Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đi Nghe Ngàn Khơi 30 Năm Kỷ Niệm

13/12/201900:00:00(Xem: 3977)
Di Nghe Ngan Khoi 30 nam Hinh 1
Bích Vân hát bài Giấc Mơ Hồi Hương của nhạc sĩ Vũ Thành An.Photo Việt Phạm



Di Nghe Ngan Khoi 30 nam Hinh 2
Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi, Giàn Nhạc Giao Hưởng OCofOC, nhạc trưởng Mộng Thủy với Trường Ca Hòn Vọng Phu trong chương trình kỷ niệm 30 Năm- Photo: Việt Phạm



Di Nghe Ngan Khoi 30 nam Hinh 3
MC Nguyễn Hoàng Dũng và Lê Đình Y Sa (Photo: Việt Phạm) Bích Liên hát bài Tình Hoài Hương của nhạc sĩ Phạm Duy (Photo: Việt Báo)


Di Nghe Ngan Khoi 30 nam Hinh 4
Thu Vàng hát Dạ Khúc của Nguyễn Văn Quỳ VS Music Studio Đồng Ca Thiếu Nhi bài Hoa Cam của Vivian Lê & Tuổi Thơ của Lê Thương. (Photo: Việt Báo)


 
1.

Một chương trình ca nhạc đánh dấu 30 năm ngày thành lập ban hợp xướng vốn được xem là nổi bật nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại, với những khúc nhạc bất hủ của bảy, tám mươi năm tân nhạc VN, trình diễn bởi những ca sĩ tên tuổi hiện thời, cùng hàng trăm nhạc sĩ, ca viên, dưới tài điều khiển của những nhạc trưởng đầy khả năng và giàu kinh nghiệm, hiển nhiên phải là một chương trình đặc sắc, để lại dư âm trong lòng người nghe một thời gian thật dài, nếu không muốn nói là mãi mãi…

Tôi muốn nói đến buổi trình diễn của ban hợp xướng Ngàn Khơi, cùng các nghệ sĩ được mời, hôm 24/11/2019 vừa qua tại khán trường Saigon Performing Art, tọa lạc ngay trung tâm Little Saigon, Quận Cam, California.

Với một chương trình dàn dựng quy mô, tập luyện kỹ lưỡng, tổ chức chu đáo, trong đó người trình diễn cũng như người nghe đều đặt hết tâm hồn mình vào tiếng nhạc, lời ca, thì sự thành công là không lạ, và tôi có thể gọi đây là một sự kiện văn hóa đánh dấu sự trưởng thành vượt bực của cộng đồng Việt hải ngoại. Tôi mạo muội viết đôi dòng này gọi là chia sẻ vài ấn tượng và cảm nhận đơn sơ của mình với bạn về chương trình buổi nhạc.


2.

Điều thú vị đầu tiên gây ấn tượng lớn trong lòng tôi là lúc nghe hai khúc nhạc của nhạc sĩ Lê Văn Khoa trích từ Symphony VietNam 1975, ông viết cho giàn nhạc giao hưởng và ban đại hợp xướng. Một khúc nhạc đồ sộ, gói ghém nhiều tham vọng và ước vọng của nhà soạn nhạc. Khúc nhạc gồm bảy hành âm mà mỗi hành âm là một câu chuyện kể như phân cảnh một cuốn phim truyện. Hai hành âm trình tấu trong chương trình hôm đó là hành âm dẫn nhập và hành âm chót, khúc Ca Ngợi Tự Do.

Overture mở màn chương trình là hành âm dựa trên mô-típ một bài nhạc cổ miền Nam, bài Bình Bán Vắn. Nhạc đề xuất hiện rất sớm, ngay những trường canh đầu với giàn nhạc giao hưởng dõng dạc lên tiếng. Sau đó, xen lẫn với nhạc đề chính là những điệu thức dân gian khác diễn tả một đất nước Việt Nam thanh bình. Tiếng violin cao vút (nhịp tiết biến thể của bài dân ca Trèo Lên Quán Dốc) như ánh trăng vằng vặc soi sáng đêm thâu. Rồi tiếng giã gạo chày ba (một lối giã gạo đặc trưng của miền Nam), tiếng người ơi ới gọi nhau trong làng, câu hò tình tứ (cello solo) từ đâu đó xa xa vọng lại, tiếng trai gái đối đáp nhau. Tất cả gom lại thành bức tranh lý tưởng khắc họa một đất nước thanh bình, một dân tộc an cư lạc nghiệp. Toàn thể hành âm là những nhịp điệu sinh động bồi hồi, đầy phấn khởi. Nghệ thuật âm nhạc đạt tới mức độ điêu luyện. Tứ nhạc phong phú nhưng không chõi nhau. Mô-típ Bình Bán Vắn giữ vị thế chủ đạo, xướng họa nhịp nhàng, nhưng các tứ nhạc khác đều có sự đóng góp thích hợp để cùng tạo nên bức tranh hiện thực linh động.

