Hôm nay,  

Bài nói chuyện của Nguyễn Thị Khánh Minh trong buổi Ra Mắt Sách “Theo Dấu Thư Hương tập 2 của nhà văn Trịnh Y Thư

12/12/202500:00:00(Xem: 534)
 
khanh minh
Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh.
 
Kính chào quý vị quan khách và thân hữu.
 
Chúng ta đang ở vào tháng cuối của năm 2025, với sự kiện Ra Mắt Sách Theo Dấu Thư Hương tập 2 nhà văn Trịnh Y Thư.
 
Cầm cuốn sách mới trong tay, tôi lại nhớ có lần ở quán cafe, Trịnh Y Thư băn khoăn, không biết chúng mình in sách vào thời này có phải là chuyện vô ích không, có phải là quá mơ mộng không. Với đa số, nhất là thế hệ trẻ hơn thì có lẽ là cái gật đầu, nhưng đối với chúng tôi, chúng tôi yêu quý cái vô ích, cái mơ mộng ấy. Tôi xin chia sẻ với quý vị cảm xúc rất riêng của tôi về sách. Nếu không có sách làm sao ta có thể cầm được trên tay cái vật thể nhỏ bé này, một thành quả nhìn bắng mắt cầm bằng tay, chứa đựng trong đó những con chữ đồng hành cùng những phút giây cảm hứng. Không có sách làm sao tôi có thể cảm nhận được trọn vẹn cái sức nặng của hạnh phúc hữu hình trên trang giấy với những dòng chữ ký tặng này? Và khi đọc sách, nghe được tiếng sột soạt khi lật trang giấy, ngửi được mùi giấy mới và cả mùi hương của sáng tạo. Một khi không còn ai in sách nữa thì những tủ đựng sách đẹp đẽ sẽ là món đồ cổ chứng nhân một thời kỳ sách huy hoàng. Và nếu không có sách thì làm sao chúng có được những buổi RMS để bằng hữu có được niềm vui gặp gỡ trong không khí của văn chương?

khanh minh 2

Trịnh Y Thư & Nguyễn Thị Khánh Minh tại quầy bán sách.

 
Và cả lúc này đây, nhờ có sách tôi được đứng ở đây để nói vài lời về người bạn quý của tôi, Trịnh Y Thư, một nhà văn, một nhà thơ, một dịch giả, một nhà nghiên cứu triết học, nhận định văn chương, một cầm thủ tây ban cầm, ở lãnh vực nào anh cũng gây được tiếng vang và được sự ngưỡng mộ. Qua hiệu quả những việc làm và những tác phẩm đã xuất bản ở hài ngoại lẫn trong nước, tôi có thể nói rằng Trịnh Y Thư là một trong những tên tuổi tiêu biểu cho dòng văn học Việt Nam đương đại. Sự thành tựu như thế, theo tôi, ngoài phần trăm của thiên phú, hầu hết nhờ vào chính bản thân của tác giả, ở anh có tính kiên trì, đam mê viết, đam mê đọc, đòi hỏi phải vượt qua chính mình, sự vun đắp không ngừng nội lực tri thức, và nhất là anh có một cõi riêng, đặt mình vào sự cô đơn cần thiết cho sáng tạo. Nên cũng không lạ gì, có một tên tuổi Trịnh Y Thư.

khanh minh 3

Từ trái: Nhà văn Nguyễn Thị Thanh Lương, nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, tài tử Kiều Chinh & Trịnh Y Thư.

 
Có được người bạn đồng trang lứa như thế, đối với tôi là một thiện duyên. Tình bạn chúng tôi theo thời gian cũng đã hơn mười năm, ngoài sự quý mến, tôi vẫn còn giữ được sự nể phục và ngưỡng mộ người bạn mình, ở cả hai tư cách nhà thơ, nhà văn.
 
Với tư cách nhà thơ, tôi xin nói qua về thi phẩm duy nhất Phế Tích Của Ảo Ảnh, một tựa rất hấp dẫn khiêu khích sự muốn đọc. Tập thơ là chuyến hành hương về quá khứ, mà theo lời thơ của tác giả:
 
Chỉ còn mớ ký ức thảm thương
 làm hành trang cho những
chuyến hành hương tuyệt vọng.
 
