Hôm nay,  

Tìm hiểu chữ “QUÁN” và một vài chữ “QUÁN” Hán Việt

17/08/202408:54:00(Xem: 1919)
Nôm

Bài viết này chỉ giải thích đôi nét văn hoá Hoa Hạ về Nho tự, dù vậy vẫn bao hàm được nghĩa nôm na lẫn nghĩa bác học. Đôi khi còn mang nghĩa ẩn dụ, liên quan đến phạm trù nhân văn, xã hội, tự nhiên, tư tưởng triết học tôn giáo. Nói cách khác, đơn giản là tìm hiểu chữ QUÁN và một số chữ QUÁN Hán Việt như sau.
    Trước hết, vẫn theo nghĩa nôm na, thông thường như mọi người đều nghĩ, Quán được hiểu: chẳng hạn vào một buổi sáng, trên một đoạn đường đi của một cuộc hành trình, bỗng có người lên tiếng “Trời nực và mệt quá!”, lập tức, theo phản ứng tự nhiên, nhiều người nghĩ ngay nên đi tìm một cái quán. Quán có thể là một cái quán nước (coffee shop); có thể là một cái quán trọ [舍] để giải khát hay nghỉ ngơi. Nhưng vẫn với cuộc hành trình đó, nhưng rơi vào buổi chiều, lại có người lên tiếng “Khát và đói quá!”, người ta nghĩ nên đi tìm một cái quán ăn (restaurant) nếu có nhiều tiền, một cái quán cóc bên lề đường nếu có ít tiền. Nhưng thay vào đó, cuộc hành trình lần nầy lại rơi vào buổi chiều tối, lại cũng có người lên tiếng “Cảm thấy đói và buồn!”, người ta nghĩ nên đi tìm một cái quán nhậu, hay là một cái quán rượu (quán Bar), đôi khi là một vũ trường. Lạ thật, cũng là một hành trình nhưng với thời điểm khởi hành khác nhau (sáng, trưa, chiều, tối) với lời lên tiếng khác nhau (nực, mệt, đói, buồn), người ta lại nghĩ nên đi tìm những cái quán khác nhau. Là vì mỗi quán có sự cung cấp các mặt hàng và cách thức phục vụ khác nhau.
    Trong tiến trình sinh hoạt, loài người từ thời hoang sơ, ăn lông ở lỗ, đến thời săn bắn trong rừng,lượm lặt hoa quả ven mương, bờ suối… bước sang chăn nuôi, trồng trọt hoa màu… rồi định cư từng nhóm, thành những bộ lạc, hòa nhập các sắc tộc để trở thành một cộng đồng, làng xóm được mọc lên, xã hội được thành hình. Lúc này, dân cư đã đông đúc, thu hoạch mùa màng đã có dư thừa, dụng cụ, sản phẩm được tạo ra cũng khá nhiều. Theo đó, kho lẫm phải có để lưu giữ, dung trữ, nhà cửa phải có để trú ẩn, tránh mưa tránh nắng… Nhu cầu trao đổi hàng hóa đã bắt đầu, sự đi lại từ nơi nầy đến nơi khác đã khởi sinh, việc ăn uống đã có sự thay đổi, và việc nghỉ ngơi, giải trí… trở nên cần thiết. Thế là cái quán đã ra đời, từ buôn sóc thoát ra khỏi lũy tre tiến đến thành thị, phố xá sầm uất, rồi có mặt khắp nơi. Ta có thể thấy một cái quán bên vệ đường với một mái che đơn sơ; trên đường đi với một túp lều tranh nhỏ bé… bên mé sông, nơi góc chợ, giữa phố phường, trên dây cáp (cable cap coffee shop) giữa không trung lơ lửng ; một lầu kính được bao quanh đầy cây cối, bông hoa nơi phố xá tấp nập. Trong tương lai, khó mà hình dung được cái quán sẽ thêm thắt như thế nào; thức ăn thức uống được dồi dào hơn chăng; mô hình sẽ to lớn và có trang hoàng đẹp mắt hơn chăng; cách thức phục vụ sẽ phức tạp hơn chăng… Hàng loạt câu hỏi được đặt ra. Đố ai mà biết được, nhưng chắc chắn chúng ta biết, cái quán sẽ không mai một theo thời gian khi mà con người còn hiện diện trên trái đất. Và nó sẽ luôn song hành, thay đổi với bước tiến văn minh của nhân loại, với những nét đặc thù của mỗi nền văn hóa của mỗi dân tộc. Tuy nhiên, trong xã hội ngày nay và có thể trong mai sau, với QUÁN theo nghĩa Nôm, QUÁN là nơi đáp ứng nhu cầu cần thiết trong ngày của con người, nhưng QUÁN là nơi thể hiện sự hưởng thụ quá đà của con người chỉ để là nơi ăn chơi trác táng.
