Hôm nay,  

Tùy Bút: Kỷ Niệm Với Ban Ca Nhạc Bình-Minh Đài Phát Thanh Nha-Trang

03/07/202017:24:00(Xem: 5117)


http://mediaprocessor.websimages.com/width/314/crop/0,0,314x214/www.diepmylinh.com/Gallery/Photo%20Gallery%20Personal/DML%20in%20band.jpg
Một số nhạc công trong Ban Ca Nhạc Bình-Minh 

 

Ban ca nhạc Bình-Minh được thành lập vào giữa thập niên 50 của thế kỷ XX. Ngày Đài Phát Thanh Nha-Trang được khánh thành, trong khuôn viên Tòa Tỉnh, ban Ca Nhạc Bình-Minh đã góp mặt. Trong chương trình phát thanh trực tiếp của ngày hôm đó Thanh-Điệp trình bày nhạc phẩm Trở Về Thôn Cũ của Nhị-Hà và Thanh-Hoa trình bày nhạc phẩm Chiến Sĩ Của Lòng Em của Canh-Thân.

Nguyên nhân nào thúc đẩy Ba tôi – Cụ Điệp-Linh Nguyễn-Văn-Ngữ – thành lập Ban Bình-Minh, tôi không nhớ. Tôi chỉ nhớ, trước khi thành lập Ban Bình-Minh, Ba tôi đã là sáng lập viên và trở thành Trưởng Ban văn nghệ Khu Công-Chánh miền Nam Trung Nguyên Trung Phần.

Sinh Hoạt của Ban Bình Minh

Ban Bình-Minh phụ trách văn nghệ cho Đài Phát Thanh Nha-Trang mỗi tuần hai lần, vào tối thứ Năm và tối Chủ Nhật. Ngoài ra, Ban Bình-Minh cũng thường trình diễn tại các rạp xi-nê thuộc thành phố Nha-Trang và các tỉnh lân cận để gây quỷ cứu trợ nạn nhân chiến tranh và nạn nhân thiên tai. 

Toàn Ban tập dượt chung vào những ngày cuối tuần tại nhà của Ba tôi. Sau khi tập xong, mỗi người nhận trách nhiệm và bản nhạc để về nhà tập riêng, sẵn sàng cho buổi tập chung kế tiếp. Ba tôi có nhiệm vụ viết hòa âm và phân đoạn cho những bản song ca/hợp ca/hợp tấu.

Vào thời điểm đó hầu như các chương trình phát thanh đều được thâu băng rồi đem đến Đài để Đài phát đi. Riêng Ban Bình-Minh chọn phát thanh trực tiếp. Ba tôi – cũng như quý vị trong ban Bình-Minh – đều tin tưởng vào khả năng của toàn Ban chứ không tin tưởng vào kỹ thuật thâu băng. Tôi còn là đứa bé con, ai bảo sao tôi hay vậy; tuy nhiên, tôi hiểu, phát thanh trực tiếp thì không thể gây tiếng động, không thể ngưng để thay thế/sửa đổi bất cứ điều gì. 

Vì hiểu tầm mứt quan trọng của chương trình phát thanh trực tiếp cho nên tôi đã vừa hát vừa... khóc khi đơn ca bản Valse tiền chiến, cung Ré trưởng. Đó là bản Tiếng Thu, được một nhạc sĩ khuyết danh, trong thời kỳ tản cư, phổ nhạc từ thơ của Lưu-Trọng-Lư. (không phải bản Tiếng Thu do Phạm-Duy phổ nhạc). Bản này mang âm hưởng bán cổ điển Tây-Phương và rất khó hát; vì hát một đoạn thì ngưng cho nhạc đệm rồi lại hát, rồi lại ngưng, rồi lại hát. 

Chú Phan-Phi-Phụng – giáo sư trường trung học Kỹ Thuật Nha Trang – được toàn Ban đặt biệt hiệu là Phụng Trợn. Khi thích nhạc phẩm nào thì Chú Phụng thuộc rất nhanh, không cần nhìn bản nhạc, Chú chỉ nhìn lên trần nhà rồi say sưa vừa đàn vừa gật gù theo mỗi thì mạnh (temps fort), không cần để ý đến bất cứ ai hoặc bất cứ điều gì chung quanh. Cái không may cho tôi là Chú Phụng rất thích bản Tiếng Thu này. 

