vong niên từ thời ở Đà Nẵng - Lê Bảo Hoàng (nhà thơ Luân Hoán) - hai nhà thơ thực hiện cuộc trò chuyện với nhau.

Theo Triều Hoa Đại thì khi rời bỏ đất nước ra đi, hình như một số anh, chị em trong đó có tôi đã bỏ “của” mà chạy lấy người nên đã không đem theo được một tác phẩm nào…

Tôi ở một nơi rất xa cách sinh hoạt cộng đồng (vì công việc) cho nên đó cũng là những thiệt thòi về đủ mọi phương diện, mà đặc biệt nhất là sách báo thì tôi thiếu thốn vô cùng, những ngày tháng trước đây khi còn sinh hoạt với chữ nghĩa ở trong nước tôi đã có được một tủ sách gia đình đáng kể, bạn bè mỗi khi in sách đều gửi cho, nhà xuất bản cũng thương tình cho một vài cuốn thành ra một tác phẩm thường thì tôi được hai, hay nhiều hơn thế nữa do tác giả và nhà xuất bản ký tặng, giờ đây nhìn thấy “tủ sách” gia đình mà mình có được thấy ngậm ngùi, tủi thân chi lạ. Mở hộp thư bưu điện hằng ngày chỉ là để trông mong sách báo, ngóng chờ thư từ bằng hữu như người đi giữa sa mạc mong ngóng những cơn mưa.

Vì vậy, tác phẩm đầu tiên của anh Lên Rừng Đếm Lá, anh đã “đếm” 17 chiếc lá, hầu hết là bạn văn với tác giả. Sau gần hai thập nhiên, có các chiếc lá đã lìa cành!

Trong âm nhạc, có nhiều ca khúc với hình ảnh chiếc lá, có lẽ biểu tượng cho đời người, tình yêu… ở giai đoạn nào đó mang nỗi buồn man mác khi chia ly! Mà “Lòng người như chiếc lá, nằm trong cơn gió vô tình…” (Ngăn Cách của Y Vân). “Lòng người như lá úa, trong cơn mưa chiều. Nhiều cơn gió cuốn, xoay xoay trong hồn. Và cơn đau này vẫn còn đấy” (Bài Không Tên Số 2 của Vũ Thành An)…

Vào thời tiền chiến, những tình khúc của Đoàn Chuẩn & Từ Linh được gọi nhạc sĩ của mùa Thu mà mùa Thu thường mang đến nỗi buồn. Mùa Thu là mùa của lá vàng rơi đã thể hiện qua nhiều bài thơ… Ca khúc Lá Đổ Muôn Chiều của Đoàn Chuẩn & Từ Linh:

“Lá đổ muôn chiều ôi lá úa
Phải chăng là những cánh đời em
Đêm đêm lìa xuống trần
Tình vương hoen úa ôi những cánh đời mong manh.
Than tiếc mà chi chiếc lá vàng bay về cuối trời
Làm lòng anh nhớ mãi người ơi.
Nhớ nhau từ làn môi đôi mắt.
Đành tìm trong nét bút xa xôi”.

Ca khúc Lá Thư và “lá thư” gửi cho người tình khi đã trao thân:

“Nhớ tới mùa thu năm nào
Mình anh lênh đênh rừng cùng sông
Chiếc lá thu dần vàng theo
Nhớ tới ngày nào cùng bước đến cầu
Ngồi xõa tóc thề. Còn đâu ân ái chăng người xưa?”

Câu ca dao “Dã tràng xe cát biển Đông” với hình ảnh con dã tràng khi thủy triều xuống, xây cát làm nơi trú ẩn nhưng khi thủy triều lên bị san bằng, ngụ ý bỏ công sức nhưng chẳng được gì như công cốc! Ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng của nhạc sĩ trong tình yêu ví như lâu đài trên cát:

“Hà Nội chiều nay còn như in bóng
Dấu vết lâu đài trên cát anh xây
Bóng dáng em về thấp thoáng đâu đây
Chiếc lá cuối cùng là của em đó
Em hãy giữ gìn trước lúc chia tay”
Và ca khúc Ánh Trăng Mùa Thu:
“Lòng hờn trăng cuốn thêm bao đời lá
Lá thắm rơi cuốn theo bao đời hoa!”
Trong bài viết vừa qua Nỗi Lòng Với “Chiếc Lá Cuối Cùng” của tôi đề cập đến hai ca khúc của Đoàn Chuẩn và Tuấn Khanh cùng tên.