    Đến đây, xin nói đến một vài chữ QUÁN Hán Việt:
    – Chữ Quán [館] theo chiết tự, bên trái là chữ Thực [食], nghĩa là ăn và uống, bên phải chữ Quan [官], nghĩa là trông coi, đãi đằng. Nói chung, là nơi làm việc, tụ họp học hành, trao đổi công văn, thư tín (dịch quán 驛 館), địa chỉ của một cơ sở (quán chỉ 館 址), nơi giải trí, nghỉ ngơi, hoạt động thể thao, câu lạc bộ (hội quán 會 館).
    – Nếu có sự tranh giải về một môn thể thao nào đó, người đứng đầu trong cuộc tranh giải, được gọi là quán quân [冠 軍]
    – Bồn rửa dùng để rửa mặt, rửa tay… trong câu lạc bộ hoặc các nơi công cộng gọi là Quán [盥]
    – Trong khi đó, tình cờ có một cô gái đi ngang qua, tươi cười khoe hai cái bím tóc trên đầu thì bím tóc đó gọi là Quán [丱]
    – Nhưng nếu cô đi tạt qua bên hông, hay ra sau vườn, gặp nơi vua chúa đãi tiệc, thì tiệc nầy gọi là Quán [祼]
    – Nhắc đến vua lại nhớ đến người giữ ngựa, trông xe cho Vua gọi là Quán [倌]
    – Nhưng nếu cô gặp phải ai chọc ghẹo, vì mắc cỡ mà bỏ chạy, trốn tránh, thì gọi là Quán []
    – Đây nữa, nếu cô thông đồng làm việc bất chánh, thì gọi là Quán [串]
    – Nếu một ngày đẹp trời nào đó, cô có chuyến đi chơi xa về đồng quê, nơi có sông ngòi đồng ruộng, việc dẫn nước vào ruộng gọi là Quán [灌]
    – Và có khi may mắn trông thấy một động vật mang tên Quán [鸛] là con cò xám hay con sếu như trong lời thơ của Lưu Trọng Lư: “Đàn sếu đã sang sông / với đôi mắt em lặng buồn / nhìn thôi mà chẳng nói / tình đôi ta vời vợi / có nói cũng không cùng…”
    Kể ra, chẳng lẽ chỉ có bấy nhiêu chữ Quán như trên? Thưa không, với phong tục tập quán, cái học của Kẻ sĩ ngày xưa, chẳng biết ngọn gió nào thổi qua để trở thành tục lệ, và cách học tập thế nào lại biến thành thói quen [慣] để có thể dẫn đến những sinh hoạt tinh thần như sau:
    – Thiền Quán [禪 館]: nơi mà thời gian như ngừng trôi, không gian như lắng đọng, cái vô cùng đâu đây của những vị thiền sư, ngồi thiền quán để hít thở, suy tưởng, thả hồn theo mây theo khói, theo hư không, như không, chân không… tĩnh lặng đến mức tâm có thể nghe tiếng vô thinh, tâm có thể thấy những hạt vô trần… Và chúng ta như lạc vào một chốn trống không.
    – Đạo Quán [道 館]: nơi mà không gian đạo vị tỏa quanh, với khoảng sáng tối, hư huyễn, đầy khuyết… phủ quanh, phảng phất bóng dáng của cây phất trần trên tay một vị đạo sĩ, đang ngồi quán chiếu [觀 照], mắt nhắm nghiền, hồn như rơi vào cõi xa xăm nào đó, trong khi những kệ sách chung quanh tường đầy những Nam Hoa Kinh, Đạo Đức Kinh, Dưỡng Sinh Chỉ Yếu Tập… cùng sánh bước với các đạo nhân tìm lẽ sinh tồn.
