Hôm nay,  

Những Trận Đại Dịch Trong Một Số Tác Phẩm Văn Học Thế Giới

03/04/202000:00:00(Xem: 4071)
DAI DICH TRONG VAN HOC THE GIOI 01

Hình ảnh minh họa trận chiến thành Troy của Sử Thi Iliad. (nguồn: www.theconversation.com)


Đại dịch COVID-19 phát xuất từ thành phố Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc từ cuối năm 2019 đang hoành hành khắp thế giới gây khủng hoảng và lo sợ cho toàn thể nhân loại, với số lượng người bị lây và thiệt mạng vì vi khuẩn corona mỗi ngày mỗi gia tăng.

Nhưng trong lịch sử của loài người đây không phải là cơn đại dịch đầu tiên mà đã nhiều lần xảy ra. Đặc biệt dấu vết và ấn tượng của những trận đại dịch kinh hoàng này vẫn còn nằm trong những tác phẩm văn học nổi tiếng thế giới từ thi hào Hy Lạp Homer thời cổ đại cho đến nhà văn Stephen King thời hiện đại.

Trong nền văn học Tây Phương, từ sử thi Iliad của thi hào Homer trong thời cổ đại Hy Lạp và tuyển tập truyện Decameron của văn hào người Ý Giovanni Boccaccio trong thế kỷ 14 đến cuốn tiểu thuyết The Stand được xuất bản năm 1978 của nhà văn người Mỹ Stephen King và tiểu thuyết khoa học giả tưởng Severance được xuất bản năm 2018 của nữ văn sĩ người Mỹ gốc Tàu Ling Ma, tất cả đều có nói đến các trận đại dịch toàn cầu, theo nhà văn và nhà nghiên cứu văn học người Anh Chelsea Haith cho biết trong nghiên cứu của bà về dấu vết các trận đại dịch trong văn học thế giới Tây Phương được đăng trên trang mạng www.theconversation.com .

Theo Haith, văn học đóng vai trò quan trọng trong việc ghi lại những ứng phó của con người đối với các trận đại dịch nói chung và dịch COVID-19 nói riêng. Bởi vậy khi con người đọc lại những tác phẩm văn học có đề cập đến những trận đại dịch toàn cầu thì họ có thể rút ra được những bài học quý giá về sự hướng dẫn để làm sao đối phó hữu hiệu với đại dịch.

Theo nhà nghiên cứu cổ học tại Đại Học Cambridge là Mary Beard, Sử thi Iliad của Homer mở đầu bằng một dịch bệnh đến thăm trại Hy Lạp tại thành phố Troy để trừng phạt người Hy Lạp vì vua Agamemnon bắt con gái của Chryseis làm nô lệ.

Trong Cuộc Chiến Thành Troy (trước những hành động được mô tả trong Iliad của Homer), Agamemnon đã lấy con gái của Chryses tức là Chrysies hay còn gọi là Astynome từ Moesia làm chiến lợi phẩm và khi Chryses cố gắng chuộc cô con gái lại thì Agamemnon đã không chịu trả lại. Chryses đã cầu nguyện với Apollo, và ông này, để bảo vệ danh dự giáo sĩ của mình, đã gửi một bệnh dịch lây lan khắp quân đội Hy Lạp, và Agamemnon buộc phải trả Chryseis lại để chấm dứt trận dịch.

Học giả người Mỹ Daniel R Blickman thì cho rằng vở kịch về sự tranh chấp của Agamemnon và Achilles “không nên làm chúng ta mù quáng về vai trò của bệnh dịch trong việc thiết lập cung bậc cho những gì tiếp theo, hay quan trọng hơn, trong việc đưa ra một mô hình đạo đức ngay trọng tâm của câu chuyện". Nói cách khác, Iliad trình bày dụng cụ khuôn mẫu kể chuyện về tai họa xuất phát từ hành vi bị đánh giá xấu về phía tất cả các nhân vật liên quan.

