Hôm nay,  

Palestine: những dòng thơ không bao giờ chết

11/14/202500:00:00(View: 1098)

01 PALESTINE video

Chụp lại từ video đọc bài thơ “Nếu tôi phải chết” để tưởng niệm nhà thơ Refaat Alareer (1979 - 2023). (Hình: YouTube)


Khi nói tới những dòng thơ không bao giờ chết, nơi đây chúng ta chỉ muốn nói rằng có những dòng chữ sẽ vẫn được lưu giữ trong ký ức một dân tộc, bất kể là những trận mưa bom, đạn, mìn, đại bác không ngừng bắn vào họ. Và ngay cả khi những tập thơ, các trang giấy có bị đốt ra tro, những dòng thơ đó sẽ vẫn được lưu truyền từ đời này sang đời kia của một dân tộc, nếu họ còn sống sót.

Chúng ta may mắn sống trong thời đại của điện thoại thông minh và Internet, nên được  nhìn thấy những hình ảnh, đoạn phim, được nghe những tiếng kêu đau đớn từ dưới những đống gạch vụ, và được đọc những đoạn thơ ngắn được gửi ra rất vội từ những người sống sót sau các trận thảm sát. Thế giới này đầy những trận mưa tội ác, từ thảm sát Ukraine tới gạch vụn Gaza... Nhìn thấy những hình ảnh kinh hoàng này, chúng ta mới nhớ rằng cả ngàn năm trước cũng đã có những cuộc chiến hoặc giành đất, hoặc thánh chính. Thời đó chưa có phi cơ, xe tăng, đại bác, súng... Và các chiến binh phải đi bộ, đi ngựa ngàn dặm để cầm gươm, rút dao, đâm kiếm để hoàn tất những cuộc thập tự chinh, hay đi chiếm đất từ Á sang Âu, từ Nam ra Bắc. Các thương binh thời đó không được chữa trị, vì cũng chẳng có bác sĩ quân y nào, phải nằm chờ chết nơi ven rừng, góc biển. Bây giờ thì chiến tranh dữ dội hơn, phần lớn là chết liền, chết chớp nhoáng, và kể cả chết mà chẳng hiểu vì sao.

Hãy đọc những dòng này của Mosab Abu Toha, một nhà thơ Palestine 33 tuổi, khi anh kể về một cái chết ở Gaza:

Chị ngủ trên giường,
không bao giờ thức dậy nữa.
Giường của chị đã trở thành nấm mồ của chị,
một nấm mồ bên dưới trần phòng,
trần nhà, một đài tưởng niệm.
Không tên, không năm sinh,
không năm chết, không bia mộ.
Chỉ có máu và một khung ảnh bị vỡ
kế bên chị.
 
Nhà thơ Mosab Abu Toha là một người Palestine sinh trưởng trong rào kẽm gai và các nhà lều tỵ nạn ở Gaza. Năm 2014, nhà thơ Mosab Abu Toha đã được truyền cảm hứng từ một cuốn sách mà anh cứu được từ đống đổ nát để thành lập Thư viện Công cộng Edward Said tại Thành phố Beit Lahia, thư viện tiếng Anh đầu tiên của Gaza. Học giả Hoa Kỳ Noam Chomsky đã ca ngợi thư viện là "một tia sáng và hy vọng hiếm hoi cho những người trẻ tuổi ở Gaza". Abu Toha ước mơ qua thư viện và thi ca sẽ kể lại những ước mơ hạnh phúc với những người dân Gaza khác trong hoàn cảnh khó khăn và nguy hiểm dưới sự chiếm đóng của Israel, cũng như những trở ngại mà anh phải đối mặt trong việc tiếp cận các nguồn lực, từ sách vở đến nhà cửa. Abu Toha là nhà thơ thế hệ trẻ. Trước anh, đã có những nhà thơ Palestine khác đã bị quân đội Israel giết.