Có phải vì thế, mà hình ảnh được phóng chiếu qua tấm gương, như thể, với ảnh ảo sẽ làm dịu đi sắc cạnh của tuyệt vọng. Và – Ảo ảnh – Theo tôi, đó là vế nặng trĩu sức đam mê trong câu Phế tích của ảo ảnh. Nó nguôi ngoai được cái thê lương của “Phế tích.” Nó đầy ngụ ý, ẩn dụ, đẩy sức liên tưởng ta nhìn ra mặt kia của nó, là Sự Thật. Đó là dụng ý Trịnh Y Thư khi muốn quá khứ cùng sự im lặng nhẫn nhịn được cất lên tiếng nói, qua những câu thơ:
 
Vẫn biết sự thật là tiếng vọng thiên thu
nhưng hãy cho tôi hòa giải
bởi cuộc chiến với ký ức
là cuộc chiến với sự lãng quên.
 
Từ những ý trên, tôi đã gọi tập thơ này là cuộc chiến giữa ký ức và sự lãng quên. Trong cuộc chiến đó tác giả tỏ thái độ rõ ràng về quá khứ:
 
chẳng thể rũ bỏ quá khứ
như ném vào bãi phế thải
một món đồ hư hỏng dư thừa.

khanh minh 4

Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh đang phát biểu.

 
Nói cách khác, Trịnh Y Thư đã bộc lộ kỳ vọng vào sự lưu giữ ký ức, nhất là những ký ức lịch sử, bởi ở đó có một lời giải thích cho những thế hệ sau, lý do về sự lưu vong của triệu người Việt Nam. Lưu giữ ký ức lịch sử không phải để hận thù mà để tha thứ, và qua thơ Trịnh Y Thư, tôi hiểu, tha thứ không phải là lãng quên mà là một định hướng nhân bản cho cuộc sống ngay bây giờ và tương lai:
 
… những gì từng căm ghét
những gì từng trân trọng
bây giờ đều biến thành trò chơi
cầu vực của yêu thương thù hận
chẳng còn chỗ cho bất cứ
một phán quyết nào.
 
…Ý thức xanh là lời mời gọi các linh hồn oan ương…
 
… họ về đây bảo tôi đã qua rồi
tất cả đã qua rồi
nước phù sa vẫn nhóc nhách
chảy ngang con trổ
luồn lách giữa những chân lúa đang hăm hở đơm bông.
 
Sự hy vọng này vừa quyết liệt vừa thơ mộng, nó là hành trang mới để người thơ hành hương đến giấc mơ, ở đó có những câu thơ rất hay, đầy cảm xúc
 
phải bước đến tận cùng bờ vực
tôi mới nhận ra trọn kiếp tro phai
chẳng còn gì ngoài một giấc mơ…
 
…Đừng đánh thức giấc mơ tôi
trong lúc ngửa mặt lên trời
hứng những giọt mưa đêm tháng Chạp
với hình ảnh duy nhất
là đôi mắt em
 
Và đó là Nhà Thơ Trịnh Y Thư, một phong cách thơ Trữ Tình Hiện Đại.
 
Còn nhà văn Trịnh Y Thư thì sao? Tôi đặc biệt yêu thích tiểu thuyết đầu tay Đường Về Thủy Phủ của anh. Một tựa đề rất thơ cho một cuốn sách có sự hiện diện của ba thập kỷ chiến tranh Việt Nam. Mặc dù theo Trịnh Y Thư nói, anh không viết về chiến tranh mà chỉ nói lên ấn tượng về chiến tranh cùng tội ác của nó trên thân phận con người, nhưng những ấn tượng ấy của tác giả liên quan đến những giai đoạn lịch sử với bộ mặt thật tàn bạo của nó mà người ta không thể tìm đọc được nơi những trang giáo khoa sử chính thống. Như một nhà sử học đã nói, để biết sự thật của lịch sử thời nào không gì đúng hơn là tìm hiểu những tác phẩm văn học nghệ thuật nói về thời đó. Và Đường Về Thủy Phủ là một dạng của văn chương ấy. Trịnh Y Thư có thái độ quyết liệt, không khoan nhượng với cái Ác, với dụng ý đánh động lòng trắc ẩn, lương tâm và nhân tính con người, cũng vì vậy mà anh không ngần ngại chọn bút pháp tả chân một cách bạo liệt, như trong cảnh xử tử một xác chết lính Pháp, cảnh thảm sát một ngôi làng 300 người H’Mông với lý do nghi có nội gián cho Pháp. Đọc tới đoạn này tôi phải gấp cuốn sách lại, ra ngoài hít thở và xoay sở với sự phẫn nộ đang chực vỡ cả người. Theo cảm xúc khi đọc tác phẩm này, tôi cho là Trịnh Y Thư đã thành công trong sự lựa chọn bút pháp cho mình.

khanh minh 6
Trịnh Y Thư & Nguyễn Thị Khánh Minh.
 
