Hôm nay,  

Mùa Vu Lan Nhớ Bà Mẹ Quê Qua Điệu Hát Văn Miền Bắc

29/08/202500:00:00(Xem: 1764)
 
nhớ mẹ ta xưa
Ảnh: Nhóm Cổ Nhạc Đông Kinh trình diễn Nhớ Mẹ Ta Xưa được lồng điệu bởi Đàm Quang Minh
Mùa Vu Lan lại về, là mùa báo hiếu, nhớ về mẹ. Người Việt ở Miền Nam trước 1975 và sau này ở hải ngoại thường hát những ca khúc tiêu biểu về mẹ như Bông Hồng Cái Áo (Phạm Thế Mỹ), Mẹ Tôi (Nhị Hà), Lòng Mẹ (Y Vân)… Đặc biệt nhất vẫn là Bông Hồng Cài Áo, vẫn còn được nhiều Phật Tử hát ở chùa bên Mỹ trong những ngày lễ Vu Lan. Nhiều người nghe, người hát không cầm được mắt vì những câu hát:

Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho anh
Và một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi
Như đóa hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười
ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm…
 
Những ca khúc về Vu Lan kể trên đều viết theo phong cách hòa âm Tây Phương. Có người nghĩ rằng những ca khúc về mẹ Việt Nam với những làn điệu dân ca hẳn sẽ còn chạm vào trái tim của khán giả Việt hơn nữa. Ở Việt Nam hiện nay có một bài hát về mẹ được nhiều người yêu thích, viết với điệu hát Văn của Miền Bắc: Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa. Phiên bản đầu tiên ra đời cách đây đã hơn 20 năm; ngày càng có nhiều nghệ sĩ trình diễn với các biến tấu khác nhau. Nhớ Mẹ Ta Xưa hiện được xem là bài hát Văn về mẹ hay nhất.
 
Chị Nguyễn Thủy Tiên là một nhà nghiên cứu dân ca ở Hà Nội. Chị đi khắp ba miền, đến những vùng quê xa xôi, gặp những nghệ nhân cao tuổi, sưu tập lại những làn điệu dân ca đang dần mai một. Chị đã giải thích khá tường tận về nguồn gốc của bài hát Văn chủ đề mẹ độc đáo này.
 
Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa là một bài thơ của Nguyễn Duy, thi sĩ nổi tiếng với những vần điệu lục bát. Bài thơ được viết ở Sài Gòn vào năm 1986:
 
Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
chân nhang lấm láp tro tàn
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào
 
Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa
Cái cò... sung chát đào chua...
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
Bao giờ cho tới mùa thu
trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao
Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm...
bờ ao đom đóm chập chờn
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi
 
Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ... mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng
 
Nhìn về quê mẹ xa xăm
lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm xưa
ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương...
 
Thơ lục bát của Nguyễn Duy đậm chất ca dao khiến nhiều người tưởng bài thơ được ghép từ những câu ca dao truyền khẩu. Những ai từng đi thăm Miền Bắc, từng gặp những bà mẹ răng đen áo nâu sòng, quấn khăn mỏ quạ sẽ nhận thấy lời thơ là những bức tranh tả chân sống động về một làng quê mộc mạc, thanh bình. Những bà mẹ quê tần tảo nuôi con, thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng vẫn được trân trọng trong nền văn hóa Việt. Nhiều người xa quê hương mỗi khi nghe những câu ca dao, làn điệu dân ca, điệu hát ru là phải rơi lệ. Bởi vì những lời ru, câu hát đó đã được những bà mẹ đặt sâu vào tiềm thức của dân tộc Việt trải qua bao thế hệ.
 