02  PALESTINE cuu sach tu gach vun

Nhà thơ Mosab Abu Toha cứu được 1 cuốn sách từ gạch vụn Gaza năm 2014, gợi ý cho anh làm thư viện. (Hình từ chương trình Harvard University Scholars at Risk Program)

Trong các bài thơ mà bom đạn Israel muốn xóa sổ, có những dòng thơ của Refaat Alareer (1979 - 2023) về lời dặn dò người sống sót rằng khi anh chết đi (và vài tuần sau khi làm bài thơ này, anh và gia đình cùng chết vì bom Israel tại Gaza) thì hãy tìm vải để may lại, làm một chiếc diều cho trẻ em Palestine sau này nhìn lên bầu trời sẽ vẫn nhìn thấy chiếc diều hy vọng của dân tộc. Bài thơ có tên là "Nếu tôi phải chết" ("If I must die") của Refaat Alareer như sau:

Nếu tôi phải chết,
bạn phải sống
để kể câu chuyện của tôi
để bán đồ đạc của tôi
để mua một mảnh vải
và vài sợi dây,
(chọn vài trắng rồi kết một cái đuôi dài)
để một đứa trẻ, ở đâu đó tại Gaza
khi nhìn lên bầu trời trong mắt
chờ đợi người cha đã ra đi trong biển lửa
--– và không nói lời từ biệt với bất kỳ ai
kể cả với xác thịt của cha
kể cả với chính lòng cha –--
nhìn thấy con diều, con diều bạn làm, bay lên trên cao
và thoáng nghĩ rằng có một thiên thần ở đó
mang lại tình yêu
Nếu tôi phải chết
hãy để cái chết mang lại hy vọng
hãy để nó là một câu chuyện.
.
Thơ viết như tiền định, vì 5 tuần lễ sau, nhà thơ chết vì bom Israel. Refaat Alareer là một nhà văn, nhà thơ, dịch giả, giáo sư đại học và nhà hoạt động người Palestine đến từ Dải Gaza, nơi bị quân Israel chiếm đóng. Vào ngày 6 tháng 12/2023, nhà thơ Alareer đã bị giết trong một trận bom của Israel cùng với anh trai, chị gái và 4 người con của anh chị trong cuộc bao vây diệt chủng đang diễn ra của Israel tại Gaza năm 2023.

Chỉ năm tuần trước khi bị giết, anh đã phóng lên mạng bài thơ có tựa đề "Nếu tôi phải chết" và ghim nó lên trang Twitter cá nhân. Giữa dòng người đau buồn, khi tin về cái chết của  lan truyền trên mạng, nhiều người từ khắp nơi trên thế giới đã bày tỏ lòng kính trọng đối với Refaat bằng cách cung cấp bản dịch bài thơ tiên tri của ông sang ngôn ngữ địa phương của họ.

Sau cái chết của Alareer, bài thơ "If I Must Die" đã lan truyền nhanh chóng, đạt hơn 33 triệu lượt xem chỉ riêng trên Twitter và được dịch sang hơn 100 ngôn ngữ. Bài thơ đã được đọc công khai tại các buổi cầu nguyện, biểu tình và các buổi tụ họp nghệ thuật trên khắp thế giới. Bài thơ được coi là một ví dụ điển hình về văn học đòi tự do của một dân tộc, vang vọng vượt ra ngoài bối cảnh của Gaza và đóng góp vào các cuộc đối thoại xuyên quốc gia về sự phản kháng và bất công.

Bài thơ vừa là một tác phẩm văn học vừa là một hiện vật văn hóa của sự phản kháng. Nó gói gọn nỗi đau buồn, sự bất khuất và niềm hy vọng bền bỉ của một dân tộc đang bị bao vây. Bài thơ tiếp tục ảnh hưởng đến các cuộc thảo luận toàn cầu về công lý, ký ức và sức mạnh của việc kể chuyện.