Với ca khúc Chiếc Lá Cuối Cùng của Tuấn Khanh, được nổi tiếng ở miền Nam VN vào thập niên 1960’:

“Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng
Một đàn chim cánh nhỏ chở mùa sang
Chiều vào thu tiễn em sầu lạnh giá
Lá trên cành từng chiếc cuốn bay xa…
Xa nhau chưa mà lòng nghe quạnh vắng
Đường thênh thang gió lộng một mình ta
Rượu cạn ly uống say lòng còn giá
Lá trên cành một chiếc cuối bay xa”.

Bài thơ L'Adieu của Apollinaire chỉ có 5 câu, Bùi Giáng dịch là Lời Vĩnh Biệt, Phạm Duy dựa vào ý thơ phổ thành ca khúc Mùa Thu Chết.

Như đã đề cập ở trên, trên quê hương ngày xưa, mùa Hè nóng bức, mùa Đông giá lạnh, mùa Thu giao mùa giữa nóng và lạnh, là mùa của nguồn cảm hứng sáng tác nhưng trong tâm trạng buồn, nhớ thương.

Ca khúc Thu Vàng năm 1953, khi Cung Tiến chỉ mười lăm tuổi, mới rời Hà Nội vào Sài Gòn. Lời đề tặng: “Tặng Hà Nội của những ngày thơ ấu”. Với thể điệu valse như những bước chân chim nhảy nhót trên lá vàng với “màu tê tái”:

“Mùa Thu vàng tới là mùa lá vàng rơi
Và lá vàng rơi, khi tình Thu vừa khơi
Nhặt lá vàng rơi, xem màu lá còn tươi
Nghe chừng đâu đây màu tê tái”

Ca khúc Lá Rơi Bên Thềm của Lê Trọng Nguyễn & Nguyễn Hiền:

“Lá rơi bên thềm gợi nhớ thương
Tìm trong lá thu vàng trên lối đi về dĩ vãng
Ngày thơ đã qua rồi sao vấn vương
Mỗi khi sương chiều xuống
Tìm bâng khuâng hình bóng năm nào…
Lá rơi cho lòng hoài cố nhân
Tìm trong lá thu vàng bao phút xưa đầm ấm
Niềm thương khó phai mờ theo tháng năm
Lá rơi bên thềm vắng
Yêu mãi dáng Thu về bên song”.

Lá Rụng Ven Sông của Hoàng Nguyên với thể điệu tango:

“Hôm nao nhìn lá úa
Rụng lác đác bên sông.
Mây trôi về viễn xứ
Gợi tiếc nhớ bâng khuâng...
Thương ai đã thương ai rồi
Dù tháng năm dần trôi
Dù lá hoa tàn phai
Lòng vẫn nhớ thương ai”.

Ca khúc Lá Rụng Ven Sông của Phạm Duy, thơ Thế Lữ với thể điệu valse:

“Còn đâu đêm sang lá đổ rộn ràng
Còn đâu sương tan trăng nội mơ màng
Còn đâu em ngoan tóc rối ngổn ngang
Tuổi em đôi mươi xuân mới vừa sang”.

Trong tùy bút trước đây của tôi với Đường Chiều Lá Rụng khi nói về cuộc chia tay nơi công viên lúc chiều tà, dựa theo tựa đề nhạc phẩm Đường Chiều Lá Rụng của Phạm Duy:

“Lá vàng bay! Lá vàng bay!
Như dĩ vãng gầy, tóc buông dài, bước ra khỏi tình phai
Lá vàng rơi! Lá vàng rơi!...
Lá vàng khô! Lá vàng khô!
Như nét môi già đã nhăn chờ lên nẻo đường băng giá”

Nhạc phẩm Thu Ca của Phạm Mạnh Cương trong phần điệp khúc:

“Nhớ ai chiều thu
Nhìn bao lá úa rơi đầy lối
Nhẹ rung tà áo
Làn môi cười thắm như cánh hoa đào
Cách xa vì đâu!
Dù bao lần lá hoa phai màu
Rung chi cành hoa lá
Khi tà dương đã khuất non xa”

Trích dẫn những ca khúc tiêu biểu của các nhạc sĩ từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam Việt Nam - trong hoàn cảnh chiến tranh - nhưng những ca khúc trữ tình, lãng mạn tuy buồn, bi thương đã in sâu trong tâm hồn giới thưởng ngoạn.