Khi nói đến dân ca Miền Bắc, đa số người Việt sẽ liên tưởng ngay đến Quan Họ Bắc Ninh. Giai điệu da diết, trữ tình của Bèo Dạt Mây Trôi đã trở thành bất tử, theo người Việt xa xứ đi khắp nẻo phương trời. Thật ra, là cái nôi văn hóa dân tộc Việt Nam, Miền Bắc có nhiều điệu hát dân gian khác nữa, đa dạng, nhiều màu sắc. Bài hát Nhớ Mẹ Ta Xưa viết theo thể hát Văn, có nguồn gốc từ phong tục thờ Mẫu của người Việt. Giống như Quan Họ, hát Văn cũng có nhiều làn điệu khác nhau: nhóm Dọc (có Dọc Nam, Dọc Bắc), nhóm Cờn (Cờn Nam, Cờn Bắc...), nhóm Xá. Hát Văn cũng sử dụng nhiều làn điệu từ các loại hình khác như Ca Trù, Xẩm, Chèo... Mỗi nhóm có giai điệu, tiết tấu khác nhau; nghệ nhân tùy theo cảm hứng mà đưa vào bài hát.
 
Trong tân nhạc, khi nhạc sĩ lấy lời thơ để viết nhạc thì gọi là “phổ thơ.”  Khi lấy một bài thơ làm lời cho hát Văn thì gọi là “lồng điệu”. Hiện nay, phiên bản Nhớ Mẹ Ta Xưa phổ biến nhất, được nhiều nghệ sĩ trình diễn nhất là do Khắc Tư, một nghệ sĩ hát chèo lồng điệu. Nếu tìm trên youtube sẽ thấy bài hát này do nhiều nghệ sĩ có tiếng như Tân Nhàn, Đình Cương, Xuân Hinh… trình diễn. Vào năm 1998, anh Khắc Tư cùng đoàn chèo đi biểu diễn ở Nga, đã lồng các điệu hát Văn cho bài thơ này. Những năm trước khi Việt Nam mở cửa, các hoạt động tín ngưỡng như thờ Mẫu bị coi là mê tín dị đoan; hát Văn thời kỳ này bị cấm. Sau năm 1995, khi chính quyền chịu đổi mới, các hoạt động tín ngưỡng dần khôi phục, hát Văn bắt đầu thịnh hành hơn. Anh Khắc Tư là một người hát Chèo chuyên nghiệp, nhưng vẫn đi hát Văn thêm để đủ sống. 
 
Là một ca sĩ, anh Khắc Tư lồng điệu cho bài Nhớ Mẹ Ta Xưa theo bản năng và cảm tính cá nhân. Trong bài này, anh chỉ sử dụng điệu Cờn, điệu Ru, cho nên khá dễ hát. Chính anh Khắc Tư trình diễn bài này thật cảm động, chân tình:
 
Bài hát được mở đầu với phần ngâm thơ. Người nghe bồi hồi, hình dung cảnh người con đứng trước bàn thờ hương khói, tưởng nhớ về người mẹ hiền đã khuất bóng:
Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
chân nhang lấm láp tro tàn
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào…
Rồi làn điệu Văn cất lên, lúc trầm lúc bổng, gợi nhớ lại những kỷ niệm xưa với bà mẹ quê chất phát, tảo tần. Chị Thủy Tiên nói rằng nhà thơ Nguyễn Duy mồ côi mẹ từ năm 4 tuổi. Do còn quá bé, nên khi làm bài thơ này, ông nhớ về mẹ từ những hình ảnh chung của bà mẹ ở miền Bắc Việt Nam:
…Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa…
Tuy nhiên, cũng có những hình ảnh chung của bà mẹ quê ba miền. Đó là những điệu ru nay đã trở thành ngôn ngữ chung của dân tộc Việt:
Cái cò... sung chát đào chua...
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru…
Rồi bài hát được kết thúc với điệu ru Miền Bắc, nghe sao mà thương nhớ quê hương lạ lùng:
…Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ... mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng…
 
Những bài hát Văn thường được đệm bằng đàn Nguyệt, cây đàn gảy hai dây với âm thanh đặc trưng của dân ca Miền Bắc. Một đặc điểm nữa của hát Văn là cũng với một bài hát, người trình diễn có thể ngân nga, nhấn nhả, luyến láy theo cách biểu cảm của cá nhân. Tính ngẫu hứng trong hát Văn là vậy, khá giống với nhạc Jazz của Mỹ.
 
