Hôm nay,  

Đi Nghe Ngàn Khơi 30 Năm Kỷ Niệm

13/12/201900:00:00(Xem: 5595)
Di Nghe Ngan Khoi 30 nam Hinh 1
Bích Vân hát bài Giấc Mơ Hồi Hương của nhạc sĩ Vũ Thành An.Photo Việt Phạm



Di Nghe Ngan Khoi 30 nam Hinh 2
Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi, Giàn Nhạc Giao Hưởng OCofOC, nhạc trưởng Mộng Thủy với Trường Ca Hòn Vọng Phu trong chương trình kỷ niệm 30 Năm- Photo: Việt Phạm



Di Nghe Ngan Khoi 30 nam Hinh 3
MC Nguyễn Hoàng Dũng và Lê Đình Y Sa (Photo: Việt Phạm) Bích Liên hát bài Tình Hoài Hương của nhạc sĩ Phạm Duy (Photo: Việt Báo)


Di Nghe Ngan Khoi 30 nam Hinh 4
Thu Vàng hát Dạ Khúc của Nguyễn Văn Quỳ VS Music Studio Đồng Ca Thiếu Nhi bài Hoa Cam của Vivian Lê & Tuổi Thơ của Lê Thương. (Photo: Việt Báo)


 
1.

Một chương trình ca nhạc đánh dấu 30 năm ngày thành lập ban hợp xướng vốn được xem là nổi bật nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại, với những khúc nhạc bất hủ của bảy, tám mươi năm tân nhạc VN, trình diễn bởi những ca sĩ tên tuổi hiện thời, cùng hàng trăm nhạc sĩ, ca viên, dưới tài điều khiển của những nhạc trưởng đầy khả năng và giàu kinh nghiệm, hiển nhiên phải là một chương trình đặc sắc, để lại dư âm trong lòng người nghe một thời gian thật dài, nếu không muốn nói là mãi mãi…

Tôi muốn nói đến buổi trình diễn của ban hợp xướng Ngàn Khơi, cùng các nghệ sĩ được mời, hôm 24/11/2019 vừa qua tại khán trường Saigon Performing Art, tọa lạc ngay trung tâm Little Saigon, Quận Cam, California.

Với một chương trình dàn dựng quy mô, tập luyện kỹ lưỡng, tổ chức chu đáo, trong đó người trình diễn cũng như người nghe đều đặt hết tâm hồn mình vào tiếng nhạc, lời ca, thì sự thành công là không lạ, và tôi có thể gọi đây là một sự kiện văn hóa đánh dấu sự trưởng thành vượt bực của cộng đồng Việt hải ngoại. Tôi mạo muội viết đôi dòng này gọi là chia sẻ vài ấn tượng và cảm nhận đơn sơ của mình với bạn về chương trình buổi nhạc.


2.

Điều thú vị đầu tiên gây ấn tượng lớn trong lòng tôi là lúc nghe hai khúc nhạc của nhạc sĩ Lê Văn Khoa trích từ Symphony VietNam 1975, ông viết cho giàn nhạc giao hưởng và ban đại hợp xướng. Một khúc nhạc đồ sộ, gói ghém nhiều tham vọng và ước vọng của nhà soạn nhạc. Khúc nhạc gồm bảy hành âm mà mỗi hành âm là một câu chuyện kể như phân cảnh một cuốn phim truyện. Hai hành âm trình tấu trong chương trình hôm đó là hành âm dẫn nhập và hành âm chót, khúc Ca Ngợi Tự Do.

