Hôm nay,  

Khi Hòa Bình Cũng Cần Visa

02/11/202512:27:00(Xem: 1351)

 

Wole_Soyinka_in_2018_(3x4_cropped)
Nhà Văn Soyinka, 2018. Ảnh: Wiki.

 

Một ngày đẹp trời ở Lagos, nhà văn Nobel (1986) Wole Soyinka mở hòm thư và nhận được một lá thư “ngọt ngào” từ Lãnh sự quán Hoa Kỳ. Trong đó ghi rằng: “Xin lỗi, thị thực của ông bị thu hồi. Chúng tôi có thêm thông tin mới.”

Thông tin gì thì họ không nói. Chỉ biết ông Soyinka đột nhiên trở thành… kẻ “không được chào đón.” Ông bật cười, nói với báo chí: “Tôi đâu có phạm tội. Có lẽ vì tôi gọi Trump là Idi Amin mặc đồ trắng chăng?” Vâng, thế giới đã tìm ra định nghĩa mới của “an ninh quốc gia”: đó là bảo vệ Tổng thống khỏi sự thật văn chương.


“Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói,” người Việt vẫn dặn thế. Nhưng ở đây, Soyinka lựa lời quá khéo — đến mức người ta phải tịch thu luôn cả visa.

1. Người từng dạy Harvard bị cấm vào Mỹ

Soyinka không phải gã vô danh tiểu tốt. Ông từng giảng dạy tại Yale, Harvard, Cornell — nơi sinh viên Mỹ trả tiền chỉ để nghe ông nói về Shakespeare và Nigeria trong cùng một câu.

Giờ dây, người từng giúp Mỹ hiểu văn hóa Phi châu, bỗng bị Mỹ hiểu lầm là mối đe dọa an ninh.

Có thể họ sợ ông mang theo… thơ ca vào sân bay.

“The man dies in all who keep silent in the face of tyranny.” — Wole Soyinka (Những ai giữ im lặng khi đối diện với độc tài, sẽ chết dần chết mòn.) Nước Mỹ vốn sợ nhiều thứ: khủng bố, di dân, TikTok, và nay là — ẩn dụ.

Có người nói: “Thôi, nhường một bước,  ông nên xin lại visa.” Soyinka đáp: “Không cần. Tôi còn visa trong tâm trí nhân loại.” Đó là cách nhà thơ trả lời một chính phủ bằng cú châm triết học.

Người Việt ta có câu: “Cười người hôm trước, hôm sau người cười.” Ai biết được, có khi mai này chính nước Mỹ lại phải mời ông quay lại, giảng cho họ nghe thế nào là lòng tự trọng.

2. Khi Trump muốn làm “Nhân vật hòa bình trong thế kỷ.”

Trong khi đó, ở bên kia Đại Tây Dương, Donald Trump — người chưa từng ngồi thiền quá năm phút — đang mơ về giải Nobel Hòa bình.

Ông nói với báo chí: “Tôi đã chấm dứt nhiều cuộc chiến hơn bất kỳ ai. Tôi xứng đáng với Nobel.”

Dĩ nhiên, người ta cũng từng nói vậy về Alexander Đại Đế — sau khi ông “chấm dứt” mọi cuộc chiến bằng cách chiếm trọn bản đồ. Hòa bình theo Trump là thế này: khi kẻ khác im lặng, còn mình vẫn nói.

Một dạng “hòa bình đơn phương”: không tiếng súng, chỉ tiếng Trump.

Nghe ông nói, người ta nhớ câu “Nói thì hay, làm thì dở.” Hòa bình của ông nghe hơi giống… khẩu hiệu giảm giá mùa Noel: ồn ào, rực rỡ, nhưng chẳng ai tin.

3. Hòa bình không phải là im lặng — mà là nghe nhau nói.

Nếu Wole Soyinka còn được vào Mỹ, có lẽ ông sẽ nói với Trump: “Hòa bình không chỉ là ngừng chiến tranh. Là ngừng hét vào mặt người khác.”

Trong lịch sử nhân loại, chưa có cuộc chiến nào bắt đầu chỉ vì thiếu đạn — mà vì thiếu lắng nghe.