    – Phật Quán [佛 館]: nơi mà chúng ta chưa bước vào đã thoáng ngửi thấy hương trầm ngào ngạt tỏa khắp không gian, tưởng tượng như thấy đâu đây bóng dáng của một vị bồ tát trên mây với nhành dương liễu trên tay, rảy nước cam lồ xuống thế gian, để mong chúng sinh rời khỏi bến mê… tâm thức được rửa sạch, để trở lại “bản lai diện mục” như ngài Huệ Năng từng nói. Và khi đã bước vào, đâu đây như tỏa quanh tiếng nói vô thường, vô ngã Thập Nhị Nhân Duyên, cõi Niết Bàn cùng với cái vòng lẩn quẩn luân hồi tái sanh, định luật nhân quả… quy hồi trong vô lượng kiếp.
    – Khổng Quán [孔 館]: nơi mà khi đặt chân vào sân Trình cửa Khổng đã nghe Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín… trong Đại Học, Trung Dung… nhắc nhở bên tai về đạo làm người, với Hiếu Kinh nhắc đến bổn phận làm con đối với cha mẹ, nhường nhịn, hòa thuận đối với anh em, tương kính như tân trong đạo vợ chồng, trọng nghĩa khinh tài trong tình bằng hữu… trau bút nghiên, rèn cung kiếm để lo việc biên cương, cơm no áo ấm cho lê dân.
    Trên đây chỉ mới nói đến chữ QUÁN và một số chữ QUÁN theo nghĩa Hán Việt của phần Hình nhi hạ (theo kiểu phân loại của Nho gia ngày xưa). Thế còn phần Hình nhi thượng có những chữ QUÁN nào không?
    – Chữ Quán [貫] theo chiết tự, nằm trên là chữ Mẫu [母] nghĩa là Bà Mẹ, nằm dưới là chữ Bối [貝], nghĩa là những đồ quý báu, đồ trang sức, lá cây để viết Kinh… Nói trọn nghĩa là bà mẹ đã quen thấy, nhận biết hết thảy những quý giá trên đời, và xem cõi đời nầy là quê quán chính của mình. Nói khác đi là bà mẹ thiên nhiên đã thấu suốt hết thảy mọi vận chuyển của vũ trụ, đã quen thuộc hết thảy những kinh truyện mà không cần phải dùng lý trí để suy luận, để hiểu biết. Nhưng đây cũng chỉ là Hình nhi thượng tầng thấp, còn Hình nhi thượng tầng cao thì sao?
    – Chữ Quán [觀]: vẫn theo lối chiết tự, bên trái là bộ Quan [-], chỉ những bông hoa cây cỏ, muôn cánh chim muông, mọi lời nói qua lại ở loài người, loài vật, dù ở trên trời, dưới nước, hay trên mặt đất, bên phải là chữ Kiến [見], chỉ cái thấy hết thảy, cái thấy thấu triệt chân tâm. Nói trọn nghĩa đây là cái thấy của bậc thánh nhân, của các hiền nhân, gọi là Đại Quán [大觀]. Nếu đạt tới Chí Quán [至 觀] đó là cái thấy quán triệt của các bậc bồ tát trong cõi siêu hình siêu thực.
    Chữ QUÁN nầy đối với Khổng Mạnh là sự thấu suốt về Minh Tâm [明心]. Chiết tự chữ Minh, bên trái là chữ Nhật [日], chỉ cho ban ngày, bên phải là chữ Nguyệt [月], chỉ cho ban đêm. Ngày đêm sớm tối, tâm luôn chiếu sáng như ánh mặt trời và ánh trăng. Sự thấu triệt nầy lấy tu thân làm gốc để thực hành, đưa đến cái Quán như các bậc thánh hiền mà ta mong ước.
    Chữ QUÁN nầy đối với Lão Trang là sự thấu xuyên về cái lẽ vô vi [無爲], không làm chính là làm, vô ngôn tức là ngôn, lấy siêu thoát làm gốc để tu dưỡng [修養]. Đạt đến chí quán về mặt nầy, có thể thấu triệt được cái không trong mây, trong gió như các đạo nhân thường nói : Đạo khả đạo phi thường đạo… tức là nằm trong cõi siêu hình siêu thực rồi.