Overture mở màn chương trình là hành âm dựa trên mô-típ một bài nhạc cổ miền Nam, bài Bình Bán Vắn. Nhạc đề xuất hiện rất sớm, ngay những trường canh đầu với giàn nhạc giao hưởng dõng dạc lên tiếng. Sau đó, xen lẫn với nhạc đề chính là những điệu thức dân gian khác diễn tả một đất nước Việt Nam thanh bình. Tiếng violin cao vút (nhịp tiết biến thể của bài dân ca Trèo Lên Quán Dốc) như ánh trăng vằng vặc soi sáng đêm thâu. Rồi tiếng giã gạo chày ba (một lối giã gạo đặc trưng của miền Nam), tiếng người ơi ới gọi nhau trong làng, câu hò tình tứ (cello solo) từ đâu đó xa xa vọng lại, tiếng trai gái đối đáp nhau. Tất cả gom lại thành bức tranh lý tưởng khắc họa một đất nước thanh bình, một dân tộc an cư lạc nghiệp. Toàn thể hành âm là những nhịp điệu sinh động bồi hồi, đầy phấn khởi. Nghệ thuật âm nhạc đạt tới mức độ điêu luyện. Tứ nhạc phong phú nhưng không chõi nhau. Mô-típ Bình Bán Vắn giữ vị thế chủ đạo, xướng họa nhịp nhàng, nhưng các tứ nhạc khác đều có sự đóng góp thích hợp để cùng tạo nên bức tranh hiện thực linh động.

Giàn nhạc giao hưởng Orchestra Collective of Orange County (ocofoc) dưới tài điều khiển của nhạc trưởng tuổi trẻ tài cao David Rentz đã phối hợp ngũ âm Việt Nam vào nhạc cụ Tây phương một cách tuyệt hảo, và nhờ thế, tinh thần của khúc nhạc đã được diễn tả cao độ, tạo cảm xúc bồi hồi trong lòng người nghe là tôi.

Bài Ca Ngợi Tự Do, chủ đề của hành âm thứ bảy kết thúc Symphony VietNam 1975, lại là tiết mục mở màn cho phần II của chương trình. Tiếng cello solo mở đầu hành âm như biểu lộ tấm lòng căm phẫn nhưng cương quyết không chịu lùi bước trước gian nguy và bạo lực. Nhạc đề nguyên thủy trở lại ngũ âm điệu Oán bi tráng, cảm động. Cường độ nhạc tăng dần rồi ban hợp xướng nhập cuộc, bùng vỡ ở cường độ vũ bão khúc hát Ca Ngợi Tự Do dựa trên biến thể nhịp tiết bài dân ca Lý Chim Quyên. Câu nhạc ngắn, nhịp tiết dồn dập, mạnh mẽ, chan chứa niềm tin son sắt. Kế đó nhạc chuyển sang đoạn tâm tình rất cảm động của giọng tenor với sự hỗ trợ hài hòa của soprano, alto, bass và giàn nhạc:

“Khi ra đi con đã hứa với Mẹ rằng: Dù ngày sau sẽ không còn nhau nữa thì hồn
con sáng hơn ngàn tinh tú và rạng soi cho nước ta: Việt Nam.”

Nhạc liền chuyển sang đoạn cương quyết với toàn ban hợp xướng hát tiếp:

“Ngàn người sống: Chứng nhân kinh hoàng!
Vạn người chết: Đuốc soi tự do!
Nước mắt muôn triệu người
Tưới xuống quê hương mình,
Trồi lên tràn đầy mầm sống mới: Tự Do!”

Âm thanh trong đoạn cuối rực sáng nhờ dùng cung D Trưởng. Bốn con âm cuối, Tự Do Muôn Năm, nhất là hai âm Muôn Năm, không về chủ âm D mà bung thoát lên quãng năm cao hơn, nốt A cao. Dĩ nhiên alto, tenor vút lên cao, mà bass cũng thoát đi. Tất cả bay vút lên như ngàn cánh chim tung tỏa, phất phới trong bầu trời Tự Do.

Với Symphony VietNam 1975, nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã rất hãnh diện về đóng góp này của ông vào kho tàng văn hóa Việt. (Khúc nhạc hiện được lưu trữ trong Thư viện Quốc gia Úc.) “Dấu ấn” của ông trong chương trình là rõ rệt, ngoài hai tấu khúc vừa kể và ca khúc Ngày Mai Chia Tay do ca sĩ Ngọc Hà trình bày, ông còn soạn hòa âm cho nhiều nhạc khúc khác, không phải do ông sáng tác. Trong quá khứ, ông từng là nhạc trưởng của ban hợp xướng Ngàn Khơi, và ngày nay tuy ở tuổi hơi… cao, 86 mùa xuân đời người đã qua, ông vẫn không ngừng tham gia những sinh hoạt nghệ thuật trong cộng đồng.