Bài Nhớ Mẹ Ta Xưa của Khắc Tư mộc mạc, dễ thấm vào lòng người, cho nên phổ biến khá rộng rãi. Những ai thích hát Văn đúng truyền thống hơn có thể tìm nghe phiên bản được nghệ sĩ Đàm Quang Minh lồng điệu vào năm 2019. Anh Minh là một Việt Kiều Pháp. Nghe kể rằng thuở bé anh từng được bố cho đi nghe Ca Trù, Chèo, Tuồng... cho nên mê dân ca từ nhỏ. Khi về nước anh lập ra nhóm Cổ Nhạc Đông Kinh, mời những nghệ sĩ hàng đầu ở Hà Nội diễn lại những trích đoạn Chèo, hát Văn... Trong trích đoạn video dưới đây, bản Nhớ Mẹ Ta Xưa được trình diễn trong một chương trình nhạc dân tộc tại Trường Đại Học Văn Lang Sài Gòn. Người quay video là anh Phương, chồng của chị Thủy Tiên, cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền:
 
Anh Đàm Quang Minh lồng điệu Văn theo lề lối của một bản văn thờ, như một bài mà Nguyễn Duy viết để "thờ" mẹ. Khi lồng điệu theo lối văn thờ sẽ có: 
- Mở đầu là phần Thỉnh, là phần hát ru. Thông thường hát ru chỉ là một người, nhưng trong trường hợp này là ru đồng ca. 
- Phần Kể Thần Tích: Dùng điệu Dọc Nam
- Phần Cảm Thần Tích: Dùng điệu Cờn (giống với làn điệu của anh Khắc Tư)
- Phần Nhập Thần Tích là sự thăng hoa, sử dụng điệu Xá
- Phần kết trong bài vẫn sử dụng điệu Xá sôi động, vui tươi để làm nền cho nghi thức phát lộc. 
 
Phiên bản này phong phú về làn điệu, công phu hơn, nhưng cũng vì thế mà không có bố cục như một bản dân ca thông thường, cho nên để thưởng thức cần sự quen thuộc với những giai điệu dân gian Miền Bắc.
 
Dù nghe phiên bản nào đi chăng nữa, tưởng nhớ mẹ Việt Nam qua một làn điệu dân ca cũng làm cho mùa Vu Lan báo hiếu năm nay đậm đà thêm hương vị quê nhà xa xăm.
 