Giàn nhạc giao hưởng Orchestra Collective of Orange County (ocofoc) dưới tài điều khiển của nhạc trưởng tuổi trẻ tài cao David Rentz đã phối hợp ngũ âm Việt Nam vào nhạc cụ Tây phương một cách tuyệt hảo, và nhờ thế, tinh thần của khúc nhạc đã được diễn tả cao độ, tạo cảm xúc bồi hồi trong lòng người nghe là tôi.

Bài Ca Ngợi Tự Do, chủ đề của hành âm thứ bảy kết thúc Symphony VietNam 1975, lại là tiết mục mở màn cho phần II của chương trình. Tiếng cello solo mở đầu hành âm như biểu lộ tấm lòng căm phẫn nhưng cương quyết không chịu lùi bước trước gian nguy và bạo lực. Nhạc đề nguyên thủy trở lại ngũ âm điệu Oán bi tráng, cảm động. Cường độ nhạc tăng dần rồi ban hợp xướng nhập cuộc, bùng vỡ ở cường độ vũ bão khúc hát Ca Ngợi Tự Do dựa trên biến thể nhịp tiết bài dân ca Lý Chim Quyên. Câu nhạc ngắn, nhịp tiết dồn dập, mạnh mẽ, chan chứa niềm tin son sắt. Kế đó nhạc chuyển sang đoạn tâm tình rất cảm động của giọng tenor với sự hỗ trợ hài hòa của soprano, alto, bass và giàn nhạc:

“Khi ra đi con đã hứa với Mẹ rằng: Dù ngày sau sẽ không còn nhau nữa thì hồn
con sáng hơn ngàn tinh tú và rạng soi cho nước ta: Việt Nam.”

Nhạc liền chuyển sang đoạn cương quyết với toàn ban hợp xướng hát tiếp:

“Ngàn người sống: Chứng nhân kinh hoàng!
Vạn người chết: Đuốc soi tự do!
Nước mắt muôn triệu người
Tưới xuống quê hương mình,
Trồi lên tràn đầy mầm sống mới: Tự Do!”

Âm thanh trong đoạn cuối rực sáng nhờ dùng cung D Trưởng. Bốn con âm cuối, Tự Do Muôn Năm, nhất là hai âm Muôn Năm, không về chủ âm D mà bung thoát lên quãng năm cao hơn, nốt A cao. Dĩ nhiên alto, tenor vút lên cao, mà bass cũng thoát đi. Tất cả bay vút lên như ngàn cánh chim tung tỏa, phất phới trong bầu trời Tự Do.

Với Symphony VietNam 1975, nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã rất hãnh diện về đóng góp này của ông vào kho tàng văn hóa Việt. (Khúc nhạc hiện được lưu trữ trong Thư viện Quốc gia Úc.) “Dấu ấn” của ông trong chương trình là rõ rệt, ngoài hai tấu khúc vừa kể và ca khúc Ngày Mai Chia Tay do ca sĩ Ngọc Hà trình bày, ông còn soạn hòa âm cho nhiều nhạc khúc khác, không phải do ông sáng tác. Trong quá khứ, ông từng là nhạc trưởng của ban hợp xướng Ngàn Khơi, và ngày nay tuy ở tuổi hơi… cao, 86 mùa xuân đời người đã qua, ông vẫn không ngừng tham gia những sinh hoạt nghệ thuật trong cộng đồng.


3.

Trọng tâm của chương trình, dĩ nhiên, là ban hợp xướng Ngàn Khơi. Khởi đi từ buổi ban đầu khiêm tốn, do nhạc trưởng Trần Chúc điều hành, ban nhạc đã vượt qua những đoạn đường dài thăng trầm với nhiều thử thách, để có ngày hôm nay. Tuy không theo dõi thường xuyên quá trình sinh hoạt của ban nhạc, nhưng tôi nghĩ không niềm vinh quang nào mà không có những hy sinh to tát và nỗ lực hơn người. Một điểm son cho tất cả – từ các anh chị trong ban điều hành cho đến các em thiếu nhi học nhạc – không thể nói hết bằng vài câu chữ bình thường!