    Chữ QUÁN nầy đối với nhà Phật là sự thông suốt qua nhiều cõi, từ cõi địa ngục ngạ quỷ đến cõi Trời, cõi Long cung… lấy Tịnh Khiết [静潔] làm gốc để tu tâm. Đây là cái thấy của các bậc Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát… có thể thị hiện bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu, không thể dùng lý trí để Quán mà phải cậy đến trực giác, khải thị mà Quán. Như là Quán Thế Âm nghe thấu được mọi tiếng lòng của mọi sinh linh, vạn vật.
    Đi sâu vào Tư Tưởng [思想] của Khổng Mạnh, Lão Trang, Phật học qua hai chữ Tâm Quán [心觀]:
    – Chữ Tư [思]: theo chiết tự, bên trên là chữ Điền [田] nghĩa là ruộng, để biểu thị của cải, tài sản… nằm dưới là chữ Tâm [心] để chỉ lòng người (nghĩa đen), để chỉ nỗi lòng, cội lòng, tiếng lòng (nghĩa rộng). Khi Tâm nhảy múa, rời khỏi chữ Điền thì khởi dậy lòng tham, phiền trược, chấp nhất lại đến, khó mà có tâm tự tại [心 自在].
    – Chữ Tưởng [想]: là nhớ nhau, suy tưởng. Cũng theo lối chiết tự, bên trên là chữ Tướng [相] nghĩa là xem xét, trang mạo, hình tướng. Chữ Tướng có bên trái là chữ Mộc [木] chỉ cây cỏ; bên phải là chữ Mục [目] chỉ con mắt. Khi mắt còn dáo dác tìm cỏ cây, bóng sắc… thì hình tướng mới lộ.
    Nằm bên dưới chữ Tướng là chữ Tâm [心] chỉ lòng người, cội lòng… Khi Tâm nhảy múa rời khỏi chữ Tướng thì Tâm xao động, Tâm biến loạn, sinh ra lựa chọn, phân biệt, vạch lá tìm lông…, Tâm không còn yên ổn nữa.
    Bước đến hai chữ Tâm Quán [心觀]: có nghĩa là sự thấu suốt cái vốn sống tự có sẵn trong lòng, trong ý thức, không phải nhờ tư lự và kinh nghiệm mà có.
    Về Tâm Quán hiện thị [心觀 現示]. Chữ Hiện : là có trước mắt, sự tỏ bày, ánh sáng của ngọc… Bên trái của chữ Hiện là chữ Vương [王] nghĩa là vua; bên phải là chữ Kiến [見] nghĩa là trông thấy. Nói rộng nghĩa, Hiện là cái thấy của bậc quân vương. Còn chữ Thị [示] là bảo cho người ta biết, để cho người ta thấy.
    Đối với Khổng Mạnh, Tâm Quán hiện thị là cái thấy của bậc thánh hiền, thánh nhân. Cái đạo của nước nhà có thể thực hành để mang đến kết quả thiên hạ vi công [天下爲公], tiến đến thế giới đại đồng.
    Đối với Lão Trang, Tâm Quán hiện thị là cái thấu triệt của đạo nhân, thực hiện được cái lớn của trời đất, mọi vật đều bình đẳng, trật tự xã hội được hài hòa như cái đạo của trời đất vốn đã sẵn có.
    Đối với Nhà Phật, Tâm Quán hiện thị là sự phiền não, chấp nhất đã ra khỏi nhà, và tâm hỷ xả tự xuất hiện, nhờ đó mà tâm từ bi cũng nối gót đi theo, khiến cho thân tâm an lạc của tứ vô lượng tâm mà Đức Phật đã từng giảng giải trong Vô Lượng Thọ kinh.
    Ngày xưa, trong lời kết của Truyện Kiều, cụ Nguyễn có câu: “Lời quê góp nhặt dông dài / Mua vui cũng được một vài trống canh…”
    Vậy thì với những dông dài về chữ QUÁN và một vài chữ QUÁN Hán Việt nằm trong nền văn hóa Đông Phương ở trên kia, cứ xem là những lời quê, góp nhặt để mua vui…
 
– Lâm Minh Anh
 
Ghi chú:

