Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Mùa Hè Cuốc Kêu

08/07/202200:00:00(Xem: 2006)

s-tch-con-chim-quc8
Hình minh họa

 

Nơi tôi ở, khi những xe bus sơn màu vàng ngưng chạy trên các nẻo đường để chở đám học trò đến trường thì coi như đó là dấu hiệu báo “mùa hè đã đến” và sẽ đem theo “cái nóng nung người nóng nóng ghê” như trong bài thơ “Vào Hè” của Cụ Dương Bá Trạc:
 
Ai xui con cuốc gọi vào hè
Cái nóng nung người nóng nóng ghê
Ngõ trước vườn sau um những cỏ
Vàng phai thắm nhạt ngán cho huê
Đầu cành gọi bạn chim xao xác
Trong tối đua bay đóm lập lòe
May được nồm Nam cơn gió thổi
Đàn ta ta gẫy khúc Nam nghe (*)
 
Thường thì người ta hay nói “tiếng ve gọi hè”, còn Cụ Dương Bá Trạc lại dùng con chim cuốc để nói về mùa hè. Tôi đã từng nghe tiếng “ve sầu rả rích” trong những mùa hè khi còn ở quê nhà. Khi qua ở đậu nơi xứ người cũng còn nghe tiếng “rả rích ve sầu” nhưng tuyệt nhiên chưa bao giờ nghe được tiếng kêu của loài chim cuốc. Cụ Dương Bá Trạc là một nhà cách mạng, nhà báo “khai dân trí” từng bị thực dân Pháp bắt đi tù nhiều lần nên rất nhạy cảm trước khung cảnh thiên nhiên tiêu điều dưới những cơn nắng gắt mùa hè chẳng khác nào đất nước đã rơi vào vòng nô lệ. Nhiều lần đọc bài thơ “Vào Hè” tôi chỉ thấy nhà thơ tả cảnh vật như “ngõ trước vườn sai um những cỏ. Vàng phai thắm nhạt ngán cho huê”. Huê tức là hoa. Loài cỏ cây thực vật thì như thế! Còn những loài động vật thì sao? Đây: “Đầu cành gọi bạn chim xơ xác. Trong tối đua bay đóm lập lòe”.
 
Trước cảnh nước mất nhà tan, thân nhân ly tán, bạn bè chiến hữu mỗi người một nơi, kẻ Nam người Bắc chẳng khác nào cảnh trong thơ: “Đầu cành gọi bạn chim xơ xác”. Và rồi trong hậu trường chính trị thời bấy giờ, đất nước đang chìm trong bóng tối, không thiếu những kẻ ngụp lặn trong trong đó để kiếm chút bả vinh hoa phú quý chẳng khác nào loài đom đóm lập lòe trong đêm tối mà ánh sáng của chúng không đủ để soi đường đi, chúng chỉ lập lòe trong những bãi tha ma, trên những cánh đồng hoang mộ vắng càng tạo nên hình ảnh ma quái đáng sợ. Hai chữ “lập lòe” gợi lên hình ảnh “vô minh bất chính” vậy!
 
Hai câu cuối của bài thơ “May được nồm Nam cơn gió thổi / Đàn ta ta gẫy khúc Nam nghe”, lại thấy tác giả viết: “nồm Nam”. Nồm là gió nồm. Nam là gió nam, có nơi gọi là gió nồm nam từ hướng biển đông nam thổi vào. Ở đây tác giả viết hoa cho chữ Nam. Phải chăng tác giả muốn nhắc tới việc ông, sau khi bị lưu đày ra Côn Lôn, lại được đưa về quản thúc tại An Giang (Long Xuyên) một vùng đất trù phú của Miền Nam nước Việt. Nơi đây ông tương đối được thoải mái, tự do hơn trong một thời gian ngắn chẳng khác nào được hưởng những cơn gió mát vào những ngày hè nóng gắt. Gió phương Nam đã đem lại sinh khí cho nhà cách mạng để rồi ông tiếp tục: “Đàn ta ta gẫy khúc Nam nghe”. Một lần nữa nhà thơ muốn tiếp tục truyển bá những “khúc Nam” đến cho toàn dân Việt trước cảnh tối tăm của đất nước.
 