Cuốn Decameron của nhà văn Ý Giovanni Boccaccio được ấn hành năm 1353 là thời kỳ của đại dịch Black Death. Black Death là một trong những đại dịch tàn phá lớn nhất trong lịch sử loài người, mà số người thiệt mạng được phỏng đoán từ 75 tới 200 triệu tại Châu Âu và Châu Á, lên cao điểm tại Châu Âu vào những năm từ 1347 đến 1351. Cuốn Decameron cho thấy vai trò quan trọng của việc kể chuyện trong thời kỳ tai ương dịch bệnh. Trong truyện này có nói đến chuyện 10 người tự cách ly trong một ngôi làng bên ngoài Florence trong 2 tuần lễ trong thời gian đại dịch Black Death. Trong suốt thời gian cách lý, các nhân vật trong truyện đã thay phiên nhau kể những câu chuyện về cái chết, tình yêu, chính trị tình dục, kinh doanh và quyền lực.

Trong tập truyện này, chức năng kể chuyện như là phương pháp thảo luận về các cấu trúc và tương tác xã hội trong những ngày đầu của Thời Phục Hưng. Những câu chuyện cho người nghe các phương cách mà qua đó tái xây dựng cuộc sống hàng ngày “bình thường” của họ, vốn đã bị ngưng trệ vì đại dịch.
Như thế việc cách ly để ngăn chận sự lây lan của đại dịch corona ngày nay chỉ là làm theo cách người xưa đã làm và cách ly dù là cách xa xưa song là phương cách rất hữu hiệu để đối phó với đại dịch.

Sinh hoạt bình thường của cuộc sống thường nhật cũng được nói đến trong tiểu thuyết tận thế The Last Man được xuất bản năm 1826 của nữ văn sĩ người Anh Mary Shelley. Lấy bối cảnh tại nước Anh tương lai giữa những năm 2070 và 2100, cuốn tiểu thuyết - được dựng thành phim năm 2008 - kể về cuộc đời của Lionel Verney, trở thành người “đàn ông cuối cùng” sau trận đại dịch toàn cầu tàn khốc.

Tiểu thuyết của Shelley xây dựng trên giá trị của tình bạn, và chấm dứt với Verney đi cùng với chú chó lang thang của mình. Điều này cho thấy thú cưng có thể làm cho con người cảm thấy bình yên hơn trong thời khủng hoảng. Cuốn tiểu thuyết này đặc biệt chỉ trích gay gắt về sự ứng phó của chế độ đối với dịch bệnh. Nó châm biếm chủ nghĩa không tưởng cách mạng và cuộc chiến nổ ra giữa các nhóm người còn sống sót, trước khi những người này cũng ngã quỵ.

Truyện ngắn The Masque of the Red Death được xuất bản năm 1842 của văn thi sĩ người Mỹ Edgar Allen Poe cũng mô tả sự thất bại của các viên chức thẩm quyền trong việc đối phó một cách đầy đủ và nhân đạo với trận đại dịch như thế. Đại dịch Red Death gây chảy máu chết người từ các lỗ chân long. Để đối phó, Hoàng Tử Prospero tập trung một ngàn cận thần vào một tu viện sang trọng cách biệt, hàn chặt các công và tổ chức một cuộc khiêu vũ đeo mặt nạ. Trong truyện ngắn có đoạn viết:

“Thế giới bên ngoài có thể tự chăm sóc. Nó thật đau buồn hay lo nghĩ. Hoàng Tử đã cung cấp tất cả những thứ lạc thú.”

Poe kể chi tiết các lễ hội xa hoa, kết thúc với sự xuất hiện vô hình của Red Death như là vị khách giống con người tại buổi khiêu vũ. Bệnh dịch được nhân cách hóa trong cuộc sống của hoàng tử và đến các cận thần của ông. Truyện viết rằng:

“Và từng người một buông thả những kẻ ăn chơi trong hội trường đẫm máu của cuộc tiêu khiển của họ, và từng người chết trong tư thế tuyệt vọng của sự ngã quỵ.”