Bài thơ “Nếu tôi phải chết” được đọc trên YouTube, một video ngắn 1:36 phút:
Alareer sinh ra tại Thành phố Gaza vào năm 1979 trong thời kỳ Israel chiếm đóng Dải Gaza, điều mà anh cho rằng đã ảnh hưởng tiêu cực đến mọi hành động và quyết định của anh. Alareer lấy bằng Cử nhân tiếng Anh năm 2001 tại Đại học Hồi giáo Gaza (Islamic University of Gaza) và bằng Thạc sĩ tại Đại học College London năm 2007. Anh lấy bằng Tiến sĩ Văn học Anh tại Đại học Putra Malaysia năm 2017 với luận án về John Donne. Anh dạy văn học và sáng tác tại Đại học Hồi giáo Gaza và đồng sáng lập tổ chức We Are Not Numbers, một tổ chức kết nối các tác giả giàu kinh nghiệm với các nhà văn trẻ ở Gaza, đồng thời thúc đẩy sức mạnh của việc kể chuyện như một phương tiện kháng cự của người Palestine chống lại sự chiếm đóng của Israel.

03  PALESTINE 1 poet RE AL

Nhà thơ Refaat Alareer (1979 - 2023) và thi tập "If I Must Die".

Tờ báo Euro-Med Monitor đã đưa ra một tuyên bố cho biết nhà thơ Alareer đã bị nhắm mục tiêu, dội bom cố sát, "bị đánh bom theo mục tiêu xóa sổ toàn bộ tòa nhà", và diễn ra sau nhiều tuần lễ "nhà thơ Refaat nhận được những lời đe dọa giết người trực tuyến và qua điện thoại từ các tài khoản Israel".

Hơn một năm sau, vào ngày 26 tháng 4 năm 2024, con gái lớn và đứa cháu mới sinh của Alareer cũng bị giết trong một cuộc không kích của Israel vào ngôi nhà của họ ở Thành phố Gaza. Alareer và vợ có sáu người con. Anh trai ông, Hamada, cùng với ông nội, anh trai, chị gái và ba cháu gái của vợ ông, Nusayba, đã chết trong Chiến tranh Gaza năm 2014 do một chiến dịch ném bom của Israel. Tổng cộng, Israel đã giết chết hơn 30 người thân của Alareer và vợ. Trong cuộc khủng hoảng Israel-Palestine năm 2021, Alareer đã viết một bài bình luận trên tờ The New York Times mô tả những ảnh hưởng của cuộc chiến đối với các con ông. Anh là một tình nguyện viên của Sở thú Gaza, và tiếp tục công việc này trong suốt cuộc chiến ở Gaza.

Nói về cái chết của nhà thơ Alareer, người sáng lập Tổ chức Giám sát Nhân quyền Euro-Mediterranean, Ramy Abdu, tuyên bố rằng quân đội Israel đã "nhắm mục tiêu, truy đuổi và giết chết tiếng nói của Gaza, một trong những học giả xuất sắc nhất, một con người, người bạn thân thiết và quý báu của tôi."
Nhà thơ Najwan Darwish nói với tờ The Guardian rằng Alareer là "một tiếng nói có sức ảnh hưởng", đồng thời nói thêm: "Chúng ta không chỉ mất Alareer, mà còn mất cả thơ ca của ông; tất cả đều nằm dưới đống đổ nát, tất cả những bài thơ tương lai mà ông sẽ viết. Và tất cả những nghệ sĩ đã bị giết hại... điều gì đã xảy ra với nghệ thuật của họ?"

Trong khi đó, nhà thơ Mosab Abu Toha (người mà chúng ta trích thơ từ đầu bài) viết: "Trái tim tôi tan nát, người bạn và đồng nghiệp của tôi, Refaat Alareer, đã bị giết cùng gia đình."