Khởi đầu, toàn ban hòa tấu rất nhịp nhàng và tôi hát cũng bình thường. Nhưng càng về sau Chú Phụng càng hăng, càng đàn nhanh hơn cả Valse Musette nữa và Chú chỉ nhìn lên trần nhà rồi gật gù theo tiếng đàn. Toàn Ban phải đàn nhanh theo Chú. Phòng vi âm nhỏ, không thể di chuyển dễ dàng, vì ngại gây ra tiếng động. Ba tôi, từ góc đối diện, cố phất tay ra hiệu cho Chú Phụng chậm lại, nhưng Chú có thấy đâu! Tôi, tuy vững nhịp, nhưng vẫn sợ vào sai nhịp; vì nếu tôi vào sai nhịp thì ban nhạc sẽ “rớt”. Vì vậy, tôi vừa hát vừa khóc, vì sợ “bể dĩa”. 

Sau buổi phát thanh đó, trên đường về, Ba tôi và tôi gặp nhạc sĩ Minh-Kỳ – tôi gọi nhạc sĩ Minh-Kỳ bằng Chú, không phải vì Chú là bà con mà chỉ vì Chú trẻ hơn Ba tôi – đang đi bộ hóng mát trước nhà, trên đường Yersin. Nhà Chú Minh-Kỳ ở cách nhà tôi vài blocks. Chú Minh-Kỳ thường theo dõi chương trình ca nhạc của Đài Phát Thanh Nha-Trang. Mỗi khi gặp Ba tôi, Chú Minh-Kỳ thường góp nhiều ý kiến xây dựng và rất nhiều lần, Chú – cũng như nhạc sĩ Canh-Thân – khuyến khích Ba tôi cho tôi trở thành nghệ sĩ chuyên nghiệp; nhưng lúc nào Ba tôi cũng cười hiền hòa: “Thôi, để cho cháu nó đi học.” Hôm đó, vừa thấy chúng tôi, Chú Minh-Kỳ hỏi Ba tôi: “Anh Ngữ, tại sao con nhỏ Thanh-Điệp bữa nay hát nhão nhẹt vậy?” Ba tôi kể rõ nguyên nhân cho chú Minh-Kỳ nghe trong khi tôi mắc cỡ, bậm môi, nhìn chỗ khác.

Những Nhân Vật Trong Ban Bình Minh

*- Cụ Điệp-Linh Nguyễn-Văn-Ngữ: Công chức; Trưởng Ban; đã qua đời.

Tôi không nhớ Ba tôi chọn biệt hiệu Điệp-Linh – do tên tôi và tên em trai của tôi ghép lại – từ lúc nào. Nhưng tôi nhớ, thời kỳ Ba tôi theo kháng chiến, Linh và tôi chỉ được chơi quanh quẩn cạnh hầm tròn, gần một quán nước bên đường, để dễ nhảy xuống hầm khi nghe báo động máy bay Pháp xuất hiện. Ba tôi mở lớp dạy học tại ngôi đình bỏ hoang. Ban ngày Ba tôi dạy văn hóa cho trẻ em; ban tối Ba tôi dạy Pháp-văn cho những cán bộ muốn trao dồi học vấn để khỏi bị mặc cảm thua sút so với thanh niên trí thức miền Nam “thoát ly” ra “vùng giải phóng” ngày một nhiều. 

Nhiều lần tôi nghe vài thanh niên “thoát ly” từ miền Nam, ngồi nghỉ chân nơi quán nước, hỏi Má tôi khi Má tôi gọi chị em tôi vào nhà ăn trưa: “Tại sao chị dám lấy tên của một nhạc sĩ để đặt tên cho con của chị?” Má tôi tình thật: “Dạ, mô có. Ông nớ mượn tên hai đứa con của tui để làm biệt hiệu đó.” Những thanh niên đó nhìn nhau, cười, tỏ vẻ không tin và họ nói với nhau bằng tiếng Tây cho nên tôi không hiểu.

Sau khi hồi cư một thời gian, tôi lại thấy bút hiệu Điệp-Linh xuất hiện trên tờ Đuốc-Thiêng và tờ – dường như là Sóng Thần – do bà Trùng-Dương làm chủ nhiệm. Khi lớn lên, tôi bắt đầu tập tành viết lách. Vì muốn “dựa hơi” Ba tôi, tôi xin Cụ cho tôi dùng biệt hiệu của Cụ và lấy chữ đệm từ tên của em gái tôi – Mỹ Phượng – lót vào giữa thành Điệp-Mỹ-Linh. Ba tôi đồng ý.