3.

Trọng tâm của chương trình, dĩ nhiên, là ban hợp xướng Ngàn Khơi. Khởi đi từ buổi ban đầu khiêm tốn, do nhạc trưởng Trần Chúc điều hành, ban nhạc đã vượt qua những đoạn đường dài thăng trầm với nhiều thử thách, để có ngày hôm nay. Tuy không theo dõi thường xuyên quá trình sinh hoạt của ban nhạc, nhưng tôi nghĩ không niềm vinh quang nào mà không có những hy sinh to tát và nỗ lực hơn người. Một điểm son cho tất cả – từ các anh chị trong ban điều hành cho đến các em thiếu nhi học nhạc – không thể nói hết bằng vài câu chữ bình thường!

Ban hợp xướng Ngàn Khơi tối hôm đó quả đã chứng tỏ được trình độ nghệ thuật chuyên nghiệp, từ bài hợp xướng tương đối đơn giản, Khỏe Vì Nước, đến ba bài Hòn Vọng Phu phức tạp hơn nhiều, và đã không phụ lòng chờ đợi của giới mộ điệu. Tôi nghe Hòn Vọng Phu không biết bao nhiêu lần mà không bao giờ thấy chán. Ở cả ba khúc, giai điệu hào hùng lẫn bi tráng nối tiếp nhau như những lớp sóng xô đẩy không ngớt, cảm xúc biến chuyển không ngừng, có những lúc tưởng sẽ ngưng lại ở một hình ảnh nào đó nhưng tiếng nhạc và ca từ đột ngột lôi kéo mình sang một ảnh tượng và tâm cảm khác, thậm chí tương phản, tương phản đến buốt lạnh linh hồn:

Bên Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng,
Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng.
Người không rời khỏi kiếp gian nan,
Người biến thành tượng đá ôm con.

Hòn Vọng Phu của nhạc sĩ Lê Thương xứng đáng là một classic trong kho tàng âm nhạc Việt, và nơi đây nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã cho chúng ta một hòa âm tuyệt vời khiến khúc nhạc như được đẩy lên một chiều kích mới, một biên vực mới, nơi chỉ có âm nhạc, giai điệu, hòa điệu, ca từ, không một thứ gì khác, chế ngự tâm hồn người nghe.

Ban hợp xướng Ngàn Khơi đã thành công vượt bực ở khúc hát này. Ca sĩ Julianne Yên Thư cũng vô cùng xuất sắc trong vai trò solo ở khúc II.

Xin nói thêm một chút về chất lượng thanh âm của ban hợp xướng. Ngoại trừ hai khúc Ca Ngợi Tự DoHòn Vọng Phu, ở những khúc khác, thanh âm của ban hợp xướng hình như thiếu phóng chiếu xuống khán giả. Không hiểu vì giàn nhạc giao hưởng chơi forte, lấn át giọng hát, hay vì acoustics của khán trường có vấn đề. Tôi để ý, sàn rạp lót thảm, một điều tối kỵ tại các venue trình tấu nhạc thính phòng hay giao hưởng.

Và, có lẽ cũng chính bởi thế mà ban hợp xướng đã không thể hiện đúng mức nghệ thuật đa thanh. Nghe hợp xướng, tôi luôn luôn lắng nghe “bè.” “Bè” là biến tấu đơn giản hóa từ nhạc thức phức điệu fuga, trong đó có hơn một “giọng” – mỗi “giọng” giữ một giai điệu độc lập – cùng lúc xướng lên, quyện lẫn vào nhau nhưng không chõi nhau. Sự thú vị khi nghe “bè” là ở đó, bởi thế hợp xướng và “bè” là hai yếu tính không thể tách rời. Phần nhiều những khúc hợp xướng nghe tối hôm đó, tôi chỉ nghe một “giọng” unison. Sự thiếu quân bằng có lẽ do thành phần ca viên không cân xứng chăng? Bởi chỉ có 6 tenor và 6 bass, đọ với 28 soprano và 14 alto, rõ ràng là “Nữ thịnh dương suy”!