Ban hợp xướng Ngàn Khơi tối hôm đó quả đã chứng tỏ được trình độ nghệ thuật chuyên nghiệp, từ bài hợp xướng tương đối đơn giản, Khỏe Vì Nước, đến ba bài Hòn Vọng Phu phức tạp hơn nhiều, và đã không phụ lòng chờ đợi của giới mộ điệu. Tôi nghe Hòn Vọng Phu không biết bao nhiêu lần mà không bao giờ thấy chán. Ở cả ba khúc, giai điệu hào hùng lẫn bi tráng nối tiếp nhau như những lớp sóng xô đẩy không ngớt, cảm xúc biến chuyển không ngừng, có những lúc tưởng sẽ ngưng lại ở một hình ảnh nào đó nhưng tiếng nhạc và ca từ đột ngột lôi kéo mình sang một ảnh tượng và tâm cảm khác, thậm chí tương phản, tương phản đến buốt lạnh linh hồn:

Bên Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng,
Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng.
Người không rời khỏi kiếp gian nan,
Người biến thành tượng đá ôm con.

Hòn Vọng Phu của nhạc sĩ Lê Thương xứng đáng là một classic trong kho tàng âm nhạc Việt, và nơi đây nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã cho chúng ta một hòa âm tuyệt vời khiến khúc nhạc như được đẩy lên một chiều kích mới, một biên vực mới, nơi chỉ có âm nhạc, giai điệu, hòa điệu, ca từ, không một thứ gì khác, chế ngự tâm hồn người nghe.

Ban hợp xướng Ngàn Khơi đã thành công vượt bực ở khúc hát này. Ca sĩ Julianne Yên Thư cũng vô cùng xuất sắc trong vai trò solo ở khúc II.

Xin nói thêm một chút về chất lượng thanh âm của ban hợp xướng. Ngoại trừ hai khúc Ca Ngợi Tự DoHòn Vọng Phu, ở những khúc khác, thanh âm của ban hợp xướng hình như thiếu phóng chiếu xuống khán giả. Không hiểu vì giàn nhạc giao hưởng chơi forte, lấn át giọng hát, hay vì acoustics của khán trường có vấn đề. Tôi để ý, sàn rạp lót thảm, một điều tối kỵ tại các venue trình tấu nhạc thính phòng hay giao hưởng.

Và, có lẽ cũng chính bởi thế mà ban hợp xướng đã không thể hiện đúng mức nghệ thuật đa thanh. Nghe hợp xướng, tôi luôn luôn lắng nghe “bè.” “Bè” là biến tấu đơn giản hóa từ nhạc thức phức điệu fuga, trong đó có hơn một “giọng” – mỗi “giọng” giữ một giai điệu độc lập – cùng lúc xướng lên, quyện lẫn vào nhau nhưng không chõi nhau. Sự thú vị khi nghe “bè” là ở đó, bởi thế hợp xướng và “bè” là hai yếu tính không thể tách rời. Phần nhiều những khúc hợp xướng nghe tối hôm đó, tôi chỉ nghe một “giọng” unison. Sự thiếu quân bằng có lẽ do thành phần ca viên không cân xứng chăng? Bởi chỉ có 6 tenor và 6 bass, đọ với 28 soprano và 14 alto, rõ ràng là “Nữ thịnh dương suy”!


4.

Về đơn ca thì có tất cả 10 tiết mục được trình bày bởi những ca sĩ tài danh nhất của làng nhạc Việt hải ngoại, thiết tưởng tôi không nên nhiều lời. Nhưng tôi không thể không nói đôi điều về ca sĩ Bích Vân. Tối đó, chị Bích Vân hát hai ca khúc, Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi của Phạm Duy và Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành. Cả hai đều là classic, tôi nghe hát rất nhiều, bởi nhiều ca sĩ khác nhau, nhưng qua giọng Bích Vân, tôi đã được nghe hai khúc nhạc “mới” do nghệ thuật phrasing độc đáo của chị đem lại. Phong cách ngắt câu, phân nhịp, thẩm định cường độ, trường độ nốt nhạc của chị là tuyệt chiêu, hiếm có ca sĩ Việt Nam nào chịu dày công luyện tập như thế. Sắc điệu trong tiếng nhạc cũng được chị tinh tế chú tâm, thí dụ con âm “rừng” trong bài Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi, chị đã phả một phương âm ngả sang giọng Trung / Chàm để tạo âm sắc lạ, nói cách khác, chị đã phổ sắc màu lên giai điệu một cách đầy sáng tạo và thú vị. Giọng soprano của chị thì trong vắt như pha lê, hát legato óng mượt như mật chảy, dù là quãng ba thuận âm hay quãng bảy nghịch âm, chị đều nhẹ nhàng đẩy nốt nhạc đến nơi đến chốn, không chút do dự, không chút ngập ngừng. Sự thật là chị hát dễ dàng như lấy đồ trong túi và với một phong thái tự tin chắc nịch, thể điệu trình bày duyên dáng (như một pha diễn nhạc kịch), chị đã hoàn toàn chiếm cảm tình của người nghe (là tôi.) Chất giọng chị sang cả, mà không kịch tính, có phần ngả sang “cổ điển” nhiều hơn là “lãng mạn” kiểu “sóng vỗ tràn bờ.” Có nghĩa là, nếu hát nhạc cổ điển, chị sẽ thành công với Mozart nhiều hơn là Wagner.