*- Cô Thùy-Giang: Công chức; xướng ngôn viên chính của Ban Bình-Minh; mất liên lạc. 

Cô Thùy-Giang là Bắc-Kỳ di cư, nhà ở sau rạp xi-nê Modern. Cô có giọng nói rất dịu dàng, quyến rũ. Tôi vẫn nhớ, ngày đó, sau câu giới thiệu của nhân viên Đài Phát Thanh: “Bây giờ, xin quý thính giả thưởng thức phần ca nhạc do Ban Bình-Minh đảm trách.” Nhân viên ấy phất tay ra hiệu. Giọng trầm ấm của Cô Thùy-Giang trổi lên: “Kính thưa quý thính giả, đây, Ban Ca Nhạc Bình-Minh”. Cô hơi chậm lại ở năm chữ cuối và Cô nhấn giọng ở hai tiếng Bình-Minh. Cô hướng mắt về phía Ba tôi. Ba tôi phất tay ra hiệu. Toàn Ban hòa tấu bản Bình-Minh Ca Khúc của Võ-Đức-Thu. 

Vào khoảng phân đoạn thứ hai của bản nhạc, Ba tôi nhẹ nhàng xoay micro để tiếng nhạc trở nên nhỏ dần, văng vẳng, xa xa, trong khi Cô Thùy-Giang giới thiệu thành phần Ban Ca cũng như Ban Nhạc và những tác phẩm sẽ được trình bày vào tối hôm đó. 

Ban Nhạc gồm có:

*- Anh Phạm-Đình-Phê: Học sinh, hiện định cư tại Charlotte, NC. 

Nhà Anh Phê ở gần Tòa án. Anh đàn Violon và Guitar. Tiếng đàn của Anh đã đưa Anh vào một “cuộc tình lớn”; nhưng khi vào Saigon học Anh mới gặp được “người bạn đường”. Sau khi được Cộng Sản Việt Nam thả về và trước khi sang Mỹ theo diện H.O. Anh mở lớp dạy nhạc tại Nha-Trang. Anh là người duy nhất trong Ban Bình-Minh, sau 1975, đã nuôi sống bản thân và gia đình bằng khả năng âm nhạc. Tôi say mê tiếng Guitar của Marc Antoine nhưng tiếng Guitar mà tôi yêu thích lại là của Anh Phê và của Hồ-Quang-Liêm, con út của tôi, tốt nghiệp từ Musicians Institute tại Hollywood, California.

*- Anh Hà-Quang-Đức: Học sinh, hiện còn ở Việt-Nam.

Anh là Bắc-Kỳ di cư, nhà ở Xóm Mới. Anh Đức đàn Hạ-uy-cầm rất tuyệt . Sau năm 1975, theo lời anh Phê kể, anh Hà-Quang-Đức theo Phục-Quốc. Chỉ một thời gian ngắn, anh Đức bị Việt-Cộng bắt và bị tù 18 năm. Sau khi mãn tù anh Đức trở về sống tại Nha Trang. 

*- Chú Tưởng: Công chức; đàn Accordéon. 

Tôi thích nhìn những ngón tay của Chú Thưởng khi Chú đàn những bản Valse và Tango.

*- Anh Cường, học sinh, chơi guitar.

 Rất tiếc tôi không nhớ nhiều chi tiết về anh Cường và Chú Tưởng. Và tôi cũng mất liên lạc với hai vị này.

*- Chú Vân-Sơn. Phục vụ trong Quân Cụ. 

Chú Vân-Sơn cũng Bắc-Kỳ di cư, dáng người cao lớn, rất khỏe mạnh, nhà ở Phú-Vinh. Chú Vân-Sơn đàn Hạ-uy-cầm. Tôi vẫn nhớ, mỗi lần độc tấu bản Eternally của Charlie Chaplin, cuối những phân đoạn thích hợp, Chú Vân-Sơn tạo những ngón “vuốt” rất lạ lùng, làm buốt lòng người nghe. Sau năm 1975 Chú cũng bị Việt-Cộng bắt đi cải tạo. Khoảng thập niên 80, lúc vào Saigon làm thủ tục đi Mỹ, bất ngờ Ba tôi gặp lại Chú Vân-Sơn tại bến tàu. Chú làm “ban bù”, tức là phu khuân vác, ở bến tàu!