4.

Về đơn ca thì có tất cả 10 tiết mục được trình bày bởi những ca sĩ tài danh nhất của làng nhạc Việt hải ngoại, thiết tưởng tôi không nên nhiều lời. Nhưng tôi không thể không nói đôi điều về ca sĩ Bích Vân. Tối đó, chị Bích Vân hát hai ca khúc, Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi của Phạm Duy và Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành. Cả hai đều là classic, tôi nghe hát rất nhiều, bởi nhiều ca sĩ khác nhau, nhưng qua giọng Bích Vân, tôi đã được nghe hai khúc nhạc “mới” do nghệ thuật phrasing độc đáo của chị đem lại. Phong cách ngắt câu, phân nhịp, thẩm định cường độ, trường độ nốt nhạc của chị là tuyệt chiêu, hiếm có ca sĩ Việt Nam nào chịu dày công luyện tập như thế. Sắc điệu trong tiếng nhạc cũng được chị tinh tế chú tâm, thí dụ con âm “rừng” trong bài Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi, chị đã phả một phương âm ngả sang giọng Trung / Chàm để tạo âm sắc lạ, nói cách khác, chị đã phổ sắc màu lên giai điệu một cách đầy sáng tạo và thú vị. Giọng soprano của chị thì trong vắt như pha lê, hát legato óng mượt như mật chảy, dù là quãng ba thuận âm hay quãng bảy nghịch âm, chị đều nhẹ nhàng đẩy nốt nhạc đến nơi đến chốn, không chút do dự, không chút ngập ngừng. Sự thật là chị hát dễ dàng như lấy đồ trong túi và với một phong thái tự tin chắc nịch, thể điệu trình bày duyên dáng (như một pha diễn nhạc kịch), chị đã hoàn toàn chiếm cảm tình của người nghe (là tôi.) Chất giọng chị sang cả, mà không kịch tính, có phần ngả sang “cổ điển” nhiều hơn là “lãng mạn” kiểu “sóng vỗ tràn bờ.” Có nghĩa là, nếu hát nhạc cổ điển, chị sẽ thành công với Mozart nhiều hơn là Wagner.

Ba nữ ca sĩ khác mà tôi cũng yêu thích là Bích Liên, Ngọc Hà và Thu Vàng.

Bích Liên với phong cách phát âm “tròn vành rõ chữ” khiến tôi liên tưởng đến giọng các ca nương ca trù. Chị hát với một phong thái vững vàng, tự tin. Chất giọng của chị rực sáng, chị chú tâm đến chất lượng từng nốt nhạc, mỗi nốt nhạc là một biểu hiện tâm hồn đối với chị, có lẽ bởi thế chị hay chọn nhạc Phạm Duy, như bài Tình Hoài Hương, và hôm đó chị đã hát bài này thành công rực rỡ.

Thu Vàng cũng thế, nhưng khác Bích Liên, ở người ca sĩ này là một chất giọng trữ tình, tha thiết và da diết. Có cái gì ấm áp khi nghe chị hát, một cái gì thương cảm, vỗ về. Ca khúc chị chọn hôm đó, Dạ Khúc của Nguyễn Văn Quỳ, phong cách cổ điển Tây phương – viết cho giọng hát nhưng với giai điệu đó, cũng có thể là violin – một viên ngọc quý trong kho tàng âm nhạc Việt, nhưng tôi không hiểu tại sao ít nghe hát trên sân khấu, cũng chẳng thấy mấy ca sĩ thu âm. Bảo Thu Vàng chọn khúc nhạc này là không đúng, chính khúc nhạc đã chọn chị.

Ngọc Hà tối đó hát bài Ngày Mai Chia Tay của Lê Văn Khoa. Khúc nhạc cũng như giọng hát của chị nhẹ nhàng, thanh thoát, tạo những cung bậc u sầu, buồn man mác.