Trong thế kỷ 20, tác phẩm The Plague xuất bản năm 1942 của nhà văn, triết gia và nhà báo Algeria với dòng máu Pháp Albert Camus và tác phẩm The Stand xuất bản năm 1978 của nhà văn Mỹ Stephen King đều có nói đến đại dịch với việc cách ly và những thất bại của chính phủ trong việc ngăn chận dịch bệnh. Việc tự cách ly trong tiểu thuyết của Camus tạo ra ý thức lo lắng về giá trị của việc tiếp xúc con người và mối quan hệ trong những công dân của thành phố Oran bị dịch hạch tại Algeria. Camus viết:


“Sự tước sạch không chừa thứ gì và sự vô minh hoàn toàn của chúng ta về những gì tương lai cất giữ trong kho đã khiến chúng ta không hiểu nổi; chúng ta không thể phản ứng chống lại sự hấp dẫn câm lặng của sự hiện hữu, vẫn còn rất gần và đã rất xa, điều đó ám ảnh chúng ta suốt ngày.”

Tiểu thuyết The Stand của nhà văn Stephen King, một trận cúm ghê hồn có vũ khí sinh học được đặt tên là “Project Blue” rò rỉ ra ngoài từ một căn cứ quân sự Mỹ. Đại dịch xảy ra. King gần đây viết trên Twitter rằng COVID-19 chắc chắn không nghiêm trọng như đại dịch trong hư cấu của ông, cũng thúc giục quần chúng phải thực hiện các đề phòng hợp lý.

Trong cuốn tiểu thuyến Fever xuất bản năm 2016, nhà văn người Nam Phi Deon Meyer mô tả chi tiết về sự sụp đổ tận thế của một loại vi khuẩn vũ khí sinh học đưa đến việc những người sống sót bao vây lẫn nhau để chiếm lấy các tài nguyên.

Trong tiểu thuyết khoa học giả tưởng Severance được xuất bản năm 2018 của nữ văn sĩ gốc Trung Hoa Ling Ma miêu tả hư cấu một loại dịch bệnh diễn ra tại Mỹ vào những năm 2010, trước và trong đại dịch Shen Fever, một bệnh nhiễm nấm hư cấu có nguồn gốc từ tỉnh Thâm Quyến của Trung Quốc. Truyện kể rằng Candace Chen đã từ bỏ công việc nghiền nát tâm hồn từ 9 đến 5 trong một nhà xuất bản ở quận Manhattan tại thành phố New York, nơi sản xuất những cuốn Kinh Thánh mới lạ được tô điểm bằng những viên đá nửa quý. Công ty gia công sản xuất cho một nhà máy ở Trung Quốc có công nhân đang chết vì bệnh phổi vì điều kiện làm việc nguy hiểm khi khai thác đá nửa quý. Không bao lâu, dịch Shen Fever lan ra khắp thế giới thông qua những thứ rác rưởi giá rẻ được sản xuất hàng loạt tại các nhà máy Trung Quốc, biến dân số thành những thây ma phải cam chịu lặp lại những hành động tương tự cho đến khi họ chết. Candace và nhóm thiên niên kỷ của cô tìm nơi ẩn náu trong một trung tâm thương mại, chuyển sang Google để tìm ra cách sống sót trong ngày tận thế (cho đến khi internet chết).

DAI DICH TRONG VAN HOC THE GIOI 02
Hình bìa của cuốn tiểu thuyết The Dreamers của nhà văn Karen Thompson Walker. (nguồn: www.electricliterature.com )

Cuốn tiểu thuyết The Dreamers xuất bản tháng 1 năm 2019 của nữ văn sĩ người Mỹ Karen Thompson Walker, bệnh dịch đã chiếm lấy một thị trấn đại học nhỏ giữa hư không Miền Nam California. Giai đoạn đầu tiên của giấc ngủ là nhẹ nhất, buông tay ngắn ngủi, giống như việc ném  một hòn đá lướt trên mặt nước. Từng người một, các sinh viên đại học rơi vào giấc ngủ trong trạng thái mơ màng cao độ, nhưng họ lại không thức dậy. Những người sống sót bị buộc phải cách ly trong khuôn viên trường và bị cấm ra khỏi vì ngăn ngừa họ lây bệnh cho dân chúng bên ngoài.

Cuốn They Came Like Swallows xuất bản năm 1997 của nhà văn người Mỹ William Maxwell mô tả cuộc sống như thế nào trong trận đại dịch cúm lây lan toàn thế giới như đại dịch Tây Ban Nha năm 1918. Cuốn tiểu thuyết They Came Like Swallows được viết một cách tinh tế về động lực gia đình lấy bối cảnh bệnh tật và sợ hãi, khi cúm hoành hành qua một thị trấn Miền Trung Tây.