*- Chú Phan-Phi-Phụng: Giáo sư trường Kỹ-Thuật; mất liên lạc. 

Chú Phụng có biệt tài đàn Banjo Alto với cả ngón tay út của bàn tay trái. Banjo Alto chỉ có bốn giây, vậy mà chú trémolo nghe đã tai lắm.

*- Anh Hoàng-Đình-Phiên: Học sinh, hiện ngụ tại Nam California. 

Nhà anh Phiên là tiệm sách Kim-Anh, đầu đường Độc-Lập. Anh Phiên đàn Accordéon. Anh là “cột trụ” của Ban Gió-Mùa, cũng thuộc Đài Phát Thanh Nha-Trang. Anh chỉ tăng cường cho Ban Bình-Minh khi nào Ba tôi yêu cầu. Ba tôi thường bảo tiếng đàn Accordéon của anh Phiên không khác gì tiếng Accordéon nhà nghề của Trần-Văn-Lý. Khi bất ngờ anh Phiên đọc tùy bút Tưởng Như Trở Về, Anh hoang mang, không biết Điệp-Mỹ-Linh là ai mà lại viết rõ về Anh.

Sau đó, tôi không nhớ năm nào, trong ngày đại hội Hải-Quân, tại quận Cam, California, tôi được mời lên sân khấu nói chuyện. Lúc thấy tôi anh Phiên rất ngạc nhiên, nói với người bạn ngồi bên cạnh: “Ủa, đây là ‘con nhỏ’ Thanh-Điệp mà. Ô, thôi rồi! Hèn gì cô nàng viết về tao không sai tý nào cả!” Tiếc rằng, sau khi tôi rời sân khấu, anh Phiên đón tôi nơi cửa, nhưng vì tính tôi hay quên mà anh Phiên lại không nói tên cho nên tôi... không nhận ra Anh!

*- Anh Mầu: Thương gia; bặt tin.

Tôi không nhớ anh Mầu họ gì. Tôi chỉ nhớ anh Mầu là người Việt lai Tàu, nói tiếng Việt không rõ lắm. Anh ở nơi ngôi nhà hai tầng ngay trước chợ Đầm. Tiếng Saxophone Alto và lối trình diễn của anh Mầu – nhất là khi Anh độc tấu những bản Jazz hay nhạc tình – có sức thu hút hết sức lạ lùng! Mỗi khi nghe tiếng Saxo. của Jim Bretney hoặc của Louis Armstrong tôi lại nhớ đến tiếng Saxo. của anh Mầu. 

*- Anh Trần-Nam: Học sinh; mất liên lạc. 

Nhà anh Trần-Nam ở hơi xéo xéo với Ty Thông Tin. Anh Trần-Nam chơi Guitar và Clarinette. Anh có biệt tài dùng Guitar giả tiếng Đại-hồ-cầm. Khi nghe tiếng Clarinette điêu luyện của Kenny G. không thể nào tôi không nghĩ đến anh Nam và tiếng Clarinette của anh Nam. 

*- Chú Huỳnh-Anh: Thương gia; bặt tin.

Nhà Chú Huỳnh-Anh ở gần nhà anh Mầu. Tôi thật sự không nhớ Chú Huỳnh-Anh này có phải là tác giả tình khúc rất nổi tiếng lúc bấy giờ – Em Gắng Chờ – hay không. Nhưng hình ảnh tôi không thể quên được là lúc Chú đàn Đại-hồ-cầm. Mấy ngón tay của bàn tay trái của Chú tung tăng trên giây đàn; những ngón tay của bàn tay phải “búng” giây đàn trong khi chân mặt của Chú nhun nhún, nhịp nhịp theo mỗi thì mạnh (temps fort) và mắt Chú trông như chìm đắm vào cõi nào rất xa xôi, rất mơ hồ. 

*- Chú Ninh: Không-Quân; mất liên lạc. 

Tôi cũng không nhớ Chú Ninh họ gì. Tiếng Saxo. của Chú Ninh điêu luyện lắm, nhưng có lẽ tuổi hơi lớn – khoảng gần bằng tuổi của Ba tôi – cho nên hơi của Chú không được dài. Vì vậy Chú chỉ thích chơi những bản nhạc vui, nhạc hùng. Tiếng Saxo. của Chú Ninh trong những bản swings làm cho đôi vai và tay chân của người thích khiêu vũ đều phải cử động mạnh. 