Sau năm 1975 lại đẻ ra tên gọi “nhạc Sến”, nhiều bài viết tranh luận quanh đề tài nầy và tôi cũng viết bài Dòng Nhạc Boléro, dòng nhạc phổ thông nhất trong hai thập niên đó bị “chụp mũ” vớ vẩn. Nay là dòng nhạc thịnh hành, ăn khách nhất trong nước. May thay những ca khúc về mùa Thu, lá vàng, lá khô… qua các giai điệu như đề cập ở trên không bị nằm trong “nhạc Sến”.

Còn nhiều ca khúc khác, gần đây Lại Một Chiếc Lá Rơi của Phạm Anh Dũng ở miền Đông nước Mỹ:

“Nhìn chiếc lá vàng rơi
Mới hay mùa thu tới
Trên từng ngày mong đợi
Em vẫn còn xa xôi…
Bao nhiêu năm xa người
Tìm về con phố cũ
Thu băng ngang giữa trời
Lại một chiếc lá rơi”

Năm 1990, khi mới tị nạn ở Nashville, tiểu bang Tennessee, lần đầu tiên trong đời vối rừng phong nhuộm vàng tuyệt đẹp mà thuở còn đi học chỉ mường tượng câu thơ “Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san” (Kiều - Nguyễn Du).

*

Ca khúc Les Feuilles Mortes, nhà thơ Jacques Prévert viết theo giai điệu do J. Kosma đã soạn sẵn. Ca khúc ra đời năm 1946, nội dung với kỷ niệm buồn cho tình yêu đã mất. Năm 1949, Johnny Mercer chuyển lời tiếng Anh Autumn Leaves, trở thành ca khúc nổi tiếng trên thế giới với các album của các danh ca. Theo GS Nguyễn Bảo Hưng (Jacques Prevert & Les Feuilles Mortes) cho rằng chủ đích của Kosma là soạn ra như là một nhạc phần (une partition) cho kịch vũ ba lê Le Rendez-Vous (Hẹn Hò). Lúc đầu Prévert định chỉ soạn lời cho nhạc phần của vở kịch vũ theo yêu cầu. Nhưng khi lắng nghe giai điệu để viết lời ca, Prévert đã bị thu hút bởi những nốt nhạc của giai điệu diễn tả một nỗi buồn thầm kín nhưng nồng nàn đằm thắm. Và ông đã không bỏ lỡ cơ hội, mượn giai điệu của Kosma để làm nền cho cuốn phim do chính ông soạn kịch bản và ‘lời thoại’, lấy tên Les Portes de la Nuit (Cửa Vào Đêm Tối), đêm tối ở đây mang ý nghĩa ẩn dụ “tử thần”), lấy nhạc Kosma làm nền cho phim… Nhạc Kosma trong Les Feuilles Mortes là một giai điệu buồn với những nốt nhạc khoan thai dìu dặt. Cộng thêm lời ca Prévert là những lời thơ chan chứa, nó càng có sức cuốn hút người nghe…

Có nhiều bài viết cho rằng ca khúc nầy phổ thơ của Jacques Prévert. Có lẽ Prévert cảm nhận vào lời của ca khúc đó để làm bài thơ.
Chẳng hạn như ca khúc Lệ Đá của Trần Trịnh. Theo lời Hà Huyền Chi, nhạc phẩm Lệ Đá trước hết không phải là một bài thơ phổ nhạc. Phải nói là tôi đã đặt lời cho bản nhạc (vốn không tên) của nhạc sĩ Trần Trịnh…