*
Cũng với tiếng gọi vào hè của loài chim cuốc, không thể nào quên được bài thơ “Cuốc Kêu Cảm Hứng” của Cụ Nguyễn Khuyến:
 
Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ
Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ
Năm canh máu chảy đêm hè vắng
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ
Thâu đêm ròng rã kêu ai đó
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ (**)
 
Đọc bài “Vào Hè” của Cụ Dương Bá Trạc đã thấy buồn. Đọc bài “Cuốc Kêu Cảm Hứng” lại thấy càng buồn hơn. Tuổi của hai Cụ cách nhau gần nửa thế kỷ nhưng đã cùng chứng kiến cảnh nước mất nhà tan vào cuối thế kỷ thứ 19. Tâm trạng của cả hai Cụ đều là tâm trạng của những người dân bị mất nước nhưng mỗi người dùng ngôn ngữ thơ riêng của mình để diễn tả. Con chim cuốc trong thơ của Cụ Nguyễn Khuyến (Tam Nguyên Yên Đổ) là loài chim trong điển tích nói về Thục Đế sau khi mất nước đã hóa thành chim cuốc và cứ mỗi độ hè về trong những đêm trăng thanh gió mát lại cất tiếng kêu sầu thảm ai oán, khắc khoải và chừng như lửng lửng lơ lơ không phát ra thành tiếng. Kêu mãi gọi mãi từ đêm này qua đêm khác đến nỗi máu từ trong tim tràn ra: “Năm canh máu chảy đêm hè vắng”. Kêu mãi gọi mãi từ thanh thiên bạch nhật cho đến đêm tối tràn về. Tiếng kêu vô vọng bi thương chừng như hồn tan phách lạc dưới ánh trăng: “Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ”. Da diết đến thế! Đau thương đến thế là cùng.
 
“Có phải tiếc xuân mà đứng gọi / Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ”. Đúng như thế! Mùa xuân đã qua đi để lại cảnh xác xơ của mùa hè ai mà không tiếc? Huống chi, “Nhớ nước vẫn nằm mơ” là tấm lòng của kẻ sĩ Tam Nguyên trong giai đoạn lịch sử khốn khó đau thương của dân tộc. Đêm dài khắc khoải nằm nghe tiếng cuốc kêu “nhớ nước” khiến “khách giang hồ”  “dạ” không “ngẩn ngơ” sao được!
 