Có hai nam ca sĩ tham dự chương trình, đó là Lê Hồng Quang và Nguyên Khang. Cả hai đều là ca sĩ thượng thặng, giàu kinh nghiệm ca hát, danh tiếng nổi như cồn, nhưng điểm tôi muốn nói ở đây là sự tương phản thật rõ nét ở hai anh. Lê Hồng Quang, chất giọng bel canto quý phái, trau chuốt, thanh cao, tương phản với chất giọng “mộc” của Nguyên Khang. Lê Hồng Quang, phong cách nghiêm túc, kiểu cách, reserved, tương phản với Nguyên Khang, sôi nổi, sóng vỡ tràn bờ, unfettered. Lê Hồng Quang implicit, phóng chiếu nội tại trong khi Nguyên Khang explicit, phóng chiếu ngoại tại. Vân vân và vân vân. Thế nhưng, Nguyên Khang đã rất thành công với ca khúc Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà của Phạm Duy phổ thơ Hữu Loan, trong khi Lê Hồng Quang chỉ thành công ở mức độ vừa phải với bài Đôi Mắt Người Sơn Tây của Phạm Đình Chương phổ thơ Quang Dũng. Cả hai bài thơ của hai thi sĩ cùng thời, cùng chí hướng (được hai nhạc sĩ sống cùng thời, tài năng ngang ngửa nhau) phổ nhạc, mang chung một tâm cảm u uất, u hoan với thời thế, quê hương, ở Phạm Đình Chương thì man mác, ở Phạm Duy thì bi phẫn. Tâm cảm đó chỉ có cách dùng con dao sắc rạch toác ra, bởi nó cũng chẳng có gì siêu hình khó hiểu, đừng đóng khung triết học lên nó làm gì, hãy cho nó một hình tượng cảm xúc mộc mạc, raw emotion, nếu tôi có thể nói như thế.

Nguyên Khang đã làm thế, và anh thành công.

Tôi đặc biệt chú ý một giọng hát trẻ, trẻ lắm, bởi trông cô còn dáng dấp học trò. Nghệ danh cô là Mê Linh và cô hát ca khúc Dạ Lai Hương của Phạm Duy. Tôi đã nghe cô hát vài lần ở những chương trình nhỏ hơn, nhưng chính trên sân khấu lớn này, với ban nhạc giao hưởng, tôi mới thấy hết tiềm năng của cô. Chất giọng cô tròn đầy, sung mãn, và phrasing của cô thì chẳng kém gì các bậc đàn anh, đàn chị. Phát âm của cô không thuần Việt, có lẽ vì cô sinh trưởng ở nước ngoài, nhưng điều đó không quan hệ trong âm nhạc. André Bocelli hát tiếng Anh với âm giọng Ý vẫn được bà con tán thưởng, có sao đâu. Tôi nghĩ cô sẽ còn tiến xa trên con đường ca hát của cô.


5.

Tôi rất muốn nói thêm về các tiết mục khác, ban thiếu nhi, ban thiếu niên, Cát Trắng, Sóng Xanh, v.v… Tất cả đều làm tròn nhiệm vụ của mình một cách đáng khen, nhưng chắc bạn nghe tôi nói nãy giờ đã mệt mỏi lắm rồi, phải không? Thú thật với bạn tôi cũng có chút “mệt mỏi” với chương trình hôm đó. Một chương trình dù hay cách mấy mà kéo dài trên bốn giờ đồng hồ thì cũng là một thách đố cho tính kiên nhẫn của khán giả ngồi nghe bên dưới, nhất là chương trình lại trùng với giờ ăn tối, từ 4 giờ chiều đến 8 giờ tối!!!

Rồi đến các MC. Tôi không hiểu do đâu các chương trình ca nhạc của người Việt mình phải có quá nhiều MC làm công việc giới thiệu, hướng dẫn (và lâu lâu còn thuyết giảng về lòng ái quốc, nhớ nước thương quê). Chương trình phần nhiều là ca khúc, có lời, chẳng có chi khó hiểu. Có tờ chương trình trong tay thì đâu cần MC ra vào mỗi bài. Hơn nữa, những ca khúc đó, có người đã nghe cả trăm, cả ngàn lần trong đời, thuộc nằm lòng, đâu cần ai hướng dẫn. Nếu có những thông tin mới lạ liên quan đến khúc nhạc, tác giả, ca sĩ, nhạc sĩ, thì in vào tờ chương trình, và trong lúc chờ đợi mở màn, khán giả ngồi đọc tại chỗ, rồi sau đó đem về nhà “học” thêm. Làm thế, sẽ thu ngắn thời lượng chương trình ít nhất nửa giờ đồng hồ.