*- Chú Tâm-Giao: Quân Cụ; mất liên lạc. 

Chú Tâm-Giao đàn Guitar. Nhà của Chú ở đường Hai-Chùa. Chú Tâm-Giao rất hợp với Ba tôi, vì cả hai Ông đều thích nhạc Pháp. Chú thường độc tấu những nhạc phẩm bán cổ điển Tây phương. 

*- Chú Thiều: Tư chức; mất liên lạc. 

Tôi không nhớ Chú Thiều họ gì, nhưng tôi nhớ Chú Thiều và anh Châu (thuộc Ban Văn Nghệ Khu Công-Chánh miền Nam trung nguyên Trung phần) là hai “tay” trống “cừ khôi” nhất của Nha-Trang lúc bấy giờ. 

*- Thanh-Điệp: Học sinh, đàn Accodéon; hiện ngụ tại Houston. 

Vào thời điểm đó, tại Saigon, ca sĩ Thúy-Nga là phụ nữ thường đệm Accordéon rồi hát những ca khúc Việt-Nam, chứ ca sĩ Thúy-Nga chưa bao giờ độc tấu Accordéon bất cứ một nhạc phẩm ngoại quốc nào cả.

Trong khi đó, tại Nha-Trang, ngoài phần hòa tấu với Ban Bình-Minh, Thanh-Điệp cũng đã độc tấu những nhạc khúc bán cổ điển Tây phương, như Le Beau Danube Bleu của J. Strauss, Flots Du Danube của Ivanovici, La Golondrina của N. Serradell, Liebestraum của F. Liszt, v. v…trên sân khấu cũng như trên Đài Phát Thanh. Thanh-Điệp đã được các bạn cùng thời ở trường Võ-Tánh đặt biệt hiệu thân thương là “Điệp Accord.”

Ban Ca gồm có:

*- Cô Thùy-Giang: Ngoài phần xướng ngôn, Cô Thùy-Giang còn là một giọng ca nồng cốt của Ban Bình-Minh. Cô Thùy-Giang thích hát những bản Tango đổi sang Cha Cha Cha. Khi trình diễn trên sân khấu, Cô chỉ hơi lắc nhẹ đôi vai một tý là khán giả vỗ tay vang dội, vì cho là “đợt sóng mới”. 

*- Chú Thu-Hoài: Phục vụ trong Liên Đoàn Bảo-An; mất liên lạc.

Chú Thu-Hoài có giọng tenor rất đặc biệt. Tôi thường nghịch, bảo Chú là Eddie Fisher của Nha-Trang. Chú Thu-Hoài chuyên đơn ca những tình khúc mang nặng tình tự dân tộc như Tình Quê Hương, Quê Nghèo, Về Miền Trung, Đố Ai, Tình Hoài Hương, v. v…

*- Chị Thúy-Minh: Học sinh; tên thật là Đỗ-Minh-Tham, đã qua đời.

Nếu Saigon có Thanh-Thúy với tiếng hát nức nở thì Nha-Trang có Thúy-Minh với giọng trầm, buồn. Tôi nhớ nhạc khúc Ánh Đèn Đêm do Thúy-Minh trình bày được yêu cầu nhiều nhất.

*- Chị Hoàng-Thu: Học sinh; tên thật là Đặng-Minh-Nguyệt, con của giáo sư Đặng-Văn-Tế. Chị hiện sống tại Saigon.

Chị Hoàng-Thu có giọng ca ngọt ngào, tha thiết và đôi khi, ở cuối một phân đoạn thích hợp, Chị “láy” giọng một tý là người nghe không thể nào không mê giọng hát của Chị.

*- Chị Thanh-Hoa: Học sinh; mất liên lạc.

Chị Thanh-Hoa tên thật là Tôn Nữ Canh-Thìn. Giọng chị Thanh-Hoa đúng là soprano, vừa cao/trong vừa thánh thót/mượt mà. Biệt tài của Thanh-Hoa là Chị có thể hát cả nhạc êm dịu và nhạc hùng. Sau này, mỗi khi nghe Mireille Mathew tôi đều nhớ đến giọng hát của chị Thanh-Hoa. 

*- Anh Hàn-Phong-Cao: Học sinh. Hiện ngụ tại San Jose.