Ba nữ ca sĩ khác mà tôi cũng yêu thích là Bích Liên, Ngọc Hà và Thu Vàng.

Bích Liên với phong cách phát âm “tròn vành rõ chữ” khiến tôi liên tưởng đến giọng các ca nương ca trù. Chị hát với một phong thái vững vàng, tự tin. Chất giọng của chị rực sáng, chị chú tâm đến chất lượng từng nốt nhạc, mỗi nốt nhạc là một biểu hiện tâm hồn đối với chị, có lẽ bởi thế chị hay chọn nhạc Phạm Duy, như bài Tình Hoài Hương, và hôm đó chị đã hát bài này thành công rực rỡ.

Thu Vàng cũng thế, nhưng khác Bích Liên, ở người ca sĩ này là một chất giọng trữ tình, tha thiết và da diết. Có cái gì ấm áp khi nghe chị hát, một cái gì thương cảm, vỗ về. Ca khúc chị chọn hôm đó, Dạ Khúc của Nguyễn Văn Quỳ, phong cách cổ điển Tây phương – viết cho giọng hát nhưng với giai điệu đó, cũng có thể là violin – một viên ngọc quý trong kho tàng âm nhạc Việt, nhưng tôi không hiểu tại sao ít nghe hát trên sân khấu, cũng chẳng thấy mấy ca sĩ thu âm. Bảo Thu Vàng chọn khúc nhạc này là không đúng, chính khúc nhạc đã chọn chị.

Ngọc Hà tối đó hát bài Ngày Mai Chia Tay của Lê Văn Khoa. Khúc nhạc cũng như giọng hát của chị nhẹ nhàng, thanh thoát, tạo những cung bậc u sầu, buồn man mác.

Có hai nam ca sĩ tham dự chương trình, đó là Lê Hồng Quang và Nguyên Khang. Cả hai đều là ca sĩ thượng thặng, giàu kinh nghiệm ca hát, danh tiếng nổi như cồn, nhưng điểm tôi muốn nói ở đây là sự tương phản thật rõ nét ở hai anh. Lê Hồng Quang, chất giọng bel canto quý phái, trau chuốt, thanh cao, tương phản với chất giọng “mộc” của Nguyên Khang. Lê Hồng Quang, phong cách nghiêm túc, kiểu cách, reserved, tương phản với Nguyên Khang, sôi nổi, sóng vỡ tràn bờ, unfettered. Lê Hồng Quang implicit, phóng chiếu nội tại trong khi Nguyên Khang explicit, phóng chiếu ngoại tại. Vân vân và vân vân. Thế nhưng, Nguyên Khang đã rất thành công với ca khúc Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà của Phạm Duy phổ thơ Hữu Loan, trong khi Lê Hồng Quang chỉ thành công ở mức độ vừa phải với bài Đôi Mắt Người Sơn Tây của Phạm Đình Chương phổ thơ Quang Dũng. Cả hai bài thơ của hai thi sĩ cùng thời, cùng chí hướng (được hai nhạc sĩ sống cùng thời, tài năng ngang ngửa nhau) phổ nhạc, mang chung một tâm cảm u uất, u hoan với thời thế, quê hương, ở Phạm Đình Chương thì man mác, ở Phạm Duy thì bi phẫn. Tâm cảm đó chỉ có cách dùng con dao sắc rạch toác ra, bởi nó cũng chẳng có gì siêu hình khó hiểu, đừng đóng khung triết học lên nó làm gì, hãy cho nó một hình tượng cảm xúc mộc mạc, raw emotion, nếu tôi có thể nói như thế.