Bên cạnh đó, chúng ta còn được tác giả cho thấy niềm tin của anh vào lòng biết ơn và sự ấm áp trong tình bạn, sự chân thật chung thủy trong tình yêu, và nhất là một niềm tin rất đông phương –nhân chi sơ tính bổn thiện – Anh tin vào bản tính lương thiện như một mầm có sẵn nơi con người, vấn đề là phải nuôi dưỡng và đem ra dùng trong những mối tương quan giao tiếp. Có được niềm tin, giữ được niềm tin và rao giảng niềm tin, là một dũng khí, dũng khí của một ngòi bút giúp ta sức mạnh để tin vào cuộc sống, với hy vọng và bao dung. Đó là Trịnh Y Thư, một nhà văn Hiện Thực Hiện Đại.
 
Xin chân thành cảm ơn quý vị.
 
– Nguyễn Thị Khánh Minh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tờ Việt Báo Kinh Tế số 28 ngày 13 tháng 2 năm 1993 có đăng bài thơ “Lửa, Thấy Từ Stockholm” của nhà thơ Trần Dạ Từ, nhân tuần lễ nhà văn Thảo Trường thoát khỏi nhà tù lớn đến định cư ở Hoa Kỳ. Đây là bài thơ Trần Dạ Từ viết từ 1989 rời Việt Nam, khi được các bạn Văn Bút Thụy Điển mời ăn cơm chiều, Ông nhớ đến bạn còn ở trong tù khổ sai dưới chân núi Mây Tào, Hàm Tân. 33 năm đã trôi qua kể từ ngày chúng ta chào đón nhà văn Thảo Trường đến Hoa Kỳ, 15 năm kể từ ngày Thảo Trường từ bỏ thế gian, Chiều Chủ Nhật tuần này, 22 tháng Sáu, nhân dịp tái xuất bản bốn cuốn sách của Thảo Trường (Hà Nội, Nơi Giam Giữ Cuối Cùng; Người Khách Lạ Trên Quê Hương; Ngọn Đèn; Lá Xanh), bạn bè văn hữu và gia đình cùng tề tựu tưởng nhớ Nhà Văn. Việt Báo trân trọng mời độc giả cùng đọc, cùng nhớ nhà văn lớn của chúng ta, một thời, một đời.
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Theo một ý nghĩa nào đó, Farrington đóng vai trò là một kiểu người có thể thay thế hoặc tồn tại ở bất cứ đâu, có thể là một nhân vật đặc trưng nào đó nhưng cũng có thể là một người bình thường. Bằng cách chọn chủ thể như thế, Joyce đưa Farrington vào bối cảnh đường phố Dublin và gợi ý rằng sự tàn bạo của gã không có gì là bất thường. (Lời người dịch).
Thông thường người ta thỏa thuận những tác phẩm và những tác giả đó thuộc về văn học bản xứ với phụ đề “gốc Việt.” Thỏa thuận đó đặt cơ bản trên ngôn ngữ, có tên gọi “ngôn ngữ chính thống”, còn tiếng Việt là “ngôn ngữ thiểu số.” Tất cả những ý nghĩa này được nhìn thấy và định nghĩa từ những người bản xứ của ngoại ngữ. Còn người Việt, chúng ta nhìn thấy và nghĩ như thế nào? Hai tập thơ tiếng Hán của Nguyễn Du, thuộc về văn học Trung Quốc hay Việt Nam? Những bài viết, sách in tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Latin của các học giả và các linh mục dòng tên, thuộc về văn học nào?
Đứa trẻ đi học bị bạn bè bắt nạt ở trường về nhà mét mẹ, một đứa trẻ bị trẻ con hàng xóm nghỉ chơi, về nhà mét với mẹ, cô con gái bị người yêu bỏ về tâm sự với mẹ, v.v., nói chung những đứa trẻ cần bờ vai của mẹ, bờ vai mẹ là nơi các con nương tựa. Con cái thường tâm sự với mẹ về những phiền não hàng ngày hơn tâm sự với cha. Ngày của mẹ là ngày tưng bừng, náo nhiệt nhất. Cha thường nghiêm nghị nên trẻ con ít tâm sự với cha. Nói như thế, không có nghĩa là trẻ con không thương cha? Không có cha làm sao có mình, cho nên tình thương cha mẹ cũng giống nhau, nhưng trẻ con gần mẹ hơn gần với cha. Khi đi học về, gọi mẹ ơi ới: mẹ ơi, con đói quá, mẹ ơi, con khát quá, mẹ ơi, con nhức đầu, mẹ ơi,... Tối ngày cứ mẹ ơi, mẹ ơi. Nhất là những đứa trẻ còn nhỏ, chuyện gì cũng kêu mẹ.