Chúng tôi kéo nhau lên đài phát thanh Quân Đội, Trần Trịnh ngồi vào piano. Và điều ngạc nhiên là tôi ưa ngay cái âm hưởng buồn ngất ngây dịu nhẹ đó, rất Pianissimo ấy. Melody thật tha thiết, ngọt ngào, bắt nhĩ. Tôi nghe Trịnh đàn thêm vài lần nữa và cố gắng nhập tâm cái âm hương của bản nhạc.
Hôm sau, tôi đem đến Trần Trịnh lời ca thứ nhất của Lệ Đá. Kết quả ngoài sức tượng tượng, là không biết bằng cảm hứng nào đó, tôi đã hòa được cái rung cảm đích thực của thơ tôi vào nhạc Trần Trịnh. Trần Trịnh mừng rỡ tới sững hồn…

Sau nầy Hà Huyền Chi cảm hứng viết thêm 4 lời cho ca khúc nầy. Nhiều người cho rằng thơ Hà Huyền Chi.

Với nhạc phổ thơ thì dựa vào thơ, ý thơ. Nhạc và lời thì khi nghe nhạc qua giai điệu để đặt lời, trước đây tôi đã đề cập qua bài viết về nhạc và thơ, thơ và nhạc.

Nhạc sĩ Phạm Duy có tài viết các ca khúc ngoại quốc lời Việt nhưng với ca khúc nầy trước năm 1975 và sau nầy hát theo lời Pháp, Anh.

Ngoài ca khúc Lá Rụng của Hoàng Trọng, tôi thích nhất ca khúc Nhặt Lá Vàng

“Mùa thu mây trắng lững lờ, không gian mờ mờ
Người đẹp đi trong mơ
Nhẹ nâng tà áo dịu dàng
Nhặt lá thu vàng, dệt mộng đón thu sang…
Lặng trầm gió trút lá, bỗng dưng sầu
Nhặt từng chiếc lá úa, nhớ thu nào
Chia ly muôn kiếp vẫn sầu
Để nhớ cho nhau nào ai có thấu
Người yêu xỏa tóc mong chờ
Dù xưa hẹn hò mà giờ đây bơ vơ
Mùa thu này cũng đẹp trời
Mà thiếu một người, nhặt lá vàng rơi!...
Mùa thu này khóc một mình
Mộng ước không thành, để buồn những ngày xanh”

Ngày đó, Mai Hân và nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo thực hiện vào mỗi tối Thứ Tư hàng tuần trên sóng đài phát thanh Quân Đội với chương trình Nghệ Sĩ Với Chiến Sĩ. Ngoài giọng đọc truyền cảm của xướng ngôn viên, ca sĩ Mai Hân hát với nhiều ca khúc, riêng tôi, Nhặt Lá Vàng thành công và hay nhất.

*

Tôi đã vài lần trao đổi với nhà thơ Triều Hoa Đại và các bạn văn khi bước vào tuổi già ở hải ngoại thường nhớ lại quá khứ của một thời trong văn chương nghệ thuật. Bước vào tuổi tám mươi, thời gian không còn dài… như lá vàng trên cây, chỉ cần cơn gió thoảng sẽ lìa cành rơi rụng. Với những tác giả nêu trên, hầu như đã chia sẻ qua các bài viết trong quá khứ.

Mỗi chiều yên ả, ra ngồi backyard nhìn những chiếc lá vàng trên hai cây magnolia (chi mộc lan) rơi rụng, nghĩ đến ngày mai “les feuilles mortes” để “les portes de la nuit” và rồi “Lá thắm rơi cuốn theo bao đời hoa!, “Lá rơi bên thềm gợi nhớ thương, hoài cố nhân”… ngày nào đó khi có chiếc lá rơi “cố nhân xa rồi” mấy ai gọi đến tên!