Nguyên Khang đã làm thế, và anh thành công.

Tôi đặc biệt chú ý một giọng hát trẻ, trẻ lắm, bởi trông cô còn dáng dấp học trò. Nghệ danh cô là Mê Linh và cô hát ca khúc Dạ Lai Hương của Phạm Duy. Tôi đã nghe cô hát vài lần ở những chương trình nhỏ hơn, nhưng chính trên sân khấu lớn này, với ban nhạc giao hưởng, tôi mới thấy hết tiềm năng của cô. Chất giọng cô tròn đầy, sung mãn, và phrasing của cô thì chẳng kém gì các bậc đàn anh, đàn chị. Phát âm của cô không thuần Việt, có lẽ vì cô sinh trưởng ở nước ngoài, nhưng điều đó không quan hệ trong âm nhạc. André Bocelli hát tiếng Anh với âm giọng Ý vẫn được bà con tán thưởng, có sao đâu. Tôi nghĩ cô sẽ còn tiến xa trên con đường ca hát của cô.


5.

Tôi rất muốn nói thêm về các tiết mục khác, ban thiếu nhi, ban thiếu niên, Cát Trắng, Sóng Xanh, v.v… Tất cả đều làm tròn nhiệm vụ của mình một cách đáng khen, nhưng chắc bạn nghe tôi nói nãy giờ đã mệt mỏi lắm rồi, phải không? Thú thật với bạn tôi cũng có chút “mệt mỏi” với chương trình hôm đó. Một chương trình dù hay cách mấy mà kéo dài trên bốn giờ đồng hồ thì cũng là một thách đố cho tính kiên nhẫn của khán giả ngồi nghe bên dưới, nhất là chương trình lại trùng với giờ ăn tối, từ 4 giờ chiều đến 8 giờ tối!!!

Rồi đến các MC. Tôi không hiểu do đâu các chương trình ca nhạc của người Việt mình phải có quá nhiều MC làm công việc giới thiệu, hướng dẫn (và lâu lâu còn thuyết giảng về lòng ái quốc, nhớ nước thương quê). Chương trình phần nhiều là ca khúc, có lời, chẳng có chi khó hiểu. Có tờ chương trình trong tay thì đâu cần MC ra vào mỗi bài. Hơn nữa, những ca khúc đó, có người đã nghe cả trăm, cả ngàn lần trong đời, thuộc nằm lòng, đâu cần ai hướng dẫn. Nếu có những thông tin mới lạ liên quan đến khúc nhạc, tác giả, ca sĩ, nhạc sĩ, thì in vào tờ chương trình, và trong lúc chờ đợi mở màn, khán giả ngồi đọc tại chỗ, rồi sau đó đem về nhà “học” thêm. Làm thế, sẽ thu ngắn thời lượng chương trình ít nhất nửa giờ đồng hồ.

Dù vậy, không biết bạn sao, chứ tôi ra về hôm đó trong lòng rất vui vì đã thưởng thức một chương trình ca nhạc Việt hiếm có trong cuộc sống tha hương này, và không khỏi thán phục những người có tấm lòng tổ chức và khổ luyện cho một chương trình hợp xướng công phu, tầm vóc.