Từ Gaza đến Minneapolis, từ Ukraine đến Texas, người ta vẫn đánh nhau, nhưng lý do thật sự luôn là “ta không chấp nhận người khác khác mình.”

“Một điều nhịn, chín điều lành” — nhưng có vẻ nhân loại quên mất phần “nhịn”. Và đó là lý do hòa bình không thể có nếu người da trắng vẫn nhìn người da màu như “một trang ngoại truyện trong cuốn sử của mình.” Trump muốn giải Nobel? Xin thách thức. Nhưng có lẽ nên bắt đầu bằng cách trao giải thưởng nhỏ cho người nào ngừng ghét người khác trước.

4. Khi da trắng và da đen vẫn đánh nhau bằng ánh mắt.

Ở Mỹ, chiến tranh chủng tộc không có xe tăng. Nó có ánh mắt. Một ánh nhìn kéo dài hơn cả cuộc chiến Iraq.
Người da trắng hỏi: “Tại sao người da đen lại giận dữ?”

Người da đen đáp: “Tại sao anh không thấy tôi?”

Cứ thế, họ nhìn nhau như hai diễn viên trong vở kịch không hồi kết: “Ai là người thật sự tự do?”

“A tiger doesn’t proclaim his tigritude. He pounces.”
— Wole Soyinka (Một con hổ không cần phải tuyên bố mình là hổ. Nó chỉ cần vồ mồi.)


Soyinka từng viết: “Một quốc gia có thể giàu, nhưng nếu tâm trí nó nghèo, nó vẫn là thuộc địa.”

Câu ấy, nếu ai đọc ở Washington, có thể sẽ khiến máy in visa tự động ngừng hoạt động. Người Việt có câu: “Thương người như thể thương thân.”
Nhưng để thương thân, trước hết phải biết mình cũng từng là người — điều mà không phải chính quyền nào cũng hiểu.

5. Khi hòa bình cũng phải qua cửa khẩu

Câu chuyện Wole Soyinka bị thu hồi visa nghe như chuyện cười, nhưng cười xong mới thấy nhói.



Nước Mỹ từng mời ông giảng dạy, trao giải, vinh danh ông là biểu tượng trí tuệ toàn cầu. Giờ lại nói: “Xin lỗi, ông không đủ điều kiện vào nước chúng tôi.”
Điều kiện gì? Có lẽ điều kiện là đừng châm biếm Tổng thống trắng tóc vàng.

Ở một góc độ khác, vụ này cũng cho thấy hòa bình là hàng hóa dễ vỡ. Nó cần “visa” để đi qua biên giới của quyền lực. Muốn nói về nhân quyền ư? Cần thị thực. Muốn phê phán nhà cầm quyền? Cần giấy phép. Muốn yêu thương đồng loại? Cần quốc tịch phù hợp.

“Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa” — hóa ra, trong thế giới toàn cầu hóa, câu này vẫn đúng, chỉ khác là thay “vua” bằng “da trắng.”

6. Khi Nobel cũng thành cuộc thi sắc đẹp

Nobel Peace Prize vốn dĩ là một thứ... giải Oscar của đạo đức. Mỗi năm, ai cũng đăng ký ứng cử mà chẳng cần đóng phim. Người thì “đã chấm dứt chiến tranh”, người thì “đã giúp hòa giải tôn giáo”, còn Trump thì “đã đăng nhiều tweet kêu gọi hòa bình (và ủng hộ chính mình).”

“Peace is not the absence of war, it is the presence of justice.” — Wole Soyinka (Hòa bình không phải là sự vắng mặt của chiến tranh, mà là sự hiện diện của công lý.)

Trong giấc mơ của Trump, có lẽ buổi lễ trao Nobel sẽ diễn ra như sau:

Người dẫn chương trình hô: “And the Nobel Peace Prize goes to… Donald J. Trump — for ending the war between him and the media!”  (Và giải Nobel Hòa bình thuộc về… Donald J. Trump – vì đã chấm dứt cuộc chiến giữa ông và giới truyền thông!)

Khán phòng vỗ tay — một nửa thật, một nửa vì sợ bị tweet chửi. Người Việt ta lại bảo: “Trâu buộc ghét trâu ăn.Có lẽ Nobel cũng vậy — người thật làm thì ít nói, còn kẻ không làm lại tranh giải thưởng.