Những khó khăn khi viết về chữ Hán Việt
    1. Không thể chiết tự hết thảy và giải nghĩa từng chi tiết một cho mỗi chữ QUÁN (quá dài dòng).
    2. Không thể chiết tự hết thảy và giải nghĩa cho từng chữ mang từ ghép như quán thế, quán thông… (quá ôm đồm).
    3. Không thể chỉ trong một bài viết mà nói hết nghĩa những chữ QUÁN khác có cùng âm mà khác tự dạng, khác nghĩa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lịch sử một đời người quá ngắn nên nhấn mạnh sự hiếm hoi của một sự việc bằng câu “Tôi chưa bao giờ thấy..” hình như không có tác dụng bao nhiêu. Nhưng cũng phải bắt đầu bằng câu này: Tôi chưa bao giờ thấy lo âu khi qua nước Mỹ— cho đến năm 2025, khi nước Mỹ bước vào ‘kỷ nguyên’ mới. Nói tới lịch sử, mặc nhiên nói đến sự thay đổi. Ngay cả vũ trụ không người (‘người’ ngoài hành tinh không kể) còn thay đổi, huống chi những nơi con người có mặt. Con người với thất tình lục dục, với bản ngã, với ước mơ, với hy vọng. Những tính cách rất người đó mặc nhiên dẫn đến thay đổi — thay đổi để có một cuộc sống tốt đẹp hơn, cho cá nhân, cho đất nước, cho nhân loại.
Bản thân tôi cũng từng trải qua một câu chuyện tương tự. Hồi trẻ đi làm cho một công ty xây dựng của một thằng bạn học. D. là giám đốc, còn tôi là nhân viên bán hàng. Thấy cuối tuần tôi hay đi làm các công tác từ thiện, D. nói “…Tao mà như mày sẽ dành thì giờ để kiếm tiền. Thêm vài chục năm năm nữa, tao sẽ có thật nhiều tiền, lúc về già sẽ làm từ thiện cho đáng!...” Bạn có phần đúng. Điều này cũng giải thích phần nào tại sao bạn thì làm giám đốc, còn tôi chỉ là nhân viên. Tôi còn nói với D. rằng việc điều hành một công ty tạo ra công ăn việc làm cho 100 người còn có lợi ích cho xã hội hơn làm từ thiện nhiều. Xã hội rất cần có những người có khả năng lãnh đạo như D.
(Hollywood, 15 tháng 12) - Giới điện ảnh Hoa Kỳ và cả chính trường Washington đồng loạt phản ứng gay gắt sau khi Tổng thống Donald Trump đăng một lời bình bị xem là vô cảm và cay độc về cái chết của đạo diễn Rob Reiner và Vợ Michele Reiner. Trên mạng Truth Social, Tổng thống viết rằng Reiner “đã qua đời vì cơn giận dữ do chính ông ta gieo ra cho người khác,” rồi gán cho ông một thứ gọi là “hội chứng rối loạn ám ảnh Trump,” trong lúc bi kịch gia đình vẫn còn chưa ráo máu, theo tờ Daily Mail.
Một chiếc đồng hồ bỏ túi bằng vàng – từng nằm im dưới đáy Bắc Đại Tây Dương hơn một thế kỷ – vừa được đánh thức khỏi giấc ngủ dài bằng mức giá kỷ lục: 1,78 triệu bảng Anh. Chiếc đồng hồ ấy thuộc về Isidor Straus, người cùng sáng lập chuổi cửa hàng Macy’s, một thương gia 67 tuổi đã nằm lại cùng con tàu huyền thoại Titanic trong đêm định mệnh năm 1912. Chiếc đồng hồ – một mẫu Jules Jurgensen 18 carat khắc chữ, được tặng nhân sinh nhật lần thứ 43 của ông vào năm 1888 – nay trở thành hiện vật Titanic có giá cao nhất từng được bán. Kỷ lục cũ vốn thuộc về một chiếc đồng hồ vàng khác từng được trao cho thuyền trưởng con tàu cứu hơn 700 người, bán năm ngoái với giá 1,56 triệu bảng.