Bài thơ "Hỡi Đất Mẹ" (O, Earth) của Alareer viết vào tháng 1/2012 cũng là một ám ảnh tiền định về cái chết của anh trên đất mẹ Palestine, như dường anh có thể làm cho đất mẹ bớt đau khổ, trong khi anh tự biết anh không phải là chiến binh. Bài thơ như sau:
 
Hỡi Đất Mẹ
Hãy ôm tôi
Và hãy giữ chặt tôi
Hoặc nuốt chửng tôi
Để không còn đau khổ nữa.
Tôi yêu người
Vậy hãy mang tôi đi.
Hãy làm tôi giàu có.
Hãy làm tôi thành bụi đất.
Những ngày tháng tịch lặng đã qua rồi.
Súng đạn là ngôn từ của nhân loại.
Tôi chẳng có thực phẩm gì ngoài cái gai,
Chẳng có môn thể thao nào ngoài tiếng thở dài.
Bởi một người lính cần cảm thấy phấn chấn.
Hỡi Đất Mẹ,
Nếu trong đời, tôi sẽ phải bị thương tích
Hãy để bụi đất thân tôi trong đất mẹ sinh sôi.
Hỡi Đất Mẹ.
.
Bài thơ sau đây là viết cho người lính Do Thái, nhắc rằng 70 năm trước dân tộc Israel của các anh đã bị đàn áp như bây giờ các anh đàn áp dân tộc Palestine chúng tôi, Bài thơ "Tôi là anh" (I am You) của Refaat Alareer viết:
.
…Hãy nhìn vào gương:
Kinh hoàng, kinh hoàng!
Báng súng M-16 của anh nện trên gò má tôi
Vết vàng nó để lại
Vết sẹo hình viên đạn lan rộng
Như chữ vạn phát xít,
In lằn trên mặt tôi,
Nỗi đau trong tim tuôn trào
Từ đôi mắt tôi nhỏ giọt
Từ lỗ mũi tôi xuyên thủng
Tai tôi ù đi
Nơi này.
Như nó đã từng với bạn
70 năm trước
Hay khoảng đó.
.
Bài thơ sau đây có nhan đề "Mẹ" (Mom), viết năm 2012, nhà thơ Refaat Alareer viết:
 
Mẹ
Trên khuôn mặt mẹ
Có một cuốn sách
Và lời tựa của cuộc đời.
Giữa những dòng chữ này
và trong hai hang động này
Đời sống ngự trị.
Dòng chữ kia là hy vọng.
Dòng chữ kia là yêu thương.
Cái chết đó
Khi mẹ mỉm cười,
Mẹ trao hy vọng,
Mẹ trao tình yêu
Mẹ trao sự sống,
Cho cuộc đời.
.
Sau khi nhà thơ Alareer bị giết, chiếc diều thi ca của dân tộc Palestine vẫn đang bay lơ lửng trên các dòng chữ của các nhà thơ còn sống sót. Trong đó, nổi bật có nhà thơ Mosab Abu Toha, người sinh ngày 17 tháng 11/1992 trong trại tỵ nạn Al-Shati ở Bắc Gaza. Toba tốt nghiệp bộ môn văn học tiếng Anh tại Đại học Hồi giáo Gaza. Năm 2017, anh thành lập Thư viện Edward Said, một thư viện công cộng tiếng Anh tại Beit Lahia, và chi nhánh thứ hai của thư viện này đã được mở tại Thành phố Gaza vào năm 2019.

Năm 2023, Abu Toha tốt nghiệp Đại học Syracuse (New York) với bằng Thạc sĩ Mỹ thuật chuyên ngành Sáng tác văn học. Nhà thơ Mosab Abu Toha đã bị quân đội Israel bắt giữ vào tháng 11/2023 khi đang cố gắng chạy trốn sang Ai Cập cùng gia đình. Sau đó, anh được thả sau khi bị thẩm vấn và kể từ đó làm việc như một người ghi chép về cuộc chiến từ xa. Anh đã được Giải thưởng Pulitzer cho Bình luận năm 2025 cho bài viết về cuộc chiến ở Gaza trên tờ The New Yorker.

Nhà thơ Mosab Abu Toha đã viết về sự mong manh của cuộc sống dưới sự bao vây của Israel làm chủ đề cho các tác phẩm của mình, nhấn mạnh những hành động nhỏ bé, bất chấp sự tàn phá để sống. Ngôi nhà của anh bị dội bom và người thân của anh đã chết. Nhà thơ – người đã được vinh danh với Giải thưởng Pulitzer năm 2025 – đã trở thành người sống sót sau chính sự tàn phá mà anh đã mô tả từ lâu.