Little Saigon, April 2025
Vương Trùng Dương
 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội Cựu Sinh Viên Trường Võ Bị West Point loan báo sẽ không tổ chức lễ vinh danh diễn viên Tom Hanks, người được chọn là khôi nguyên giải thưởng danh giá Sylvanus Thayer năm nay, theo NPR News. Buổi lễ, vốn dự trù ngày 25 tháng 9 với diễn hành và tiệc chính thức, bị hủy bỏ, nhưng Hanks vẫn được trao giải. Lý do không được công bố.
Chính quyền Tổng Tống Donald Trump đang mở rộng chiến dịch trấn áp nhập cư sang mạng lưới chăm sóc sức khỏe, tiến hành điều tra chi tiêu Medicaid tại ít nhất sáu tiểu bang do Đảng Dân Chủ lãnh đạo. Đây là những tiểu bang cung cấp bảo hiểm y tế đầy đủ cho người nhập cư không giấy tờ, nghèo và khuyết tật sống tại Hoa Kỳ.
Có lẽ ngày xưa các bậc sinh thành nên đặt tên tôi là Măng mới hợp với lẽ trời. Tôi khoái măng một cách kỳ lạ trong khi thằng con trai tôi lại ghét thậm tệ. Không biết có phải loại hình cha ăn mặn con khát nước không. Măng làm cách chi tôi cũng thích dù chỉ là thứ măng ngâm trong hũ bán đầy chợ. Nhưng món tôi hẩu nhất là món bún măng vịt. Nghe nhà hàng nào có bún măng vịt là tôi tìm tới, như tìm tới nhà người thương. Bún măng vịt với đĩa gỏi thịt vịt nằm xếp lớp trên lớp rau bên cạnh chén nước mắm gừng trông cứ như là Bá Nha của đôi mắt Tử Kỳ là tôi.
Hãy thử kiểm tra lại ký ức của bạn xem. Trong bộ phim kinh điển The Empire Strikes Back, Darth Vader đã nói gì với Luke Skywalker? Bộ sách thiếu nhi về gia đình nhà gấu có tựa đề là Berenstain Bears hay Berenstein Bears? Và trên logo của thương hiệu phô mai Con Bò Cười, liệu con bò có đeo khuyên mũi? Nếu câu trả lời của bạn là “Luke, ta là cha của con,” “Berenstein,” và “Có,” thì xin chia buồn, ký ức đã đánh lừa bạn. Darth Vader thực chất chưa bao giờ nói câu đó; tên của gia đình gấu luôn được viết là “Berenstain”; và con bò trên logo phô mai nổi tiếng chưa từng đeo khuyên mũi.
Giữa lúc tỷ lệ sinh sản (birth rates) tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia trên thế giới liên tục sụt giảm, từ giới công nghệ ở Thung lũng Silicon đến các viên chức tại Tòa Bạch Ốc đều đồng loạt lên tiếng cảnh báo rằng dân số giảm nhanh có thể gây ra những tác động nghiêm trọng cho nền kinh tế. Chính quyền Trump từng tuyên bố đang tìm kiếm các biện pháp để khuyến khích người dân sinh con đẻ cái, nhất là khi tổng sinh suất (Total Fertility Rate, TFR) hiện đã giảm tới 25% so với năm 2007 – xuống mức thấp nhất lịch sử. Tuy nhiên, theo các nhà nhân khẩu học chuyên nghiên cứu về sinh sản, đời sống gia đình và khuynh hướng sinh con: dân số sẽ không giảm ngay, cũng không phải chắc chắn sẽ giảm, và nếu có thì cũng không phải là điều bi đát.
Trong một lần tới thăm Hải Học Viện Nha Trang cách đây khoảng vài chục năm, tôi đã thấy một cặp sam sống trong một lồng kính. Phải thú nhận là tôi rất ngạc nhiên. Chúng dính vào nhau, một con trên một con dưới. “Dính như sam” thì tôi thuộc nằm lòng nhưng không ngờ chúng dính cứng như vậy. Dò hỏi nhân viên của Viện, tôi được cho biết hai con dính vào nhau như vậy suốt ngày đêm. Con đực kính thước chỉ nhỏ bằng nửa con cái luôn nằm dính trên lưng con cái. Cứ như mẹ cõng con đi chơi. Thân nam nhi mà coi bộ lép vế. Đeo dính sát sạt như vậy ngày đêm thì teo tắt là cái chắc. Vết đôi chân con đực bám vào hằn rõ trên mai con cái. Cùng sống chết với nhau như vậy nên ngư dân thường bắt được cả cặp. Nếu chỉ bắt được một con, gọi là sam độc, họ thả trở lại biển. Chẳng phải nhân nghĩa chi nhưng vì họ không bán được cho người ta làm thịt. Thực khách luôn mua làm thịt cả cặp, ăn một con họ tin rằng sẽ bị độc. Vậy sam sống cùng sống, chết cùng chết, lúc nào cũng dính nhau. Như…sam!