Giọng ca thiên phú và giọng ngân điêu luyện của anh Hàn-Phong-Cao chẳng khác nào tiếng hát nhà nghề của Anh-Ngọc. Trong những bản hợp ca nhiều bè, bao giờ giọng anh Hàn-Phong-Cao cũng nổi bậc. Sau mấy mươi năm bặt tin tình cờ tôi gặp lại Anh vào khoảng cuối thập niên 80.

Đến năm 1995, sau khi tôi phát biểu cảm tưởng nhân ngày đại hội Hải-Quân toàn quốc, tai San Jose, xướng ngôn viên yêu cầu tôi khoang về chỗ; vì anh có vài điều muốn phỏng vấn tôi ngay trên sân khấu. Sau những câu hỏi thông thường, anh hỏi một câu cuối: “Xin chị cho bíết, tùy bút Tưởng Như Trở Về là tự truyện hay có bao nhiêu phần trăm hư cấu? Và những nhân vật trong tùy bút đó có thật ngoài đời hay là…” Xướng ngôn viên dừng lại ở đó, nhìn tôi, chờ đợi. Tôi đáp: “Thưa, để trả lời câu hỏi của anh, tôi xin mời một nhân vật trong Tưởng Như Trở Về đang hiện diện trong hội trường này đứng lên trình diện quan khách. Xin mời anh Hàn-Phong-Cao.” Vậy là anh em tôi nhận được tràng pháo tay thật dòn.

*- Chú Phan-Phi-Phụng. Chú Phan-Phi-Phụng chỉ song ca hoặc hợp ca chứ Chú không thích đơn ca, mặc dù Chú có giọng ca không kém chi chú Thu-Hoài. Chú Phan-Phi-Phụng và chị Thúy-Minh là đôi song ca không đối thủ – đặc biệt là dân ca – của Nha-Trang thời bấy giờ.

*- Anh Hà-Quang-Đức. Ngoài tiếng đàn Hạ-uy-cầm bất tuyệt, anh Hà-Quang-Đức còn có giọng ca rất ngọt ngào, trau chuốt. Anh thường trình bày những bản tình ca thời tiền chiến.

*- Thanh-Điệp: Tên thật là Nguyễn Thị Thanh-Điệp. Thanh-Điệp là giọng hát chính của Ban Bình-Minh; bởi vì, nếu bất cứ một lý do nào mà một trong những người trong Ban Ca không thể đến Đài Phát Thanh được thì Thanh-Điệp phải nhận trách nhiệm hát thế cho nhân vật đó. Cũng vì lý do này mà Cụ Điệp-Linh Nguyễn-Văn-Ngữ thường nhờ anh Hoàng-Đình-Phiên tăng cường vào giờ phút chót, vì Thanh-Điệp bận hát, không thể đàn được.

Sau khi Ban Bình-Minh tan rã, vì không chịu đựng được những lời dè bỉm đầy ác ý, tôi phản ứng tiêu cực. Tôi bỏ hát, bỏ đàn để được ... yên thân!

Khi biết tôi bỏ đàn Accordéon từ lâu, Ba tôi chỉ im lặng, thở dài. Nhìn nét mặt của Cụ, tôi biết Ba tôi rất thất vọng về tôi! Tôi cảm thấy đau trong lòng! Khi Ba tôi qua đời, niềm đau đó òa vỡ để cùng với niềm ân hận xoáy sâu trong lòng tôi. Tôi muốn tập đàn trở lại cho lòng bớt ray rức. Nhưng ngón tay của tôi không còn nhanh như xưa! 

Con gái của tôi mua tặng tôi cây đàn, nay lại tìm mua cho tôi tập nhạc World’s Favorite Series số 27 dành riêng cho Accordéon. Khi nhìn vào bản nhạc, lúng túng tìm “gam”, tôi mới nhận ra được những khó khăn mà ngày xưa không bao giờ tôi nghĩ đến. Đó là mắt tôi nhìn theo nốt nhạc rất chậm, ngón tay tôi cũng chậm mà lại cứng như gỗ và không thể nào tôi thuộc được bản nhạc! Khi nào đàn sai, tôi có cảm tưởng như Ba tôi vẫn bên cạnh tôi để chỉ dẫn cho tôi như ngày xưa. Những lúc đó tôi khóc thầm và tôi đàn những bản buồn để nghe một mình, thương nhớ một mình, nuối tiếc một mình và xót xa, cay đắng cũng một mình! 