Giờ đây, câu chuyện về Abu Toha và hành trình của anh từ Gaza đến Mỹ, cùng với gia đình, đang được kể lại trên màn ảnh. Một bộ phim tài liệu dài 24 phút do TRT World sản xuất hiện đang được trình chiếu tại các liên hoan phim, mang đến cái nhìn sâu sắc hơn về tác động của cuộc chiến tranh Israel lên Gaza và việc chia sẻ đau khổ có thể giúp xoa dịu nỗi đau như thế nào. Kể từ khi chiến tranh bắt đầu từ tháng 10/2023 tới giờ, Israel đã giết chết gần 69.000 người Palestine ở Gaza, hầu hết là phụ nữ và trẻ em. Sau đây là một bài thơ, nhan đề "Không đề" (Untitled) của Mosab Abu Toha viết về các trận bom Gaza đã thổi đủ thứ màu của máu, bùn, đất lên các bức tường còn sót lại các tranh vẽ trẻ em:

Một người cha thức dậy vào ban đêm, nhìn thấy
các màu sắc ngẫu nhiên trên tường
do cậu con trai bốn tuổi vẽ.
Nhưng cậu bé đã chết sau một trận bom.
 
Các màu sắc này cao khoảng 1,2 mét.
Năm sau, chúng sẽ cao khoảng 1,5 mét hoặc 1,6 mét.
Nhưng người vẽ đã mất và
bảo tàng không có tranh mới nào
để trưng bày.
.
Vậy thì, sống sót như thế nào? Hãy như một cánh hồng, đó là cách dân tộc Palestine sống còn. Bài thơ ngắn nhan đề "Một bông hồng vươn vai" (A Rose Shoulders Up) của Abu Toha viết:

Đừng bao giờ ngạc nhiên
khi thấy một bông hồng vươn vai
giữa đống đổ nát của ngôi nhà:
Đây là cách chúng tôi sống sót.
 
Sau đây là bài thơ nhan đề "Hãy ghi nhớ giấc mơ của bạn" (Memorize Your Dream) của Mosab Abu Toha, có nhiều ngắt đoạn, như các giấc mơ rời trong đêm:
Hãy nhắm mắt lại
hãy bước đi trên đại dương.
 
Hãy nhúng tay
vào nước
bắt lấy những lời thơ của bạn.
 
Hãy viết lời thơ lên
những đám mây.
Đừng lo, chúng sẽ tìm thấy
đất của chúng.
 
Hãy mở mắt của bạn ra.
Trong đêm,
biển không còn xanh nữa.
 
Hãy nhìn xung quanh và từ
những giọt mưa đang rơi
hãy nhặt những dấu chấm câu.
 
Hãy mặc đồ bơi,
hãy lặn sâu xuống
và tìm một nhan đề
cho thiên sử thi của bạn.
 
Hãy dấn thân
về quê hương đang chuyển động—
con thuyền của bạn.
 
Hãy lên giường
và, trong giấc ngủ,
hãy bắt đầu ghi nhớ
giấc mơ của bạn.
 