Trong cuốn tiểu thuyết Zone One xuất bản năm 2011 của nhà văn người Mỹ Colson Whitehead mô tả một bệnh dịch đã biến dân số bị nhiễm bệnh thành những “bộ xương.” Quân đội đã thanh trừng Zone One trong vùng hạ Manhattan của những người chết còn sống và bây giờ họ đang cố gắng khôi phục nền văn minh thông qua tuyên truyền (American Phoenix Rising) và một bài hát vui nhộn (Dừng lại! Bạn có thể nghe Eagle Roar không? 'Chủ đề từ Sự Tái Thiết'). Cuốn tiểu thuyết kể về Mark Spitz, một cựu quản lý phương tiện truyền thông xã hội rất thụ động đã biến người quét xác chết, khi anh thuật lại cuộc sống hậu tận thế của mình thành một Bluetooth không hoạt động.

Còn nữa, cuốn tiểu thuyết Pale Horse, Pale Rider xuất bản năm 1939 của nữ văn sĩ người Mỹ Katherine Anne Porter miêu tả trận đại dịch phát xuất từ Tây Ban Nha năm 1918 và 1919. Tác giả cuốn Pale Horse, Pale Rider cũng là nạn nhân sống sót của trận dịch này. Cuốn tiểu thuyết kể câu chuyện tình lãng mạn buồn vui sẽ khiến bạn khóc, cuốn tiểu thuyết ngắn này xoay quanh một tình yêu cam chịu trong bối cảnh Thế Chiến Thứ Nhất và sự bùng phát của dịch cúm Tây Ban Nha.

Cuốn The Dog Stars xuất bản năm 2012 của nhà văn người Mỹ Peter Heller lấy bối cảnh 10 năm sau trận dịch cúm đã tiêu diệt hầu hết dân số Mỹ. Hig, chú chó của anh ta là Jasper và một ông già cáu kỉnh với một đống vũ khí sống trong một phi trường bỏ hoang. Bộ ba dành cả ngày để tự mình chống lại những tên cướp hung bạo là những kẻ, không biết vì duyên cớ gì họ lại đeo dây chuyền làm từ âm đạo??? Thật là quái gỡ, có lẽ chỉ có trong truyện hư cấu! Khi Hig nhận được một tín hiệu bất ngờ qua máy phát thanh trên máy bay mà anh ấy đang sống, nó gợi lên hy vọng rằng anh ấy vẫn còn nền văn minh bên ngoài khu vực đó.

Nhà văn trẻ người Mỹ Thomas Mullen trong cuốn tiểu thuyết The Last Town on Earth xuất bản năm 2006 miêu tả một thị trấn nhỏ có tên Commonwealth nằm ở Tây Bắc của Thái Bình Dương đã bỏ phiếu tự cách ly để chống lại đại dịch Tây Ban Nha. Không ai được ra vào. Trong khi đó Philip Worthy được đặt cách giữ an ninh cho một con đường độc đạo ra vào thị trấn khi ông ấy phải quyết định xem có nên cho phép một người lính mệt mỏi đang đi tìm nơi tị nạn vào Commonwealth hay không.

DAI DICH TRONG VAN HOC THE GIOI 03

Hình bìa của cuốn tiểu thuyết The Last Man của nữ văn sĩ Mary Shelley.(Nguồn: www.electricliterature.com )


Cuốn tiểu thuyết khoa học giả tưởng hậu tận thế The Last Man xuất bản năm 1826 của nữ văn sĩ người Anh Mary Shelley lấy bối cảnh năm 2100 ở Anh, nơi một bệnh dịch hạch chỉ còn lại một người đàn ông duy nhất là Lionel Verney.

Dĩ nhiên là còn rất nhiều tác phẩm văn học trên thế giới cả Tây lẫn Đông Phương miêu tả về các trận đại dịch thực có và hư cấu có. Nhưng phạm vi của bài viết này không thể nào kể ra cho hết.