7. Câu chuyện hai người đàn ông và hai định nghĩa hòa bình

Cùng là người đàn ông tóc bạc, nhưng Wole Soyinka chọn viết, còn Donald Trump chọn phát biểu. Soyinka dùng ngôn ngữ để tháo ngòi nổ trong đầu người khác. Trump dùng ngôn ngữ để bật diêm trong lòng chính mình.

Soyinka từng nói: “Nhà văn là người chứng kiến im lặng.”

Trump có thể nói: “Tổng thống là người khiến im lặng phải vỗ tay.”

Thế giới cần cả hai — nhưng cần họ ở đúng chỗ. Một người trong thư viện, một người trên Twitter.

Vấn đề là khi Twitter trở thành thư viện, và thư viện bị chặn bởi visa.

8. Khi da người vẫn là giấy thông hành

Nói gì thì nói, màu da vẫn là loại “giấy tờ” đầu tiên mà nhân loại cấp cho nhau. Nó quyết định bạn được vào đâu, bị nhìn thế nào, bị xét đoán ra sao.
Wole Soyinka từng nói: “Da tôi đen, nhưng trí óc tôi không có màu.” Thế mà biên giới thế giới lại chỉ hiểu được màu trắng. Có người bảo: “Đó là lỗi hệ thống.”

Nhưng hệ thống nào lại sợ một ông già bảy mươi mấy tuổi với cây bút và mái tóc bạc như sợi chỉ khói?

Chắc vì bút của ông viết đau hơn đạn bắn.

“Giấy rách phải giữ lấy lề” — ông giữ đạo làm người, còn người khác thì giữ… sổ đen nhập cảnh.

9. Hòa bình thật sự bắt đầu từ… một cú bắt tay

Hòa bình không đến từ giải thưởng, mà từ cử chỉ.

Từ việc người da trắng dám bắt tay người da đen mà không nghĩ về màu da của bàn tay kia.

Từ việc người quyền lực dám nghe người bị tước quyền nói mà không bịt tai.

Nếu Trump thật sự muốn Nobel, hãy thử làm một điều nhỏ: Hãy đến gặp Wole Soyinka, không phải để xin lỗi, mà để nghe ông kể một câu chuyện.
Chỉ cần ngồi nghe, không cần tweet.

Đó đã là một hành động mang tính “hòa bình” lớn nhất mà nhân loại cần trong thế kỷ XXI.

10. Kết

Một quốc gia không sợ bom nguyên tử, nhưng sợ nhà văn — nghĩa là quốc gia ấy đã quá yên ổn để tự quên mình. Một tổng thống muốn Nobel nhưng chưa thắng nổi cơn giận trong tim dân mình — nghĩa là hòa bình vẫn đang… kẹt ở cửa hải quan.

Wole Soyinka mất visa, nhưng ông không mất tiếng nói. Trump có thể xây tường, nhưng không thể chặn ngôn ngữ. Và khi thơ ca vẫn còn chỗ đứng, hòa bình — dù không có tem thị thực — vẫn sẽ tìm đường bay qua mọi biên giới. Người Việt nói: “Còn nước còn tát.” Hòa bình còn người như Soyinka, vẫn còn hy vọng.

“Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.”
— Nguyễn Du, Truyện Kiều

Thế giới này thật lạ: người ta cấp visa cho chiến tranh nhanh hơn cho hòa bình. Nhưng cũng may, hòa bình không cần hộ chiếu — nó chỉ cần trái tim còn chỗ trống để cười.

