Hôm nay,  

Văn Học Nghệ Thuật và Bạo Lực

2/28/202000:00:00(View: 4476)
1) Iris Murdoch writing at her Oxford home in 1958
Iris Murdoch ở bàn viết tại nhà Bà ở Oxford

 

Có lẽ ít ai hiểu rõ bạo lực chuyên chính đối xử như thế nào với các thành phần văn nghệ sĩ trong xã hội hơn dân tộc Việt Nam. Có biết bao trí thức văn nghệ sĩ là nạn nhân của cái-gọi-là “văn nghệ vô sản,” “hiện thực xã hội chủ nghĩa,” v.v… Những tên tuổi hay được nhắc đến trong sách vở có lẽ chỉ là phần nổi của tảng băng sơn. Mọi sáng tác đi chệch ra khỏi đường lối chính trị của Đảng Cộng sản đều bị quy kết là đồi trụy, dâm ô, tư sản, phản động…và tác giả phải nhận lãnh những số phận không hay, đời sống khốn đốn, thậm chí tù đầy, giết chóc.

 

Văn học nghệ thuật và bạo lực như nước và dầu, không bao giờ có thể trộn chung, hòa hợp. Nhưng bạo lực không hẳn đến từ nhà tù và súng đạn, ngày nay nó thể hiện dưới nhiều hình thái, bộ mặt khác, mà nếu quan sát tường tận, chúng ta sẽ thấy nghệ thuật có nguy cơ biến dạng thành cái gì không ai nhận diện được nữa và càng lúc càng xa rời thiện chân thiện mỹ, vốn là nền tảng thiết yếu gìn giữ con người vẫn là con người.

 

Hai trong số những bộ óc kỳ vĩ của nhân loại thế kỷ XX vừa qua: nhà văn kiêm triết gia Anh, Iris Murdoch, và nhà văn, nhà thơ, nhà soạn kịch Wole Soyinka, người Nigeria, cả hai đều có những viễn kiến sắc bén, khả dĩ giúp chúng ta có cái nhìn sâu rộng hơn về vấn đề này. Việt Báo hân hạnh gửi đến quý độc giả một vài nhận định khái quát về văn chương nghệ thuật trong bối cảnh đương đại, của hai tác giả lỗi lạc đó qua phần chuyển ngữ và giới thiệu của dịch giả Trịnh Y Thư.

 

*

 

Iris Murdoch: Chữ nghĩa sẽ cứu rỗi chúng ta

 

2019_28_iris_murdoch
Nhà văn kiêm triết gia Anh, Iris Murdoch

 

 

*

 

“Ngày nay, sáng tạo là một thao tác đầy hung hiểm,” nhà văn Albert Camus đã viết như thế vào những năm cuối thập niên 50, khi ông suy nghĩ về vai trò văn nghệ sĩ như một tiếng nói phản kháng. Nhà văn W.H. Auden phía bên kia Đại Tây Dương cũng bảo rằng, “Ở thời đại chúng ta, sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật, chính nó đã hàm chứa một ý thức chính trị rồi.” Thực tại không mấy khoan nhượng của văn hóa con người đã gây sốc và làm chao đảo gần như bất kỳ văn nghệ sĩ nào ấp ủ hoài bão sử dụng điểm tựa nghệ thuật của mình như một phương tiện nâng xã hội tiến bộ cao hơn, nhưng đó là sự thật cơ bản của bất cứ thời đại, bất cứ xã hội nào. Nửa thế kỷ sau Camus và Auden, Chinua Achebe, trong một cuộc đối thoại với nhà văn James Baldwin, đã nói rành rọt về bản chất không hay ho của sự việc này như sau:

 

“Kẻ nào bảo bạn, ‘Đừng đem chính trị quá nhiều vào nghệ thuật,’ kẻ đó đã không lương thiện. Nếu xét nét cẩn thận, bạn sẽ thấy họ đồng dạng với những kẻ hoàn toàn vui sướng, thỏa mãn với cái đang là…  Điều họ muốn nói chỉ là, hãy đừng đảo lộn cái hệ thống ấy lên làm gì.”