Dù vậy, không biết bạn sao, chứ tôi ra về hôm đó trong lòng rất vui vì đã thưởng thức một chương trình ca nhạc Việt hiếm có trong cuộc sống tha hương này, và không khỏi thán phục những người có tấm lòng tổ chức và khổ luyện cho một chương trình hợp xướng công phu, tầm vóc.

Trịnh Y Thư

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vương Trùng Dương, tên khai sinh là Trần Ngọc Dưỡng, sinh đầu tháng 2 năm 1945 (âm lịch tuổi Giáp Thân) tại Quảng Nam. Gia đình của Dương, từ lâu, định cư tại Chợ Được, một ngôi chợ khang trang nằm bên bờ sông Trường. Chợ cũng là bến ghe thuyền. Đò dọc theo sông dài, đò ngang qua bên kia sông là vùng ven biển Đông. Gần biển, những đêm mùa đông, trong chiếu chăn hãy còn nghe tiếng sóng biển ầm vang.
Nhà xuất bản nổi tiếng của Hoa Kỳ Barnes and Noble vừa phát hành cuốn hồi ký 500 trang của Kiều Chinh. Giới văn chương Mỹ gọi cô là nghệ sĩ lưu vong. Tra cứu trên Internet chúng ta thấy bản văn Anh ngữ nhà Barnes khen ngợi tác giả. Bản văn Việt Ngữ khen ngợi cô Kiều Chinh do nữ đại úy Phan của quân lực Mỹ viết. Cuốn hồi ký đặc biệt này đã ghi bán 30 đồng giấy thường và sách bìa cứng giá 40 đồng. Đại úy Phan là nữ quân nhân trẻ hiếm có đọc được cuốn hồi ký tiếng Việt đã ước mong rằng sẽ có phiên bản Anh Ngữ sớm phát hành.
Khi nói đến âm nhạc, người ta thường liên tưởng đến khái niệm về “tâm hồn” hay “cảm xúc”. Khi nói đến giáo dục lại thường liên kết với “trí tuệ”. Một bên là nghệ thuật, một bên là tri thức. Một bên là những chàng nghệ sĩ, một bên là những nhà mô phạm. Thực ra hai lĩnh vực này có nhiều khi đan lẫn, kết hợp với nhau. Âm nhạc là một ngành học với học vị lên tới tiến sĩ, không thua kém gì học bác sĩ, kỹ sư. Và khoa học đã chứng minh từ lâu rằng học âm nhạc góp phần phát triển khả năng trí tuệ toàn diện cho trẻ em.
Cuốn phim Từ Sài Gòn đến Điện biên Phủ cũng được ra mắt lần đầu tiên tại Hoa Kỳ. Phim do hãng Mỹ Vân hoàn tất tại Việt Nam trước 1975. Chưa từng chiếu được giữ lại trên 50 năm qua sẽ ra mắt đồng bào rất may mắn tại San Jose. Xin mời đến để gặp Kiều Chinh và Sài Gòn sau hơn nửa thế kỷ. Vào 1 giờ chiều thứ bẩy 27 tháng 7-2024 tại hội trường Santa Clara County
Vào chiều Chủ Nhật cuối Tháng Sáu, khoảng hơn 400 khán giả đã ngồi chật khán phòng của Huntington Beach Central Library Theater để cổ vũ cho các tài năng âm nhạc trẻ gốc Việt trong chương trình nhạc Emê Concert 2, chủ đề “I Wish It So”.