Chúng ta không thể đoán rằng dân tộc Palestine sẽ có thể thoát nạn đô hộ để trở thành một quốc gia độc lập hay không. Thậm chí cũng không thể biết bao giờ thực sự sẽ có hòa bình nơi những phần đất còn lại của họ, trong đó Gaza đã gần như là gạch vụn hoàn toàn. Khi nhà thơ Refaat Alareer hy vọng cái chết của anh sẽ trở thành chiếc diều cho các thế hệ trẻ em tương lai nhìn lên, giữ hy vọng cho ngày độc lập, nhà thơ Mosab Abu Toha của thế hệ kế tiếp đã kêu gọi dân tộc Palestine nhìn lên mây, hãy lặn ra biển, và hãy ghép chữ từ giấc mơ để sẽ làm thành chiếc thuyền chuyển động quê hương.
Đời người quá ngắn, tình yêu thương quê hương lại rộng vô bờ. Nhưng đời họ đã trở thành những dòng thơ không bao giờ chết. Bạn hãy ngẩng đầu nhìn lên mây để dò xem chiếc diều của nhà thơ Refaat Alareer đã bay tới đâu. Và bạn hãy nhìn xa ra biển để ngó xem bài thơ đang ghép chữ của Mosab Abu Toha đang lơ lửng nơi nào trong giấc mơ của anh. Phải chăng, hạnh phúc không bao giờ nắm được trong tay, mà phải nhìn lên mây và ngó ra biển?
 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Tờ Việt Báo Kinh Tế số 28 ngày 13 tháng 2 năm 1993 có đăng bài thơ “Lửa, Thấy Từ Stockholm” của nhà thơ Trần Dạ Từ, nhân tuần lễ nhà văn Thảo Trường thoát khỏi nhà tù lớn đến định cư ở Hoa Kỳ. Đây là bài thơ Trần Dạ Từ viết từ 1989 rời Việt Nam, khi được các bạn Văn Bút Thụy Điển mời ăn cơm chiều, Ông nhớ đến bạn còn ở trong tù khổ sai dưới chân núi Mây Tào, Hàm Tân. 33 năm đã trôi qua kể từ ngày chúng ta chào đón nhà văn Thảo Trường đến Hoa Kỳ, 15 năm kể từ ngày Thảo Trường từ bỏ thế gian, Chiều Chủ Nhật tuần này, 22 tháng Sáu, nhân dịp tái xuất bản bốn cuốn sách của Thảo Trường (Hà Nội, Nơi Giam Giữ Cuối Cùng; Người Khách Lạ Trên Quê Hương; Ngọn Đèn; Lá Xanh), bạn bè văn hữu và gia đình cùng tề tựu tưởng nhớ Nhà Văn. Việt Báo trân trọng mời độc giả cùng đọc, cùng nhớ nhà văn lớn của chúng ta, một thời, một đời.
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Theo một ý nghĩa nào đó, Farrington đóng vai trò là một kiểu người có thể thay thế hoặc tồn tại ở bất cứ đâu, có thể là một nhân vật đặc trưng nào đó nhưng cũng có thể là một người bình thường. Bằng cách chọn chủ thể như thế, Joyce đưa Farrington vào bối cảnh đường phố Dublin và gợi ý rằng sự tàn bạo của gã không có gì là bất thường. (Lời người dịch).
Thông thường người ta thỏa thuận những tác phẩm và những tác giả đó thuộc về văn học bản xứ với phụ đề “gốc Việt.” Thỏa thuận đó đặt cơ bản trên ngôn ngữ, có tên gọi “ngôn ngữ chính thống”, còn tiếng Việt là “ngôn ngữ thiểu số.” Tất cả những ý nghĩa này được nhìn thấy và định nghĩa từ những người bản xứ của ngoại ngữ. Còn người Việt, chúng ta nhìn thấy và nghĩ như thế nào? Hai tập thơ tiếng Hán của Nguyễn Du, thuộc về văn học Trung Quốc hay Việt Nam? Những bài viết, sách in tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Latin của các học giả và các linh mục dòng tên, thuộc về văn học nào?