 

Iris Murdoch (1919-1999) là một triết gia hiếm hoi với ngòi bút của thi sĩ, một trong những khối óc sắc bén nhất của nhân loại thế kỷ vừa qua. Bà tìm hiểu vai trò của nghệ thuật như một kháng lực nhằm chống lại chính trị chuyên chế, áp bức bạo tàn của nhà nước [1].

 

Hai thập niên sau khi nhà nước Cộng sản Xô Viết ép buộc nhà thơ Boris Pasternak phải từ chối, không nhận giải thưởng Nobel Văn chương, Murdoch đã viết như sau:

 

Các nền chính trị chuyên chế đều sợ hãi nghệ thuật bởi chuyên chính thì muốn kỳ bí hóa sự vật trong khi nghệ thuật lại có xu hướng làm sáng tỏ. Nghệ sĩ chân chính là kẻ biết đưa ra ánh sáng sự thật, nếu không có hắn tách bạch thì những ý tưởng kia sẽ mãi mãi nằm trong bóng tối mù mờ, hắn cũng chú tâm vào những sự kiện mà sau đó không ai có thể lãng quên hay bỏ qua. Chuyên chính xử tội nghệ sĩ bằng cách bóp nghẹt tiếng nói của hắn, hay tìm cách bôi nhọ và hạ giá hắn xuống, hay mua chuộc hắn. Xưa cũng như nay đây là cái gì đã và đang xảy ra.”

 

Cùng quan điểm với Baldwin, “xã hội thì muốn bình ổn, nhưng nghệ sĩ thì phải biết, và hắn phải cảnh báo cho chúng ta biết, rằng không có gì bình ổn dưới bầu trời này,” bà Murdoch nói thêm:

 

Suốt chiều dài lịch sử, cứ ít lâu chúng ta lại thấy nghệ sĩ có xu hướng biến thành nhà cách mạng hoặc ít nhất hắn là một khí cụ thúc đẩy sự thay đổi, đến mức hắn nghiêng nhiều hơn về một nhà tư tưởng nhạy bén và độc lập, với một công việc nằm ngoài cương tỏa của thiết chế xã hội.”

 

Nhân nhắc lại chuyện người ta đem e.e. cummings ra lăng mạ sau khi ông nhà thơ làm cách mạng bằng cách rũ bỏ truyền thống để thổi khí hậu cách tân vào văn học Mỹ, Murdoch vạch ra cho chúng ta thấy rằng nghệ thuật là chất xúc tác thúc đẩy cách mạng văn hóa và ý thức hệ bằng cách tự lột xác chính hình thức nghệ thuật:

 

Một trong những động lực thúc đẩy nghệ thuật thay đổi luôn luôn là cảm quan về sự thật của chính nhà nghệ sĩ. Nghệ sĩ là kẻ phản kháng lại chính truyền thống của hắn, hắn cảm thấy nghệ thuật truyền thống kiểu cách, cứng nhắc và tha hóa… Bởi quá to lớn nên nó chỉ còn một nửa sự thật.”

 

Ngoài sự can thiệp thô bạo của chính trị và ý thức hệ vào nghệ thuật, Murdoch còn nhắc nhở chúng ta rằng máy móc kỹ thuật hiện đại cũng là “kẻ thù của nghệ thuật.” Phản ứng lại khí hậu chính trị của một thực tại ảo, với một liều lượng thông tin khủng khiếp tuôn ra ào ạt, bà viết như sau:

 

Một xã hội nghiêng nặng về kỹ thuật, tuy không hoàn toàn có chủ ý xấu, đã gây xáo trộn cho nghệ thuật sáng tạo bởi nó tấn chiếm vai trò của nghệ sĩ và biến đổi quan điểm nghệ thuật bằng cách không ngừng sản xuất ra những món vật không phải nghệ thuật, mà chỉ đôi khi mô phỏng nghệ thuật. Máy móc kỹ thuật đánh cắp công chúng của nghệ sĩ bằng cách phát minh ra những hình thức không hẳn là  nghệ thuật nhằm mục đích giải trí, tiêu khiển hầu thu hút sự chú ý của công chúng, nó là một đường lối cạnh tranh thi đua nắm bắt thế giới.”