Có điều rõ ràng đang xảy ra trước mắt nhân loại là thảm trạng kinh hoàng của trận đại dịch vi khuẩn corona phát xuất từ thành phố Vũ Hán tại tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc vào cuối năm 2019 hiện đã lây lan trên toàn thế giới trong đó có Hoa Kỳ khiến cho nhiều tiểu bang, nhiều thành phố và nhiều nước đã ra lệnh phong tỏa, cách ly để ngăn ngừa đại dịch.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Làm nghệ sĩ là một lời cam kết với đồng loại rằng những vết rách của kiếp sống sẽ không biến ta thành kẻ sát nhân,” Louise Bourgeois từng viết trong nhật ký thuở thiếu thời. “Những kẻ làm thơ — tôi muốn nói: mọi nghệ sĩ — rốt cuộc là những kẻ duy nhất biết sự thật về chúng ta,” James Baldwin từng viết ở tuổi ba mươi, “…không phải binh lính, càng không phải chính khách… chỉ có thi sĩ.” Và sự thật ấy, cách ta yêu, cách ta cho đi, và cách ta chịu đựng –là chính bản thể của ta.
Tờ Việt Báo Kinh Tế số 28 ngày 13 tháng 2 năm 1993 có đăng bài thơ “Lửa, Thấy Từ Stockholm” của nhà thơ Trần Dạ Từ, nhân tuần lễ nhà văn Thảo Trường thoát khỏi nhà tù lớn đến định cư ở Hoa Kỳ. Đây là bài thơ Trần Dạ Từ viết từ 1989 rời Việt Nam, khi được các bạn Văn Bút Thụy Điển mời ăn cơm chiều, Ông nhớ đến bạn còn ở trong tù khổ sai dưới chân núi Mây Tào, Hàm Tân. 33 năm đã trôi qua kể từ ngày chúng ta chào đón nhà văn Thảo Trường đến Hoa Kỳ, 15 năm kể từ ngày Thảo Trường từ bỏ thế gian, Chiều Chủ Nhật tuần này, 22 tháng Sáu, nhân dịp tái xuất bản bốn cuốn sách của Thảo Trường (Hà Nội, Nơi Giam Giữ Cuối Cùng; Người Khách Lạ Trên Quê Hương; Ngọn Đèn; Lá Xanh), bạn bè văn hữu và gia đình cùng tề tựu tưởng nhớ Nhà Văn. Việt Báo trân trọng mời độc giả cùng đọc, cùng nhớ nhà văn lớn của chúng ta, một thời, một đời.
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Theo một ý nghĩa nào đó, Farrington đóng vai trò là một kiểu người có thể thay thế hoặc tồn tại ở bất cứ đâu, có thể là một nhân vật đặc trưng nào đó nhưng cũng có thể là một người bình thường. Bằng cách chọn chủ thể như thế, Joyce đưa Farrington vào bối cảnh đường phố Dublin và gợi ý rằng sự tàn bạo của gã không có gì là bất thường. (Lời người dịch).
Thông thường người ta thỏa thuận những tác phẩm và những tác giả đó thuộc về văn học bản xứ với phụ đề “gốc Việt.” Thỏa thuận đó đặt cơ bản trên ngôn ngữ, có tên gọi “ngôn ngữ chính thống”, còn tiếng Việt là “ngôn ngữ thiểu số.” Tất cả những ý nghĩa này được nhìn thấy và định nghĩa từ những người bản xứ của ngoại ngữ. Còn người Việt, chúng ta nhìn thấy và nghĩ như thế nào? Hai tập thơ tiếng Hán của Nguyễn Du, thuộc về văn học Trung Quốc hay Việt Nam? Những bài viết, sách in tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Latin của các học giả và các linh mục dòng tên, thuộc về văn học nào?
Đứa trẻ đi học bị bạn bè bắt nạt ở trường về nhà mét mẹ, một đứa trẻ bị trẻ con hàng xóm nghỉ chơi, về nhà mét với mẹ, cô con gái bị người yêu bỏ về tâm sự với mẹ, v.v., nói chung những đứa trẻ cần bờ vai của mẹ, bờ vai mẹ là nơi các con nương tựa. Con cái thường tâm sự với mẹ về những phiền não hàng ngày hơn tâm sự với cha. Ngày của mẹ là ngày tưng bừng, náo nhiệt nhất. Cha thường nghiêm nghị nên trẻ con ít tâm sự với cha. Nói như thế, không có nghĩa là trẻ con không thương cha? Không có cha làm sao có mình, cho nên tình thương cha mẹ cũng giống nhau, nhưng trẻ con gần mẹ hơn gần với cha. Khi đi học về, gọi mẹ ơi ới: mẹ ơi, con đói quá, mẹ ơi, con khát quá, mẹ ơi, con nhức đầu, mẹ ơi,... Tối ngày cứ mẹ ơi, mẹ ơi. Nhất là những đứa trẻ còn nhỏ, chuyện gì cũng kêu mẹ.