Chưa từng nghe tiếng cuốc kêu nhưng khi đọc hai bài thơ của hai Cụ Dương Bá Trạc và Nguyễn Khuyến, tôi chừng như cũng đang nghe được tiếng cuốc kêu đâu đây quanh tôi.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Là một nhà thơ, một nhà văn, và là một nhà báo. Hẳn là quá nhiều cho một đời người. Và rồi trở thành chiến binh, sau khi quân Nga tiến vào chiếm bán đảo Crimea và tấn công miền Đông Ukraine năm 2014: nhà thơ Borys Humenyuk đã tình nguyện ra trận chống quân Nga. Một số bài thơ của ông được dịch sang tiếng Anh trong tuyển tập Poems From The War, do hai dịch giả Oksana Maksymchuk và Max Rosochinsky thực hiện. Borys Humenyuk ra đời năm 1965 tại ngôi làng Ostriv, thị trấn Ternopil, miền tây Ukraine. Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà báo. Humenyuk đã tham gia tích cực vào những cuộc biểu tình cuối năm 2013 để dẫn tới Cách mạng Nhân phẩm (Revolution of Dignity) của Ukraine trong tháng 2/2014. Những câu chuyện về chiến tranh được kể trong thơ Borys Humenyuk là có thật, không hư cấu.
một bức tranh thiếu nữ của họa sĩ Đinh Cường, 2 tấm ảnh ghi lại hai cuộc gặp gỡ của họa sĩ Đinh Cường với bằng hữu vào năm 2012 vq2 2015, và 1 bức ảnh họa sĩ Trương Vũ đang vẽ tranh bên dòng Potomac (2016)
Hồ Xuân Hương có một tập thơ tên gọi Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Năm 1863 đại thần triều đình Huế Trương Đăng Quế, trong bài tựa cho Diệu Liên thi tập của Mai Am nữ sĩ, tức Lại Đức công chúa, đã sánh Mai Am với Hồ Xuân Hương và Phạm Lam Anh tác giả tập thơ Chiến cổ đường. Hai người thơ hay nhất nước Nam. Theo tôi tập thơ này không phải là tập hợp những bài thơ truyền khẩu do Antony Landes mướn Lê Quý và Nguyễn Văn Đại đến làng Nghi Tàm sao chép trước năm 1892, từ những sưu tập của hai người con Tử Minh tức Cả Tân,
Tôi thật bàng hoàng, xúc động khi được tin Giáo Sư Phạm Trọng Lệ đã đột ngột từ trần! Anh ra đi rất thanh thản, và an bình trên chiếc ghế massage tại tư gia vào ngày thứ Sáu 22/7/2022. Anh Phạm Trọng Lệ là một cựu học sinh Chu Văn An (Hà Nội), Nguyễn Trãi và Chu Văn An (Sài gòn), tốt nghiệp Cử Nhân tại Đại Học Sư Phạm, và Đại Học Văn Khoa ban Anh văn.
Chủ nghĩa dân tộc là một phong trào hiện đại. Trong suốt lịch sử, con người gắn bó với quê nơi mình sinh ra, với truyền thống của cha mẹ mình, và với các quyền lực lãnh thổ (territorial authorities) đã được thiết lập, nhưng phải đến cuối thế kỷ 18, chủ nghĩa dân tộc mới bắt đầu trở thành một thứ tình cảm nói chung được thừa nhận là ảnh hưởng đến cuộc sống công và tư và một trong những nhân tố quyết định vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại.
Hai bài thơ Nguyễn Đình Chiểu làm để điếu Phan Thanh Giản có thể được sáng tác ngay sau khi Phan Thanh Giản quyên sinh (năm 1867) hay – ở trường hợp bài chữ Hán – sau khi ông bị truy đoạt hết chức tước và đục tên khỏi bia Tiến sĩ. Từ đó đến nay đã trên 150 năm. Qua nhiều thế hệ, hai bài thơ ấy vẫn được coi là những tác phẩm bộc lộ niềm cảm thông trước hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của Phan Thanh Giản và bày tỏ lòng thương tiếc đối với ông. Ít năm gần đây, một vài tác giả ở trong nước biện luận rằng Nguyễn Đình Chiểu đã không thực sự thương tiếc Phan Thanh Giản, mà chỉ làm ra vẻ thương tiếc để mai mỉa và lên án ông. Những hàng phía sau là một cố gắng đọc lại bài thơ điếu bằng chữ Hán một cách cẩn trọng, để tìm hiểu chủ ý đích thực của Nguyễn Đình Chiểu khi sáng tác bài thơ ấy.
Nhà văn Mỹ gốc Việt Khánh Hà đã từng có nhiều tác phẩm tạo được tiếng vang trong cộng đồng văn học Hoa Kỳ; từng nhận nhiều giải thưởng; từng có một quyển sách được trao đến hai giải thưởng văn học giá trị của Hoa Kỳ cách nhau chỉ một tháng—đó là giải truyện ngắn 2020 William Faulkner Literary Competition trong tháng 9, 2020, và tháng 10, 2020 anh lại đoạt tiếp giải The 2020 Orison Anthology Award in Fiction từ tác phẩm The Woman-Child. Những điều hiếm có này đã được người viết trình bày trước đây trong bài Khánh Thúc Hà (Khanh Ha) Ngôi Sao Việt Tỏa Sáng Trên Vòm Trời Văn Học Hoa Kỳ, đăng trên Việt Báo ngày 29/10/2020. Và sau đó thì tuyển tập truyện ngắn A Mother’s Tale and Other Stories của anh cũng được C&R Press 2020 Fiction Award trao giải thưởng và phát hành năm 2021. Sẽ có bài viết khác về quyển sách đặc biệt này.
Có mấy ai trong chúng ta không bị ảnh hưởng bởi cái đẹp của vầng trăng, trong đêm trăng sáng lại nghe văng vẳng tiếng đàn, hòa điệu với tiếng vỗ về của sóng nước, ngập tràn hơi lạnh của sương thu? Vẻ đẹp này được thể hiện trong hai bài hát Hương Xưa và Nguyệt Cầm của cố nhạc sĩ Cung Tiến. Hương Xưa mang cả vầng trăng và tiếng đàn vào bài hát. Nguyệt Cầm là bài hát nói về một bài thơ nói về tiếng đàn và tâm sự của người khảy đàn lẫn người nghe đàn. Nghe câu hát “Kìa thuyền trăng, trăng nhớ Tầm Dương, nhớ nhạc vàng, đêm ấy thuyền neo bến ấy” làm sao không nhớ đến Tì Bà Hành của Bạch Cư Dị?
Người lớn gọi ông: Sáu Thi. Tên ông gắn liền nhiều lời đồn. Nhà văn viết tác phẩm lớn chưa chắc được ngưỡng mộ như người có nhiều huyền thoại. Số đông không quan tâm Xuân Diệu, Huy Cận... không biết đến Võ Phiến, Mai Thảo... Danh tiếng thổi phồng theo tưởng tượng. Văn chương lớn nhỏ theo tác phẩm. Huyền thoại kề môi thì thầm sát lỗ tai, câu chuyện từ từ hóa máu thấm vào trí nhớ. Toàn cõi Bình Định ai cũng biết Sáu Thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.