 

Nói cách khác, máy móc kỹ thuật càng tinh xảo nghệ thuật càng bị lu mờ, nhà nghệ sĩ chân chính càng mất chỗ đứng.

 

Nghệ thuật hay là nghệ thuật có khả năng phô diễn và diễn ngôn trọng tâm của thực tại, của ý thức bằng một phương thức chuẩn xác hơn cả khoa học và triết học.

 

Về nghệ thuật chữ nghĩa, Murdoch viết:

 

Chữ nghĩa là nền tảng cơ bản cho hữu thể đạo lý con người chúng ta, bởi chữ nghĩa là cái gì đẹp đẽ, tinh tế và chi tiết nhất. Nó cũng là biểu tượng thông dụng và thông hiểu phổ quát nhất, chúng ta sử dụng nó để biểu hiện chính chúng ta. Sau khi là sinh vật biết nói, chúng ta mới trở thành sinh vật tinh thần. Sự khác biệt là ở chữ nghĩa. Chữ nghĩa chính là tinh thần.”

 

Murdoch tin tưởng nhiệt tình vào giá trị đích thực của chữ nghĩa, bà bảo chữ nghĩa là nơi chúng ta sống như một con người và như một đại biểu cho đạo lý và tinh thần. Thậm chí, đi xa hơn thế, bà nghĩ nhân loại chỉ có một nền văn hóa mà thôi, một nền văn hóa với chữ nghĩa làm cơ bản.

 

Cả nghệ thuật lẫn triết học đều luôn luôn tìm cách tái tạo bằng cách quay trở lại những phạm trù sâu thẳm, hiển nhiên, và rất đỗi bình thường về hiện hữu con người, để từ đó một diễn ngôn mới, một minh triết mới, một suy nghiệm mới ra đời. Hãy cầu mong khoảng đất này ở lại với chúng ta thật lâu dài, nó là mảnh đất của tự do và nghệ thuật. Một nghệ sĩ lớn, giống như một vị thánh, là người khiến tinh thần chúng ta dịu xuống bằng sự minh đạt giản dị của hắn, hắn nói cùng một giọng với Homer, với Shakespeare, với Phúc Âm. Đây là ngôn ngữ loài người, mà mỗi lần đặt bút viết, như một nghệ sĩ hay chỉ đơn thuần là kẻ viết chữ về bất kỳ điều gì, chúng ta nên cố gắng hết sức mình sao cho xứng đáng.”

 

Một lời khuyên chí thành của một người sống suốt đời vì chữ nghĩa và nghệ thuật: Iris Murdoch.

 

 

 


 

Wole Soyinka: Cái mặt nạ đang biến đổi của sự khiếp sợ

portrait-photograph-of-wole-soyinka
Nhà văn, nhà thơ, nhà soạn kịch Nigeria, Wole Soyinka, sinh 1934, Nobel Văn chương 1986.

 

 

*

 

Tôi tự đặt mình vào thời điểm cuối thập niên 70, lúc đó, tại Học viện Nghệ thuật Đương đại London, tôi có bài thuyết giảng nhan đề “Những Thời tiết của Nghệ thuật.” Trong phần dẫn nhập, tôi thú nhận như sau:

 

Dĩ nhiên, tôi có chủ ý riêng khi đặt nhan đế ấy. Tôi muốn kích hoạt những phạm trù liên tưởng khác như ‘thời tiết của khiếp sợ,’ ‘thời tiết của khủng bố’ trong tư duy mà không cần phải vận dụng đến cố gắng ý thức đáng kể nào.”