Giải thưởng cho thể loại Tiểu Thuyết (Fiction) về tay nhà văn Percival Everett với tác phẩm James. Tiểu thuyết James là sự tái hiện nhân vật Huckleberry Finn trong tiểu thuyết Adventures of Huckleberry Finn của văn hào Mark Twain. Nhà văn Percival Everett kể lại góc nhìn của Jim, người bạn đồng hành của Huck bị bắt làm nô lệ trong chuyến du lịch mùa Hè. Trong James, Percival Everett đã trao cho nhân vật của Jim một tiếng nói mới, minh họa cho sự phi lý của chế độ chủng tộc thượng đẳng, mang đến một góc nhìn mới về hành trình tìm kiếm gia đình và tự do.
Văn học miền Nam tồn tại mặc dù đã bị bức tử qua chiến dịch đốt sách và cả bắt bớ cầm tù đầy đọa những người cầm bút tự do sau ngày Cộng sản Bắc Việt chiếm lĩnh miền Nam. Chẳng những tồn tại mà nền văn học ấy đã hồi sinh và hiện đang trở thành niềm cảm hứng cho các thế hệ Việt kế tiếp không chỉ ở hải ngoại mà còn cả trong nước. Có lẽ chưa có một nền văn học nào trên thế giới đã có thể thực hiện được những thành quả trong một thời gian ngắn ngủi chưa đầy một thế hệ như vậy. Bài viết này sẽ tổng kết các lý do dẫn đến thành quả của văn học miền Nam trong 20 năm, từ 1954 tới 1975, một trong hai thời kỳ văn học phát triển có thể nói là rực rỡ và phong phú nhất của Việt Nam (sau nền văn học tiền chiến vào đầu thế kỷ 20). Tiếp theo là việc khai tử văn học miền Nam qua chiến dịch đốt và tịch thu các văn nghệ phẩm, cầm tù văn nghệ sĩ của Việt cộng. Và kế là những nỗ lực cá nhân và tự nguyện để phục hồi văn học miền Nam tại hải ngoại và hiện trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ Việt..
Văn học luôn được xây dựng trên tác giả, tác phẩm và độc giả, với những cơ chế tất yếu là báo, tạp chí văn học, nhà xuất bản, mạng lưới văn chương, và phê bình. Gần đây thêm vào các phương tiện thông tin xã hội. Trên hết là quyền lực xã hội nơi dòng văn học đang chảy, bao gồm chính trị, tôn giáo. Giá trị của một giai đoạn văn học được đánh giá bằng những thành phần nêu trên về sáng tạo và thẩm mỹ qua những cơ chế như tâm lý, ký hiệu, cấu trúc, xã hội, lịch sử… Việc này đòi hỏi những nghiên cứu mở rộng, đào sâu theo thời gian tương xứng.
Có lần tôi đứng trước một căn phòng đầy học sinh trung học và kể một câu chuyện về thời điểm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, về việc tôi đã bỏ chạy sang Mỹ khi còn nhỏ, và trải nghiệm đó vẫn ám ảnh và truyền cảm hứng cho tôi như thế nào, thì một cô gái trẻ giơ tay hỏi tôi: “Ông có thể cho tôi biết tại sao cha tôi không bao giờ kể cho tôi nghe về cuộc chiến đó không? Cha tôi uống rượu rất nhiều, nhưng lại ít nói.” Giọng nói cô run rẩy. Cô gái bảo cha cô là một người lính miền Nam Việt Nam, ông đã chứng kiến nhiều cảnh đổ máu nhưng nỗi buồn của ông phần nhiều là trong nội tâm, hoặc nếu đôi khi thể hiện ra ngoài thì bằng những cơn thịnh nộ.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.