Theo tiếng đàn, tôi tưởng như tôi thấy lại được một người đàn ông trẻ, sau khi biết đứa con gái đầu lòng thích đàn Accordéon, đã đưa đứa bé gái vào tận Saigon, đến tiệm đàn Mỹ-Tín, đường Hai-Bà-Trưng, đặt mua cây đàn từ Ý-Đại-Lợi và đặt mua cuốn sách dạy Accordéon bằng tiếng Pháp, từ Pháp. Khi tiệm đàn Mỹ-Tín gửi thư cho biết cây đàn đã về, người đàn ông đó lại đưa đứa bé gái vào Saigon nhận cây đàn để về lại Nha-Trang dạy nó đàn. Tất cả công khó đó của người Cha “được” đứa bé gái đem vùi lấp hết chỉ vì nó tự ái, không muốn tạo lý do để bị mỉa mai, tỵ hiềm!

Sự Tan Rã Của Ban Bình Minh

Sau cuộc đảo chánh (hụt) lật đổ Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm, Ba tôi bị người láng giềng – vì đố kỵ với Ba tôi – bịa chuyện, báo cáo với công an rằng Ba tôi hạ ảnh Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm vào đêm đảo chánh. Ba tôi bị mật vụ điều tra. Không tìm ra bằng chứng, và cũng nhờ sự can thiệp của ông Nguyễn-Văn-Thưởng – Trưởng Khu Công-Chánh miền Nam Trung nguyên Trung phần – Ba tôi không bị kết tội. Nhưng sau đó, Ba tôi bị (hoặc được?) “trả” về Hành-Chánh; vì Ba tôi thuộc ngạch Hành Chánh Trung Ương. 

Nhờ về lại Hành-Chánh, ngay sau đó, Ba tôi được bổ nhiệm vào quận Cam-Lâm với chức vụ Phó Quận Trưởng Hành Chánh quận Cam Lâm. Chỉ một thời gian ngắn, quận Cam-Lâm trở thành thị xã Cam-Ranh và Ba tôi nhận chức Trưởng Ty Nội-An thị xã Cam-Ranh – Ba tôi bị Cộng Sản Việt Nam cho đi cải tạo lâu năm chỉ vì chức vụ này – đồng thời Ba tôi cũng được biệt phái dạy Pháp-văn, toàn thời gian, cho các lớp đệ nhị cấp trường trung học công lập Cam-Ranh.

Sự thuyên chuyển của Ba tôi là nguyên nhân đưa đến sự tan rã của Ban Ca Nhạc Bình-Minh. Điều này khiến Ba tôi buồn bao nhiêu thì, khi Ba tôi nhận được lệnh biệt phái dạy Pháp-văn toàn thời gian cho các lớp đệ nhị cấp trường trung học Cam-Ranh, Ba tôi vui bấy nhiêu; vì Ba tôi có cơ hội “vẫy vùng” trở lại trong địa hạc mà Ba tôi yêu thích không kém chi văn chương, âm nhạc, và kịch nghệ./.