Đứa trẻ đi học bị bạn bè bắt nạt ở trường về nhà mét mẹ, một đứa trẻ bị trẻ con hàng xóm nghỉ chơi, về nhà mét với mẹ, cô con gái bị người yêu bỏ về tâm sự với mẹ, v.v., nói chung những đứa trẻ cần bờ vai của mẹ, bờ vai mẹ là nơi các con nương tựa. Con cái thường tâm sự với mẹ về những phiền não hàng ngày hơn tâm sự với cha. Ngày của mẹ là ngày tưng bừng, náo nhiệt nhất. Cha thường nghiêm nghị nên trẻ con ít tâm sự với cha. Nói như thế, không có nghĩa là trẻ con không thương cha? Không có cha làm sao có mình, cho nên tình thương cha mẹ cũng giống nhau, nhưng trẻ con gần mẹ hơn gần với cha. Khi đi học về, gọi mẹ ơi ới: mẹ ơi, con đói quá, mẹ ơi, con khát quá, mẹ ơi, con nhức đầu, mẹ ơi,... Tối ngày cứ mẹ ơi, mẹ ơi. Nhất là những đứa trẻ còn nhỏ, chuyện gì cũng kêu mẹ.
Giải thưởng cho thể loại Tiểu Thuyết (Fiction) về tay nhà văn Percival Everett với tác phẩm James. Tiểu thuyết James là sự tái hiện nhân vật Huckleberry Finn trong tiểu thuyết Adventures of Huckleberry Finn của văn hào Mark Twain. Nhà văn Percival Everett kể lại góc nhìn của Jim, người bạn đồng hành của Huck bị bắt làm nô lệ trong chuyến du lịch mùa Hè. Trong James, Percival Everett đã trao cho nhân vật của Jim một tiếng nói mới, minh họa cho sự phi lý của chế độ chủng tộc thượng đẳng, mang đến một góc nhìn mới về hành trình tìm kiếm gia đình và tự do.
Văn học miền Nam tồn tại mặc dù đã bị bức tử qua chiến dịch đốt sách và cả bắt bớ cầm tù đầy đọa những người cầm bút tự do sau ngày Cộng sản Bắc Việt chiếm lĩnh miền Nam. Chẳng những tồn tại mà nền văn học ấy đã hồi sinh và hiện đang trở thành niềm cảm hứng cho các thế hệ Việt kế tiếp không chỉ ở hải ngoại mà còn cả trong nước. Có lẽ chưa có một nền văn học nào trên thế giới đã có thể thực hiện được những thành quả trong một thời gian ngắn ngủi chưa đầy một thế hệ như vậy. Bài viết này sẽ tổng kết các lý do dẫn đến thành quả của văn học miền Nam trong 20 năm, từ 1954 tới 1975, một trong hai thời kỳ văn học phát triển có thể nói là rực rỡ và phong phú nhất của Việt Nam (sau nền văn học tiền chiến vào đầu thế kỷ 20). Tiếp theo là việc khai tử văn học miền Nam qua chiến dịch đốt và tịch thu các văn nghệ phẩm, cầm tù văn nghệ sĩ của Việt cộng. Và kế là những nỗ lực cá nhân và tự nguyện để phục hồi văn học miền Nam tại hải ngoại và hiện trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ Việt..
Văn học luôn được xây dựng trên tác giả, tác phẩm và độc giả, với những cơ chế tất yếu là báo, tạp chí văn học, nhà xuất bản, mạng lưới văn chương, và phê bình. Gần đây thêm vào các phương tiện thông tin xã hội. Trên hết là quyền lực xã hội nơi dòng văn học đang chảy, bao gồm chính trị, tôn giáo. Giá trị của một giai đoạn văn học được đánh giá bằng những thành phần nêu trên về sáng tạo và thẩm mỹ qua những cơ chế như tâm lý, ký hiệu, cấu trúc, xã hội, lịch sử… Việc này đòi hỏi những nghiên cứu mở rộng, đào sâu theo thời gian tương xứng.
Có lần tôi đứng trước một căn phòng đầy học sinh trung học và kể một câu chuyện về thời điểm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, về việc tôi đã bỏ chạy sang Mỹ khi còn nhỏ, và trải nghiệm đó vẫn ám ảnh và truyền cảm hứng cho tôi như thế nào, thì một cô gái trẻ giơ tay hỏi tôi: “Ông có thể cho tôi biết tại sao cha tôi không bao giờ kể cho tôi nghe về cuộc chiến đó không? Cha tôi uống rượu rất nhiều, nhưng lại ít nói.” Giọng nói cô run rẩy. Cô gái bảo cha cô là một người lính miền Nam Việt Nam, ông đã chứng kiến nhiều cảnh đổ máu nhưng nỗi buồn của ông phần nhiều là trong nội tâm, hoặc nếu đôi khi thể hiện ra ngoài thì bằng những cơn thịnh nộ.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.