Thỉnh thoảng có một ngày vui. Gặp nhau trong thân tình, được bày lộ nỗi lòng, nâng ly rượu giao hòa. Đó là buổi ra mắt tập thơ của Họa sĩ Khánh Trường. Chiều, của một ngày cuối cùng tháng Sáu, 2024. Trời Nam Cali mát dịu. Tôi và Kim đến rất đúng giờ nhưng phòng họp đã đầy chật bằng hữu. Tấm lòng yêu mến Khánh Trường quả là rõ thực. Tay này đa tài trên khắp nẻo, hội họa, văn chương, báo chí, cả ngang tàng một cõi thời trai trẻ. Bỗng đủ thứ bệnh tật đến rần rần như rủ nhau đi xem hội. Trên hai mươi năm nay ung thư thanh quản, hộc máu, tắt tiếng, đột quỵ, ngồi xe lăn, bại thận, mỗi tuần bị lụi kim, kim bự tổ chảng, vào người thay máu hai lần. Nhìn hai cổ/ cánh tay của Khánh Trường, từng đụn da thịt gồ lên thấp xuống, như cái dãy… Trường sơn thu nhỏ.
Nhà thơ Đỗ Quý Toàn nói về Khánh Trường-nhà thơ đã không quên nhắc lại “Khánh Trường là người làm được rất nhiều thứ, không những ông là họa sĩ, nhà thơ, mà ông viết văn rất hay. Tôi rất thích đọc truyện Khánh Trường. Nhưng điều tôi phục nhất là Khánh Trường của Hợp Lưu. Khánh Trường của nguyên tắc làm theo ý mình, trái ý thiên hạ. Người ta cho là anh ta phản kháng hay nổi loạn, nhưng theo tôi, KT chỉ làm cái gì mình cho là đúng, hay, phải làm. Tôi rất khâm phục.”
Ca khúc “Nỗi buồn hoa phượng” là ca khúc thứ hai của nhạc sĩ Thanh Sơn, sau ca khúc “ Tình học sinh” ra đời năm 1962, song bị... chìm lĩm, chẳng một ai chú ý? Năm 1983, trả lời phỏng vấn của chương trình Paris By Night, nhạc sĩ Thanh Sơn kể về sự ra đời của ca khúc “Nỗi buồn hoa phượng”, sau 20 năm ra đời, đã được hàng triệu người kể cả miền Bắc sau này ưa thích. Đó là vào năm 1953, ông học chung lớp với người bạn nữ tên là “Nguyễn Thị Hoa Phượng”, hè năm ấy, người bạn gái cùng gia đình chuyển về Sài Gòn, ông có hỏi cô bạn: “Nếu nhớ nhau mình sẽ làm sao?”, cô bạn mĩm cười trả lời đại ý là “ Cứ mỗi năm đến hè, nhớ đến nhau, anh cứ nhìn hoa phượng nở cho đỡ nhớ bởi tên em là Hoa Phượng...”, và đó cũng là “đề tài” mà ông ấp ủ để 10 năm sau, khi đó cô bạn gái ngày xưa chắc đã... vu qui rồi?
Không thể chối cãi, trong đầm không gì đẹp bằng sen. Đúng hơn nữa, trong đầm không gì thơm hơn sen. Nhưng vì sao sen lại mọc trong đầm bùn? Vì sao sen không mọc sánh vai cùng Cẩm Chướng, Mẫu Đơn, Hồng Nhung, Anh Đào, Thiên Điểu, Oải Hương, Hướng Dương, vân vân trong những vườn quyền quý cao sang, những nơi chưng bày lộng lẫy? Vì sao sen lại chọn ngâm mình trong nước hôi tanh? Vì sao trong tất cả loại sen, tôi lại quý sen hồng, trong khi đa số yêu sen trắng? Sen và bùn là một lý thuyết chính trị cần thiết cho Việt Nam hiện nay. Hoa sen phải mọc từ bùn, trong bùn. Không thể mọc ở những nơi không có bùn. Vì sao hoa sạch thơm phải mọc và sống từ nơi dơ thúi? Rồi sen phải vượt lên khỏi mặt nước mới nở được hoa đẹp, hoa thơm, nhưng vẫn cần có bùn để tồn tại. Một quá trình hiện thực, một ẩn dụ để tư duy.
Bộ phim Face Off 7: One Wish như đem lại một tín hiệu tốt lành rằng trong một xã hội Việt Nam ngày nay đang có quá nhiều điều nhiễu nhương, những nét đẹp truyền thống của văn hóa Việt Nam vẫn còn có chỗ để tồn tại…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.