Tôi có một người bạn viết lách văn nghệ. Chị cho rằng mình có chút tài nghệ, đủ để khi cần móc túi lấy ra xài. Chị không viết đều. Chỉ viết khi thích – đôi khi chị viết gửi vài tạp chí mạng, có khi chỉ viết để đó, không gửi ai. Chị sống trên căn gác nhỏ, gọi đó là "giang sơn sáng tác" của riêng mình. Mỗi ngày chị dậy lúc gần trưa, pha ly cà phê nguội, rồi mở máy tính. Có bài chị viết ngay sau ngụm cà-phê đầu tiên – vài chục phút là xong – gửi đi ngay rồi gập máy, đi ngủ tiếp. Có bài để ba năm hôm, không sửa gì cả, gửi đi như vậy. Tôi hỏi: “Sao không đọc lại?” Chị nhún vai: Lúc viết là thật nhất. Sửa nhiều, mất hồn. Tôi hỏi tiếp: Không sợ thiếu sót? Chị cười, lấy ngón tay chỉ lên bức thư pháp trên tường:“Tri túc giả phú” (Biết đủ là đủ).
Trong tác phẩm Giông Tố của Vũ Trọng Phụng ấn hành năm 1936. Nhân vật chính trong tác phẩm nầy Nghị Hách, đại tư sản giàu có. “Năm trăm mẫu đồn điền trong tỉnh nhà, có mỏ than ở Quảng Yên, ba chục nóc nhà Tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nữa ở Hải Phòng. Cái ấp của hắn đồ sộ nhất tỉnh, đến dinh quan công sứ cũng không bằng” (Giông Tố). Trên đường đến làng quê thăm ruộng lúa, trong lúc chờ người sửa chữa cái xe bị hỏng, hắn nhìn thấy cô gái quê xinh đẹp tên Thị Mịch... Thèm nhỏ dãi nên làm ra chuyện “ép liễu nài hoa”!
Quê nội tôi nằm bên cạnh sông Thu Bồn, dòng họ Tộc Trần có 5 phái nên con cháu rất đông, ở dọc theo tả và hữu ngạn sông Thu Bồn, từ Quốc Lộ I, cầu Cao Lâu chạy dài theo hướng Đông xuống các làng ở phía Nam thành phố Hội An. Tên gọi xã Điện Phương hiện nay qua những lần thay đổi thuộc quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ranh giới xã Điện Phương ở phía Tây thành phố Hội An, phía Bắc giáp Tỉnh Lộ 608 (Vĩnh Điện - Hội An), phía Đông của Quốc Lộ 1 (cạnh cầu Cao Lâu) và phía Nam giáp sông Thu Bồn). Điện Phương vẫn giữ tên các làng cũ như Thanh Chiêm, Phước Kiều, Phú Chiêm, Kim Bồng (thời gian thuộc xã Cẩm Kim)... Theo dòng lịch sử thì những làng nầy được hình thành mấy trăm năm về trước thời Nguyễn Hoàng, trong đó có di dân từ Thanh Hóa. Vài làng nơi nầy nổi tiếng nghề đúc đồng từ thời vua Tự Đức. Nghề bánh tráng và mì Quảng nổi tiếng từ xa xưa…
Hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng tiếng lóng ra đời từ rất lâu, thường được lưu truyền trong dân gian. Đó là khẩu ngữ, phương ngữ trong cách giao tiếp bằng loại ngôn ngữ riêng được áp dụng trong nhóm người, địa phương và cả trong cộng đồng… Các loại tiếng lóng thường được lưu truyền thời gian trong xã hội. Xấu hay tốt còn tùy thuộc vào đối tượng sử dụng với nội dung, ý nghĩa muốn truyền đạt là gì. Trong sinh hoạt cuộc sống, mỗi nhóm vay mượn có tiếng lóng riêng giao tiếp hằng ngày…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.