Ngu Yên

 

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
02/12/202517:08:46
Khách
Hay lắm. Phải thế, khi nhà thơ xạ trị về chính trị.
04/11/202520:39:17
Khách
Tôi rất thích lối viết văn của Ngu Yên. Rất có kiến thức, hiểu rộng, biết nhiều. Và lời văn của Ngu Yên có thoang thoảng sự châm biếm rất hay.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bùi Giáng sinh năm 1926 tại Quảng Nam, mất ngày 7/10/ 1998 tại bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn. Bùi Giáng là nhà nghiên cứu, khảo luận, dịch thuật và làm thơ. Ông thông thạo nhiều ngoại ngữ Anh, Pháp, Đức…, nghiên cứu những tư tưởng triết học của Jean Paul Sartre, Heidegger, Nietche, Albert Camus…, dịch nhiều tác phẩm nổi tiếng của các nhà văn trên thế giới Henry Miller, Simone de Beauvoire, St Exupéry, Sagan, khảo luận những tư tưởng triết học Đông Tây Kim Cổ… Ông xuất bản nhiều tác phẩm dịch thuật, nghiên cứu, phê bình, nổi tiếng các tập thơ Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột…
Lũ con cháu chúng tôi sang thăm cô Nhã chú Từ ở thành phố Malmo, miền Nam Thụy Điển, vào khoảng giữa tháng 10 2024. Có chúng tôi về, cô chú vui lắm và thường cùng chúng tôi ra ngoài dạo phố, ngắm cảnh, ăn uống. Trong một buổi chiều đi uống cà phê, chúng tôi chụp được tấm hình cô chú nắm tay nhau đi dạo trong một công viên thanh bình, khi trời đất vào thu, dưới ánh nắng nghiêng nghiêng của buổi hoàng hôn cuối ngày. Chúng tôi đặt tên tấm hình đó là “Vẫn nắng vàng dù buổi chiều của đời”, là câu đầu tiên trong bài hát Vầng Trăng Xưa, chú Từ sáng tác trong trại giam Hàm Tân vào năm 1985.
Bước vào phòng triển lãm, ba bức tranh đầu tiên bên tay phải đập vào mắt người thưởng ngoạn là ba tác phẩm của họa sĩ Ann Phong: “I Told You, The Earth Is Warming Up”; “Looking Back, Looking Forward”; “If We Don’t Care For Nature, It Will Disappear.” Chọn ba tác phẩm này cho cuộc triển lãm, họa sĩ giải thích: “Các tác phẩm nghệ thuật của tôi phản ánh mối quan hệ giữa người với người; trách nhiệm mà chúng ta phải có đối với trái đất nơi chúng ta đang sống. Thật đau lòng khi chứng kiến ​​thiên nhiên bị tàn phá bởi lòng tham và sự thiếu hiểu biết của con người. Có vẻ như khi chúng ta càng làm cho cuộc sống của mình trở nên tiện nghi, thì chúng ta càng tạo ra nhiều ô nhiễm hơn; càng làm cạn kiệt tài nguyên của trái đất một cách bất cẩn hơn…”
Nhóm Tuệ Đăng là gì có lẽ đến lúc này không còn xa lạ với cộng đồng người Việt hải ngoại và ngay cả trong nước nữa nhờ thời đại tin học và Youtube lan tỏa nhanh chóng. Nhóm lúc đầu là những thanh thiếu niên Phật tử yêu thích hát nhạc Phật và nhạc quê hương
Nếu "Lữ Hành" là cuộc hành trình thơ thới và bất tận của loài người và được ông sáng tác tại Sàigòn vào năm 1953 đầy hy vọng thì "Dạ Hành" là lúc con người đi trong đêm tối. Mà bóng tối ở đây không là một khái niệm về thời gian khi thiếu ánh mặt trời. Bóng tối là chông gai hiểm hóc của phận người và ca khúc cũng được viết tại Sàigòn nhưng mà là Sàigòn khói lửa của chiến chinh tham tàn năm 1970. Rồi Phạm Duy mới nói về cuộc đi bình thường là bài "Xuân Hành", sáng tác năm 1959, ở giữa hai bài hành kia. Hành trình bình thường và muôn thuở như câu hỏi đầy vẻ triết học là "người là ai, từ đâu tới và sẽ đi về đâu ".... Ngươi từ lòng người đi ra rồi sẽ trở về lòng người. Người vừa là thần thánh, vừa là ma quỷ, biết thương yêu dai mà cũng biết hận thù dài…. Nhất là biết vui buồn giữa hai nhịp đập của con tim, ngay cả khi tim ngừng đập.