Thỉnh thoảng chúng tôi hay tới thăm ông niên trưởng Hải Quân của tôi. Ông đã gần 90 tuổi, mái tóc đã bạc trắng, bên khuôn mặt nhiều vết nhăn, đi đứng chậm chạp, nhưng ông vẫn minh mẫn, trí nhớ vẫn rành rẽ về những câu chuyện thời cuộc xa xưa, và hát vẫn rất hay. Lần thăm viếng vừa qua, ngồi nói chuyện với ông lâu hơn. Trong câu chuyện ông kể: “mình qua đây làm việc vất vả, mong ngày về hưu đưa vợ con đi du lịch cho biết đó biết đây, nhưng không thành, vì bà vợ bị tai biến mạch não khiến nửa người bị tê liệt phải ngồi xe lăn đã 25 năm qua, đi đâu cũng khó khăn”. Tôi bồi hồi xúc động, nhìn ông với tất cả sự cảm thông.
Cuộc sống này không có ai là hoàn hảo mà cũng không có cái gì là hoàn toàn, tất cả mọi sự vật trên đời này đều có khiếm khuyết và không vĩnh cửu. Chính vì thế nếu ai cố gắng đi tìm sự tuyệt đối, họ sẽ thất vọng. Câu thơ trên muốn nói lên ý tưởng, hãy chấp nhận và trân trọng những khiếm khuyết của nhau để chúng ta tới gần nhau hơn, hiểu nhau hơn. Nhà khoa học nổi tiếng Stephen Hawking còn đi xa hơn nữa, ông khẳng định „Nếu không có sự không hoàn hảo, cả bạn và tôi đều không tồn tại” ("Without imperfection, neither you nor I would exist."). Ông muốn nói sự „không hoàn hảo“ của vũ trụ, những giao động đột biến trong quá trình tiến hóa, những sai lệch trong định luật vật lý đã là những điều kiện để tạo nên sự sống trong đó có con người.
Suốt hơn nửa thế kỷ qua, Nghịch Lý Fermi (Fermi Paradox) luôn là một câu đố hóc búa ám ảnh giới thiên văn học. Nói một cách ngắn gọn, nghịch lý này đặt ra câu hỏi: Nếu vũ trụ đã gần 14 tỷ năm tuổi, một khoảng thời gian quá đủ để các nền văn minh tiên tiến, xã hội hiện đại, công nghệ cao phát triển và du hành giữa các vì sao, vậy thì tất cả họ đang ở đâu? Sao chưa có ai ghé qua Địa cầu để “chào một tiếng”?
Trong một bài viết đăng trên trang mạng Psychology Today, Tiến Sĩ Jeff Degraff kể lại một trải nghiệm khá thú vị của mình. Ông cho biết cách đây không lâu, ông bị mắc kẹt. Không phải là kẹt xe hay xếp hàng, mà là một khoảnh khắc mịt mờ về mặt tinh thần. Ông không thể suy nghĩ sâu sắc, không thể cảm nhận được những gì mình đang tiếp xúc. Rồi bất chợt một bài hát hiện lên trong đầu. Không phải bài hát mới nghe gần đây, và cũng không phải bài hát mà ông yêu thích. Nhưng lời bài hát thật sự chạm đến trái tim của ông. Chúng nói lên một điều gì đó mà ông không thể diễn đạt thành lời. Giống như não không muốn nói những lời đơn giản, nên đã quyết định cất tiếng hát.
Cựu Ước chép: “Thiên Chúa lấy đất sét nặn ra ông Adam theo hình ảnh của Ngài. Sau đó làm ông mê đi rồi rút một chiếc xương sườn ra tạo thành bà Eva, dẫn tới tặng cho ông Adam. Ông nói: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra”. Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau”. Đọc đoạn sách Sáng Thế Ký này, tôi bâng khuâng. Vậy là hai ông bà chưa trưởng thành, nhìn nhau như hai đứa trẻ ở truồng tắm mưa, chẳng động tĩnh chi. Thua xa ông Luân Hoán.
Sáng Chủ Nhật, ngày 19 tháng 10, giữa lúc khách tham quan vẫn đang tấp nập trong viện bảo tàng Louvre, một nhóm gồm bốn tên trộm bịt mặt đã thực hiện vụ trộm liều lĩnh hiếm thấy. Bốn kẻ bịt mặt đã đột nhập Bảo Tàng, dùng cần cẩu phá vỡ cửa sổ tầng trên của tòa nhà Galerie d’Apollon, khu trưng bày các bảo vật hoàng gia Pháp, cuỗm đi những món báu vật vô giá rồi tẩu thoát bằng xe gắn máy (motorbike).


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.