Suốt bài giảng, những biến tấu của nhan đề loạt bài hiện tại xuất hiện chí ít năm sáu lần. Khởi điểm của tôi, khu vực quan tâm chính của tôi vào lúc đó, là vận mệnh của nghệ thuật – và nhà nghệ sĩ – dưới ách thống trị của các chế độ đang bành trướng cai trị đất nước mình bằng cách nhồi nhét nỗi sợ sệt, khiếp hãi vào lòng con người, đặc biệt nhất là trên lục địa châu Phi – nói theo ngôn ngữ đời thường, nó là nỗi khiếp sợ khi nghe “tiếng đập cửa lúc nửa đêm.” Bắt bớ vô tội vạ. Mất tích. Tra tấn như một thông lệ chứ không phải ngoại lệ. Thậm chí, có những trò man trá sống chết mặc bay nhằm sửa đổi hình luật tố tụng, qua đó, kẻ phản kháng chính trị trong nước thấy mình như lọt vào cảnh huống không lối thoát, một ác mộng như trong tiểu thuyết Kafka, không kết cục, không đoạn cuối ngoại trừ đoạn cuối sợi dây thòng lọng đang chờ đợi mình. Kẻ bị kết tội có thể không hay biết tí gì về tội trạng của mình. Nhiều thập niên sau bài thuyết giảng, thế giới cay đắng nuốt vào bản án treo cổ của nhà tranh đấu Nigeria Ken Saro-Wiwa và tám đồng bạn của ông sau vụ xử đầy bất công và phi lý – phần nhiều bởi ông là nhà văn, nhưng cũng bởi lý tưởng của ông, lý tưởng bảo vệ sinh thái, vốn đã trở thành đề tài thế giới đang quan tâm.

Vào thời điểm tôi đưa ra bài thuyết giảng, Nigeria, cứ sở chính trị cận kề nhất của tôi, đang rúng động bởi bản án tử hình ba thanh niên bị xử theo luật hồi tố – nói cách khác, tội của ba người trẻ tuổi, tội buôn bán ma túy, theo sắc luật ban hành lúc đó không phải là đại phạm mang án tử hình. Hành vi sát nhân coi thường công luận đó có một mục tiêu – gieo nỗi khiếp sợ vào lòng người dân bằng cách cố ý bóp nghẹt những nguyên tắc cơ bản nhất của công lý. Và cứ thế, cứ thế tình trạng đó tiếp diễn. Biến cố này ở Nigeria vắt ra từ con người tôi hai vở kịch – Tai họa của nhà Hyacinth viết cho radio và Tình yêu từ Zia viết cho sân khấu – biến cảnh đó đã không ngớt rạch nát tâm thức tái tạo trong tôi. Tôi không phải là kẻ duy nhất. Cả nước bị chấn thương trầm trọng. Pháp trường xử tội bọn cướp của, bình thường có không khí hội hè, kẻ mỉa mai gọi là sô Bờ Biển Quán Rượu, nghe nói hôm đó bỗng khoác bộ mặt nghiêm trọng bất thường. Không ai trong đám đông dự kiến được chuyện gì sẽ xảy ra, họ tự thuyết phục để tin vào lời đồn đại chủ ý của tập đoàn độc tài quân phiệt chỉ là màn dàn dựng trò chơi đố với mục đích hù dọa mấy tên lỏi buôn bán ma túy và vào phút chót họ sẽ tuyên bố đình hoãn vụ xử bắn. Thay vì đồng thanh lớn tiếng nhạo báng bọn tử tội lúc chúng bị điệu ra pháp trường, đám đông chuẩn bị hoan hô lúc lệnh đình hoãn được công bố. Nhưng khi những nghi thức như lễ rửa tội, lấy khăn bịt mắt và những thủ tục khác vẫn đều đặn tiếp diễn thì đám đông bấy giờ mới bất ngửa ra và hiểu rằng bản án vẫn đang được răm rắp thi hành mà không hề có sự ân hận nuối tiếc nào. Từ đám đông liên tiếp vọng ra những tiếng kêu thất thần thất thanh như “Ồ, không thể như thế được.” Vụ xử bắn kết thúc, pháp trường bỗng im phăng phắc, đám đông không thể nào tin nổi những gì họ vừa chứng kiến; thế rồi từ từ họ tản mát ra về, trong lòng bị sốc nặng và nản chí vô cùng. Tập đoàn độc tài không tiên liệu được phản ứng của đám đông. Không lâu sau đó, có lệnh bãi bỏ xử tử ngoài công cộng và, sau khi tập đoàn độc tài đó bị lật đổ bởi tập đoàn khác, bản án trên được thu hồi.