Buổi ra mắt sách "Mai Áo Dài" không tổ chức ở khu hội chợ Tết ở Phước Lộc Thọ. Không pháo, không múa lân, không thức ăn, nhưng vẫn thu hút hàng trăm người đến dự...
Thời gian là thực phẩm dài hạn cho người sống. Không thể từ chối. Hoặc chúng ta hưởng thụ nó. Hoặc chúng ta chịu đựng nó. Món ăn này đôi lúc sung sướng để nhai. Đôi lúc mệt mỏi, phiền hà để gặm. Đôi lúc nuốt xuống mắc nghẹn. Đôi lúc nuốt không kịp thở. Đã làm người thì nhất định phải biết sử dụng thời gian. Nếu ai không biết, thì thời gian sẽ sử dụng người đó.
Nghe danh nhà văn Khánh Trường đã lâu, biết ông là họa sĩ, điều đầu tiên tôi đi tìm là cái nhìn của người họa sĩ trong tập Truyện ngắn Khánh Trường I. Ông có những đoạn văn tả cảnh đầy màu sắc. “Bầu trời ửng sáng. Nắng rải xuống mặt đất màu vàng dịu. Nắng làm cho màu đỏ tấm pano quảng cáo trên mặt tường ngôi nhà bên kia đường hực lên rực rỡ, khiến thân thể trần truồng một trăm phần trăm của thiếu nữ nằm tênh hênh suốt chiều ngang tấm pano trở nên mời mọc quyến rũ hơn.”
Một tác phẩm Nghệ thuật Khái niệm gồm một quả chuối đơn giản, được dán bằng băng keo lên tường, đã được bán với giá 6,2 triệu đô-la tại một cuộc đấu giá ở New York vào thứ Tư, 20 tháng 11 năm 2024. Sự kiện này đã gây xôn xao không ít chẳng những trong thế giới nghệ thuật mà cả dư luận công chúng bên ngoài. Tác phẩm với nhan đề Comedian/ Diễn viên hài, của nghệ sĩ người Ý Maurizio Cattelan, đã trở thành một hiện tượng khi ra mắt vào năm 2019 tại Art Basel Miami Beach. Những người tham dự lễ hội nghệ thuật này cố gắng tìm hiểu xem liệu một quả chuối màu vàng đã chín có những đốm đen được dán trên bức tường trắng bằng băng keo bạc loại dán thùng gửi hàng là một trò đùa hay là lời bình luận đầy thách thức láo xược về các tiêu chuẩn đáng ngờ trong giới sưu tập nghệ thuật. Có lúc, một nghệ sĩ khác đã lấy quả chuối ra khỏi bức tường và điềm nhiên bóc vỏ ra ăn. Tác phẩm này thu hút quá nhiều sự chú ý đến mức ban tổ chức phải lấy nó xuống cất đi.
Ngày Lễ Tạ Ơn ở Mỹ (Thanksgiving Day, ngày Thứ Năm trong tuần lễ thứ tư của tháng 11 hàng năm) được cho là khởi đầu vào năm 1621 khi những người di cư đầu tiên từ Anh Quốc đến Bắc Mỹ tạ ơn và ăn mừng với người Mỹ Da Đỏ bản xứ về một vụ mùa màng được thu hoạch khấm khá. Đây cũng là dịp để chúng ta nghĩ đến và đền đáp phần nào những ơn nghĩa mà mình đã nhận được trong cuộc đời này. Trong bài thơ “Ta Về” của nhà thơ Tô Thùy Yên viết khi ra tù cộng sản sau cuộc đổi đời vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, có câu thơ mà tôi rất thích: “Cảm ơn hoa đã vì ta nở.” Hoa nở rồi hoa tàn là chuyện rất bình thường theo luật tắc sinh trụ hoại diệt của vạn vật, như nhà Phật đã nói. Hoa có biết nó nở vì ai không? Làm sao chúng ta biết được hoa nở là vì chúng ta? Nhưng nếu không có hoa nở thì làm sao nhà thơ họ Tô kia có thể chiêm ngưỡng được vẻ đẹp mỹ miều của thiên nhiên! Vì vậy mà khi nhìn đóa hoa nở nhà thơ Tô Thùy Yên đã nói lời cảm ơn vì cảm nhận rằng hoa đã vì ông nở.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.