Giải thưởng cho thể loại Tiểu Thuyết (Fiction) về tay nhà văn Percival Everett với tác phẩm James. Tiểu thuyết James là sự tái hiện nhân vật Huckleberry Finn trong tiểu thuyết Adventures of Huckleberry Finn của văn hào Mark Twain. Nhà văn Percival Everett kể lại góc nhìn của Jim, người bạn đồng hành của Huck bị bắt làm nô lệ trong chuyến du lịch mùa Hè. Trong James, Percival Everett đã trao cho nhân vật của Jim một tiếng nói mới, minh họa cho sự phi lý của chế độ chủng tộc thượng đẳng, mang đến một góc nhìn mới về hành trình tìm kiếm gia đình và tự do.
Văn học miền Nam tồn tại mặc dù đã bị bức tử qua chiến dịch đốt sách và cả bắt bớ cầm tù đầy đọa những người cầm bút tự do sau ngày Cộng sản Bắc Việt chiếm lĩnh miền Nam. Chẳng những tồn tại mà nền văn học ấy đã hồi sinh và hiện đang trở thành niềm cảm hứng cho các thế hệ Việt kế tiếp không chỉ ở hải ngoại mà còn cả trong nước. Có lẽ chưa có một nền văn học nào trên thế giới đã có thể thực hiện được những thành quả trong một thời gian ngắn ngủi chưa đầy một thế hệ như vậy. Bài viết này sẽ tổng kết các lý do dẫn đến thành quả của văn học miền Nam trong 20 năm, từ 1954 tới 1975, một trong hai thời kỳ văn học phát triển có thể nói là rực rỡ và phong phú nhất của Việt Nam (sau nền văn học tiền chiến vào đầu thế kỷ 20). Tiếp theo là việc khai tử văn học miền Nam qua chiến dịch đốt và tịch thu các văn nghệ phẩm, cầm tù văn nghệ sĩ của Việt cộng. Và kế là những nỗ lực cá nhân và tự nguyện để phục hồi văn học miền Nam tại hải ngoại và hiện trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ Việt..
Văn học luôn được xây dựng trên tác giả, tác phẩm và độc giả, với những cơ chế tất yếu là báo, tạp chí văn học, nhà xuất bản, mạng lưới văn chương, và phê bình. Gần đây thêm vào các phương tiện thông tin xã hội. Trên hết là quyền lực xã hội nơi dòng văn học đang chảy, bao gồm chính trị, tôn giáo. Giá trị của một giai đoạn văn học được đánh giá bằng những thành phần nêu trên về sáng tạo và thẩm mỹ qua những cơ chế như tâm lý, ký hiệu, cấu trúc, xã hội, lịch sử… Việc này đòi hỏi những nghiên cứu mở rộng, đào sâu theo thời gian tương xứng.
Có lần tôi đứng trước một căn phòng đầy học sinh trung học và kể một câu chuyện về thời điểm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, về việc tôi đã bỏ chạy sang Mỹ khi còn nhỏ, và trải nghiệm đó vẫn ám ảnh và truyền cảm hứng cho tôi như thế nào, thì một cô gái trẻ giơ tay hỏi tôi: “Ông có thể cho tôi biết tại sao cha tôi không bao giờ kể cho tôi nghe về cuộc chiến đó không? Cha tôi uống rượu rất nhiều, nhưng lại ít nói.” Giọng nói cô run rẩy. Cô gái bảo cha cô là một người lính miền Nam Việt Nam, ông đã chứng kiến nhiều cảnh đổ máu nhưng nỗi buồn của ông phần nhiều là trong nội tâm, hoặc nếu đôi khi thể hiện ra ngoài thì bằng những cơn thịnh nộ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.