Tuy thế, trong suốt thời gian chế độ đó tồn tại, không có gì phải nghi ngờ: lần đầu tiên trong quá trình lịch sử nền độc lập ngắn ngủi của mình, gần như toàn thể quốc gia Nigeria bị rơi vào nỗi khiếp sợ bao trùm, cùng khắp. Câu hỏi trong trí óc mỗi người giản dị là: họ còn khả năng làm những gì nữa, sau những hành vi mà ngay cả những thành phần mềm dẻo nhất cũng phải công phẫn? Đó là câu hỏi chúng ta đặt ra trong cố gắng thấu hiểu điều dị biệt giữa quá khứ và hiện tại, sự biến dạng của cái áo khiếp sợ chúng ta đang mặc ở thời điểm này. Mỗi lần có vụ tấn công nào khiến cảm giác an ninh địa phương hoặc toàn cầu của chúng ta bị xâm phạm, ngay lúc đó câu hỏi thừa thãi được đặt ra là: Cái gì sẽ xảy ra nữa đây? Nơi đâu? Cách nào? Các giới hạn hoặc tự chế không còn được tôn trọng nữa sao?

 

Những bạo hành xảy ra trên lục địa Phi châu thập niên 70, thập niên 80 lặp lại, có lẽ với mức độ hung hãn bạo tợn hơn. Ở Mỹ châu, nơi những cụm từ rùng rợn như desaparesidos [2], đội sát thủ hữu phái, ủy viên bảo vệ phong hóa do nhà nước bảo trợ, vân vân, trở nên phổ biến trên toàn thế giới. Nicaragua, Chile, Argentina, Panama. Iran dưới SAVAK. Nam Phi thời kỳ kỳ thị màu da dưới BOSS. Sự khiếp sợ gần như là sản phẩm độc quyền của nhà nước, ngoại trừ, dĩ nhiên, trường hợp có thêm bàn tay đàn áp của bọn hữu khuynh tự nguyện giúp vào, như ở Mỹ châu La-tinh. Giữa những chính quyền hữu phái và bộ máy cai trị hữu hiệu của nhà nước Cộng sản, không có sự khác biệt nào. Hungari, Albania, Đông Đức, Bungari, vân vân. Di dân từ những thiên đường mộng tưởng này chẳng khác gì nạn nhân của chế độ kỳ thị Nam Phi – cả hai, một chiến bại, một vẫn hăng hái và biết chung sức – đi khắp năm châu để tìm kiếm sự trợ giúp từ bên ngoài và tạo tình đoàn kết. Biết bao nhiêu lần, con đường chúng ta đi – con đường của những người sáng tạo – đưa đẩy chúng ta đến chỗ gặp nhau, và dẫn đến câu hỏi khẩn thiết: Làm cách nào sự sáng tạo tồn tại dưới ách thống trị chuyên quyền như thế? Làm cách nào Nghệ thuật tồn tại giữa thời tiết của khiếp sợ? Ngày nay, cứ sở của sợ hãi trở nên rộng lớn hơn nhiều chứ không thu hẹp như trước nữa.

 

Tôi muốn tin là tất cả chúng ta đều đồng ý trên cơ bản cái gì đưa đến khiếp sợ. Nếu không, chí ít, chúng ta có thể tìm ra điểm đồng thuận về những dấu hiệu của nó, nhận biết khi nào sự khiếp sợ gây phương hại lên cá nhân hoặc cộng đồng. Chắc chắn chúng ta đã học qua bài học liên đới cảm giác khiếp sợ với sự mất mát to lớn trong khả năng chủ động quen thuộc. Ý thức tự do, hay đúng hơn, những điều thường nhật hiển nhiên trong đời sống bình ổn, bỗng chốc co rút lại một cách tệ hại. Cẩn trọng và tính toán thay thế cái bình thường của đột phát hay thường nhật. Chuyện trò bình thường, thậm chí giữa người thân trong gia đình, biến thành lời thì thào. Chọn lựa trở nên giới hạn. Người ta đề phòng nhiều hơn, không dám đột xuất, làm gì cũng tính toán hơn thiệt. Một thủ phạm hiếp dâm rình rập trong xã hội. Một thủ phạm say mê giết người gieo rắc khủng bố cho cả một cộng đồng – như mới xảy ra cách đây không lâu ở bang Maryland, nước Mỹ, thầy trò hai gã đàn ông, một già một trẻ, gây tê liệt cho cả bang bằng cách núp bắn người vô tội ngoài đường sá.