ĐIỆP MỸ LINH

www.diepmylinh.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo nhà thơ Thiên Hà, nhạc sĩ Anh Việt Thu tên thật Huỳnh Hữu Kim Sang, sinh năm 1939 tại Cao Miên. Một năm sau, gia đình trở về Việt Nam, mới làm khai sinh cho anh, ghi sinh ngày 24 tháng 8 năm 1940, tại Cái Bè, Mỹ Tho. Nhà thơ Vũ Anh Sương cho biết, họ Huỳnh có người em ruột tên là Việt Thu. Để nhớ đến trách nhiệm làm anh của mình, ông chọn bút hiệu Anh Việt Thu anh của Việt Thu phải bảo bọc người em bị bệnh tê liệt... Gia đình ông gồm nhiều em: theo Hồng Ngọc Viễn Đông, ông là anh đầu, có ba em là Huỳnh Hữu Phi Long, Huỳnh Thị Kim Phụng và Huỳnh Hữu Việt Thu.
Tại Việt Nam, dòng nhạc boléro du nhập vào miền Nam Việt Nam vào khoảng thập niên 1950, lúc phong trào tân nhạc Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ; nhiều nhạc sĩ bắt đầu sử dụng nhạc điệu phương Tây thay cho nhạc điệu phương Đông truyền thống.
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
Được sự cho phép của nghệ sĩ Lê Uyên, chúng tôi rất tiếc phải thông báo đến quý khán/thính giả và quý bằng hữu về việc Lê Uyên vừa trải qua tai nạn xe do một người tài xế say rượu gây ra vào khoảng 9 giờ 45 phút tối thứ Ba, ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại Quận Cam, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Hiện tại, Lê Uyên đang được điều trị tại bệnh viện và không ở trong tình trạng nguy kịch
CÓ NHAU TRONG ĐỜI: 7 GIỜ TỐI CHỦ NHẬT 29 THÁNG 6 NĂM 2025 tại Coffee Factory: 15582 Brookhurst St., Westminster, CA 92683. Vé bảo trợ $150 - Vé VIP $100 - Vé đồng hạng $80. Để đặt vé và bảo trợ cho chương trình, vui lòng nhắn tin ban tổ chức 714-725-5445 hoặc 714-592-8941. Ban tổ chức chân thành cảm ơn Coffee Factory hỗ trợ Lê Uyên thực hiện chương trình tưởng niệm này.
Mỗi năm cứ đến cuối tháng Tư, mặc dầu đang là mùa Xuân thanh bình trên quê hương thứ hai, những kỷ niệm đau đớn xưa vẫn tìm đường trở về trong tâm tưởng. Năm nay đánh dấu 50 năm, một nửa thế kỷ nên càng thêm đậm nét. Bản thân tôi thuộc lớp người di cư vào Nam sau hiệp định Geneve ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954, lại có thêm những hoài niệm khắc khoải hơn. Trong hiệp định có khoảng 300 ngày để di cư, sau này vì số người di cư từ Bắc vào Nam quá đông nên được gia hạn thêm vài tuần. Đối với cá nhân tôi, rời bỏ miền Bắc tháng 4 năm 1955 nên là đánh dấu 70 năm di cư và 50 năm di tản. Những người hai lần di cư, nhất là các phụ nữ Việt thật nhẫn nại, kiên cường chịu đựng từ 70 năm qua, định cư tại miền Nam mới được 20 năm thì lại phải di tản. Nếu năm 1955, chỉ xuống miền Nam thì năm 1975 phải đến một nơi xa lạ cách cả một đại dương.
Vũ Xuân Thông sinh ngày 9 tháng 12 năm 1939 tại Hà Nội. Là gia đình có đạo dòng, Thông theo học trường Puginier, là một ngôi trường cổ xưa được xây cất từ năm 1897 tại Hà Nội. Năm 1954, khi gia đình di cư vào Nam, ở tuổi 15 Thông là con trai cả trong một gia đình lúc đó có 4 anh em: Vũ Xuân Thông, Vũ Văn Thanh, Vũ Văn Phượng, Vũ Thị Bích, sau này trên vùng đất mới, gia đình Thông có thêm 2 người em nữa là Vũ Hồng Vân, Vũ Văn Dũng.
Chưa có bao giờ vào những ngày đầu năm mà tôi phải nằm nhà suốt như năm nay. Năm 2025, năm của con rắn, năm Ất Tỵ. Ở tuổi già bước vào tuổi tám bó, cực chẳng đã bị cái bệnh khiến mệt rề rề mới nằm nhà, nếu khỏe ra cà phê tán gẫu. Chuyện tầm phào từ thuở xa xưa, thời khai thiên lập địa, có một phái đoàn có cả con người và muôn loài động vật, chuyện không nhắc đến dùng phương tiện gì, mà tất cả đã mò lên trình diện được cùng Thượng Đế. Việc trước tiên là… vấn an Ngài, thứ đến là xin Ngài ban phước lành cho trần thế. Không hiểu từ một sự sắp xếp theo một tuần tự ngẫu nhiên nào mà cặp đôi trùng phùng đến quì trước mặt Thượng Đế là một lão già lẩm cẩm, chừng đâu đó tuổi bằng tuổi tôi hiện giờ (83) và một con rắn lượn mình hớn hở.
Hà Nội của một thời “36 phố phường” cũng không hiểu vì sao, thời còn đi học nơi phố cổ Hội An, ngoài thơ, văn… vài ca khúc từ thời tiền chiến đã chiếm trong tâm hồn tôi. Nơi chốn đó khi xa cách với nỗi buồn, tiếc như như ca khúc Hướng Về Hà Nọi của nhạc sĩ Hoàng Dương
“Để có thể nối kết đồng cảm ý nghĩa và tình tự của một ca khúc với người nghe, người hát cần hiểu ca từ sâu sắc và rung động với tâm tình trong lời và nhạc.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.