Trịnh Y Thư

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trước Giáng Sinh 2020 có người bạn sắp về hưu phôn hỏi theo năm sinh khi nào về hưu ở Đức và riêng tôi sau khi nghỉ hưu anh làm gì vì đã có nghe vài người bạn thân than "nghỉ ở nhà chán thật", điển hình ví dụ như trong mùa "đại dịch Corona" phải nằm nhà, cảm thấy tù túng, khó chịu".
Với đại dịch hạn chế đi lại trong mùa lễ, nhiều người Mỹ sẽ ngồi trước truyền hình để xem những cuốn phim ngày lễ thích thú của họ, cùng với uống bia rượu ưu thích – một ly nước táo nóng hay một chung rượu – để cho đời vui thêm. Phim ngày lễ đã trở thành một phần quan trọng của các cuộc lễ hội mùa đông của người Mỹ và lại còn nhiều hơn đối với những ai cách ly vào mùa lễ năm nay. Trang mạng giải trí Vulture báo cáo 82 phim ngày lễ mới được tung ra trong năm 2020. Nhưng, ngay cả trước khi đóng cửa, việc sản xuất các phim Giáng Sinh hàng năm được báo cáo là tăng ít nhất 20% kể từ năm 2017 chỉ trên một hệ thống dây cáp truyền hình.Phim ngày lễ là phổ biến không chỉ đơn giản bởi vì chúng là “những cuộc trốn chạy,” như nghiên cứu của tôi về mối quan hệ giữa tôn giáo và điện ảnh. Đúng hơn, những phim này trao cho người xem một cái nhìn thoáng qua vào thế giới như nó có thể là.
Mở nghe bài hát Nắng Đẹp Miền Nam “ Khi người lính chiến đã đấu tranh hiến hòa bình cho Đồng Tháp Cà Mau. Đây quê hương thân yêu Miền Nam, nắng lên huy hoàng đẹp mùa vui sang” mà lòng bâng khuâng ngậm ngùi. Những nhạc phẩm của Lam Phương giai điệu vui tươi êm ái, lời ca mộc mạc, chân tình đi thẳng lòng người, đẹp như màu nắng lóng lánh trên cánh đồng màu mỡ Miền Nam, thuở thanh bình năm cũ trở thành kỷ niệm.
Người nhạc sĩ tài năng đa dạng có hơn 200 bản nhạc đã được hát khắp nơi từ đầu thập niên 1950 cho đến nay ở trong và ngoài nước mà hầu như người Việt nào cũng đã từng nghe nhạc của ông, Nhạc Sĩ Lam Phương, đã từ giã cõi đời vào chiều tối ngày 22 tháng 12 năm 2020 tại Thành Phố Fountain Valley, Miền Nam California, Hoa Kỳ.
Năm 2007 lần đầu tiên tôi được nghe ca khúc "Những Sáng Thứ Bảy" của nhạc sĩ Lại Quốc Hùng - sáng tác trước 1975. Melody nhẹ nhàng, lời tình tự êm ái, lồng trong khung cảnh buổi sáng yên tĩnh, chỉ có gió mùa thu lay động những chiếc lá vàng ... (còn thứ bảy có lẽ là ngày cuối tuần rảnh rỗi để tác giả đi lang thang chăng?). Ca khúc buồn man mác nhưng vẫn thấy chút hy vọng mong manh qua tia nắng ấm ban mai. Đây quả là một ca khúc hay và "quyến rũ" người yêu nhạc ...
Tôi được may mắn gặp Ca Sĩ Mai Hương trong buổi chiều nhạc “Hát cho vui đời”, do Kim Tước và các người em của bà tổ chức vào cuối tháng 10, năm 2016. Bà đến tham dự cùng phu quân và có lên sân khấu cùng song ca với Kim Tước một khúc nhỏ trong bài "Hình ảnh một đêm trăng" của Văn Phụng. Đó là lần cuối tôi gặp bà và cũng là lần cuối khán thính giả được nghe bà hát.
Mai Hương nguyên danh Phạm Thị Mai Hương, gốc Hà Nội, sinh năm 1941 tại Đà Nẵng. Xuất thân trong một gia đình nghệ sĩ, cha mẹ MH là Phạm Đình Sỹ và nữ kịch sĩ Kiều Hạnh, diễn viên đoàn kịch Sao Vàng của Thế Lữ, được Bộ Thông Tin VNCH đã trao tặng danh hiệu nữ kịch sĩ xuất sắc nhất năm 1956. Ông Phạm Đình Sỹ là anh trai của các ca sĩ Thái Hằng (vợ nhạc sĩ Phạm Duy), ca sĩ Thái Thanh, ca sĩ Hoài Trung Phạm Đình Viêm và nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương.
Tôi gặp nhạc sĩ Lê Dinh lần duy nhất trong đời khi ông từ Montreal Canada ghé San Jose California cuối thập niên 1980 thăm gia đình cố nhạc sĩ Minh Kỳ và ông điện thoại mời tôi tới.
Bài phỏng vần này được thực hiện – năm 2015 – chỉ với mục đích tìm hiểu về những nhận xét của một trong ba nhạc sĩ tài danh của Nhóm Lê Minh Bằng đối với Nền Âm Nhạc Việt-Nam từ trước và sau năm 1975.
Alex Trebek, người điều khiển chương trình “Jeopardy!” được kính trọng và yêu quý kể từ năm 1984, người có đức tính điềm tĩnh nhưng hóm hỉnh có mặt trên truyền hình phải xem đối với hàng triệu người Mỹ, đã qua đời ở tuổi 80, theo bản tin cùa TMZ cho biết hôm Chủ Nhật, 8 tháng 11 năm 2020.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.