 

Đời sống đang bình ổn đột nhiên bị cắt ngang như thế tạo cảm giác bất an trong lòng con người, nó khác với cảm giác gây nên bởi chiến tranh, thị trấn mình đang sống bị bao vây. Thậm chí, cho dù bom đạn, hỏa tiễn không ngừng rơi như mưa xuống đầu dân chúng, vẫn còn tồn tại ít nhiều không gian cho sự chủ động do quy luật của chiến tranh, do đó, sức mạnh nội tại không đến nỗi cạn kiệt vốn thường hay đi kèm với cảm giác bất lực. Trong trường hợp của bang Maryland, hai tên sát nhân đã thành công trong việc biến sự khiếp sợ thành động lực khống chế lên cả một đám đông. Sức mạnh vô danh đó làm tê liệt trường học, cơ quan công tư và đảo lộn nếp sống bình thường. Cha mẹ phải đưa con em đến tận lớp học, lo lắng nhìn trước nhìn sau. Hiển nhiên, suốt thời gian vụ bắn xảy ra, hai thủ phạm vô danh này bị mọi người oán trách thậm tệ, thậm chí giận dữ nữa, nhưng sản phẩm thông thường nhất của giai đoạn đó là nỗi khiếp sợ, sợ mà không biết trút vào đâu. Một khía cạnh đáng ghi nhận của nỗi khiếp sợ phủ trùm này là sự mất mát, ở bình diện nào đó, ý thức tự tại của con người: một phần bản ngã bị tước đoạt, một mức độ ý thức, và điều này thậm chí có thể đưa con người đến chỗ sút giảm lòng tự trọng – một cách ngắn gọn hơn, mất cả phẩm cách con người. Không phải bao giờ điều đó cũng đúng, và mỗi lần như thế lại cho chúng ta thêm cơ hội đánh giá sự khác biệt trong những cảnh huống khác nhau mà qua đó tính cách đặc trưng của lòng khiếp sợ hiện rõ.

 

 

Chú thích:

 

[1]  Bài diễn văn của triết gia Iris Murdoch đọc trước cử tọa Viện Hàn lâm Văn học Nghệ thuật Hoa Kỳ, năm 1972, được in chung với nhiều tiểu luận đặc sắc khác trong cuốn Existentialists and Mystics: Writings on Philosophy and Literature, xuất bản sau khi bà qua đời.

 

[2]  Desaparecidos: Những người vô cớ mất tích.

 

 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Văn xuôi tốt là cửa sổ trong suốt. Từ ngữ phải vô hình, để người đọc nhìn thẳng vào hiện thực mà văn xuôi tiết lộ. Vẻ đẹp có đó, nhưng nó chỉ làm cho cửa sổ trong sáng hơn, không làm cho người đọc nhìn vào chính tấm kính. Nghi lễ của thánh lễ không phải là đức tin; nó sắp đặt các đam mê. Sự hài hòa của từ ngữ, vẻ đẹp của chúng, sự cân bằng của các cụm từ, sắp đặt các đam mê của người đọc mà anh ta không biết và sắp xếp chúng như thánh lễ, như âm nhạc, như khiêu vũ.
Tam canh ngồi niệm Phật Quan Âm | Trước mắt gương treo vừa đúng tầm | Sáng rực bên này sông Bất Nhị | Tám phương chợt hiểu Phật là Tâm
Bạn nghe một người nói, nhưng không lên tiếng, bạn suy nghĩ nhưng không bộc lộ. Bạn nén sự giận dữ xuống, bạn bôi xóa sự khinh bạc, bạn chờ cho những lời ca tụng giả dối lắng xuống, bạn giữ lại lời khen ngợi đối với một người xứng đáng thêm một ngày nữa, để nó được nung chín trong lòng.
Cầm cuốn sách mới trong tay, tôi lại nhớ có lần ở quán cafe, Trịnh Y Thư băn khoăn, không biết chúng mình in sách vào thời này có phải là chuyện vô ích không, có phải là quá mơ mộng không. Với đa số, nhất là thế hệ trẻ hơn thì có lẽ là cái gật đầu, nhưng đối với chúng tôi, chúng tôi yêu quý cái vô ích, cái mơ mộng ấy. Tôi xin chia sẻ với quý vị cảm xúc rất riêng của tôi về sách. Nếu không có sách làm sao ta có thể cầm được trên tay cái vật thể nhỏ bé này, một thành quả nhìn bắng mắt cầm bằng tay, chứa đựng trong đó những con chữ đồng hành cùng những phút giây cảm hứng. Không có sách làm sao tôi có thể cảm nhận được trọn vẹn cái sức nặng của hạnh phúc hữu hình trên trang giấy với những dòng chữ ký tặng này? Và khi đọc sách, nghe được tiếng sột soạt khi lật trang giấy, ngửi được mùi giấy mới và cả mùi hương của sáng tạo. Một khi không còn ai in sách nữa thì những tủ đựng sách đẹp đẽ sẽ là món đồ cổ chứng nhân một thời kỳ sách huy hoàng. Và nếu không có sách thì làm sao chúng có được nhữn
Một truyện ngắn kinh điển của văn hào André Maurois, qua bản dịch của nhà văn Thân Trọng Sơn.
Không phải ngẫu nhiên mà Viết Về Nước Mỹ được nhà thơ Nguyên Sa gọi là “Lịch Sử Ngàn Người Viết.” Mà nếu tính cho đến ngày hôm nay, con số “ngàn” ấy chắc đã lên tới chục ngàn, trăm ngàn. Viết Về Nước Mỹ năm nay là năm thứ 25.
Trong không gian tĩnh lặng của một buổi sớm mùa thu tại thủ phủ Sacramento. Trời đã se lạnh, gió mùa vừa sang và những cơn mưa cũng đang bắt đầu nặng hạt, con chắp tay hướng về phương trời xa, nơi pháp thân Thầy vẫn tỏa rạng giữa hư vô. Bao nhiêu lời muốn nói, rồi bỗng hóa thành im lặng, vì làm sao dùng được lời phàm để nói hết công đức, trí tuệ và từ bi của một bậc Thạc đức như Thầy, người mà bốn chúng gọi là bậc minh sư, bậc long tượng Phật Giáo Việt Nam – Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ – người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp, dân tộc và nhân loại.
Khi nói tới những dòng thơ không bao giờ chết, nơi đây chúng ta chỉ muốn nói rằng có những dòng chữ sẽ vẫn được lưu giữ trong ký ức một dân tộc, bất kể là những trận mưa bom, đạn, mìn, đại bác không ngừng bắn vào họ. Và ngay cả khi những tập thơ, các trang giấy có bị đốt ra tro, những dòng thơ đó sẽ vẫn được lưu truyền từ đời này sang đời kia của một dân tộc, nếu họ còn sống sót. Chúng ta may mắn sống trong thời đại của điện thoại thông minh và Internet, nên được nhìn thấy những hình ảnh, đoạn phim, được nghe những tiếng kêu đau đớn từ dưới những đống gạch vụ, và được đọc những đoạn thơ ngắn được gửi ra rất vội từ những người sống sót sau các trận thảm sát. Thế giới này đầy những trận mưa tội ác, từ thảm sát Ukraine tới gạch vụn Gaza...
Trong dòng chảy của Văn học hải ngoại, Trịnh Y Thư là một thành phần cá biệt. Văn chương nghệ thuật với ông trước hết phải đồng nghĩa với cái Đẹp và ông đã áp dụng trong văn thơ cũng như dịch phẩm của ông...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.