Doãn Hưng 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân kỷ niệm 50 năm kết thúc cuộc chiến ở Việt Nam, cũng là 50 năm xây dựng cộng đồng người Việt hải ngoại, Khoa Lịch sử trường Đại học California, Irvine tổ chức một chuỗi sự kiện trong 3-ngày: từ ngày 7 tới ngày 9 tháng Năm năm 2025.
Thương nhớ. Cảm động. Ngậm Ngùi. Và ước mơ một ngày quê nhà sẽ có dân chủ, khi đó Sài Gòn sẽ được hồi phục tên cũ. Đêm nhạc Trần Chí Phúc với chủ đề Sài Gòn Một Thoáng 50 Năm vào chiều Thứ Bảy 19/4/2025 đã chạm rất ngọt ngào và cay đắng vào trái tim của những người con Sài Gòn.
“Năm nay mang một ý nghĩa đặc biệt sâu sắc, là cột mốc 50 năm kể từ ngày những người tị nạn Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ. Nửa thế kỷ kiên cường, dựng xây và tái định nghĩa thế nào là người Mỹ gốc Việt. Trong suốt hành trình đó, nghệ thuật kể chuyện đã đóng một vai trò thiết yếu—lưu giữ lịch sử, mở rộng tương lai, và thắt chặt cộng đồng. Chính vì thế, chúng tôi vô cùng tự hào được mang đến cho quý vị VietBook Fest năm nay—không chỉ một lễ hội sách, mà một không gian để kết nối, đối thoại và tôn vinh Bản Sắc Người Việt 50 Năm.”
Ngày Thứ Bảy 29 tháng 3 năm 2025 tại Citadel Art Gallery, một buổi Ra Mắt Thơ kèm thêm Triển Lãm đã được tổ chức rầm rộ và được sự hưởng ứng nồng nhiệt của khách thưởng ngoạn. Buổi hội ngộ văn học, nghệ thuật hy hữu này có sự góp mặt của nhiều tác giả với nhiều hình thái nghệ thuật như hội hoạ, điêu khắc, nhiếp ảnh, văn, thơ, sách, và âm nhạc. Gần 200 quan khách hiện diện đã làm bầu không khí nghệ thuật bừng sáng.
Sự ra đi lặng lẽ của họa sĩ Nguyễn Đồng là một một dư vang trầm mặc trong ký ức nghệ thuật Miền Nam – một miền nghệ thuật từng sống động, tự do, nơi mà hội họa được đặt ngang hàng với văn học, triết học, và cả chính trị. Ông không những là một trong những họa sĩ tiêu biểu của thời Đệ Nhị Cộng Hòa, mà còn là nhân chứng của một nền văn hóa từng rực rỡ trước khi bị chôn vùi dưới lớp bụi chiến tranh và chính trị hóa nghệ thuật.
Buổi ra mắt tuyển tập "Nguyễn Thị Khánh Minh, Bằng hữu & Văn chương – Tạp chí Ngôn Ngữ ấn bản đặc biệt" cho thấy sự đóng góp, quý trọng của nhiều nhà văn, nhà thơ đối với nhà thơ nữ này. Độ dày sách này là 544 trang, dày gấp nhiều lần các thi tập trước kia của nhà thơ nữ này. Nơi đây cũng lưu giữ những ký họa, tranh bìa, thủ bút, thơ tặng, bình luận từ hơn 40 văn nghệ sĩ cho Nguyễn Thị Khánh Minh, trong đó có các tên tuổi lớn như Thầy Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, Đinh Cường, Đinh Trường Chinh, Trịnh Cung, Trương Đình Uyên, Lê Thánh Thư, Đỗ Hồng Ngọc, và nhiều người khác.
Họa sĩ Hồ Thành Đức sinh năm 1940 tại Đà Nẵng, Quảng Nam. Ông tốt nghiệp Cao Đẳng Quốc Gia Mỹ Thuật Sài Gòn, sáng lập viên của Hội Họa sĩ Trẻ Việt Nam (1968-1975), Giáo sư hội họa Viện Đại Học Vạn Hạnh (1969-1975), Khoa trưởng ngành Họa Thực Tiễn tại Đại Học Phương Nam (1974-1975). Ông đã có rất nhiều cuộc triển lãm trong và ngoài nước. Tranh của ông cũng có mặt tại nhiều viện bảo tàng danh tiếng trên thế giới trong đó phải kể đến Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Smithsonian tại thủ đô Washington. Tranh của ông được đánh giá cao bởi nhiều cây bút phê bình hội họa trong và ngoài nước..
“Để có thể nối kết đồng cảm ý nghĩa và tình tự của một ca khúc với người nghe, người hát cần hiểu ca từ sâu sắc và rung động với tâm tình trong lời và nhạc.”
Một lần tôi bất chợt nghe Khánh Ly hát: Ta không thấy em từ bấy lâu nay, mùa mưa làm rừng đước dâng đầy/trên cao gió hát mây như tóc/tràm đứng như em một dáng gầy. Mỗi con lạch là mỗi xót xa, mỗi giòng sông là mỗi tuổi già, thành phố đâu đây khuất hình khuất dạng, cuộc chiến già nua theo mỗi tiếng ca…. (Thơ U Minh- Nguyễn Tiến Cung, Phạm Duy phổ nhạc.) Tiếnh hát của chị rời rạc, kể lể. Bài hát không có tiếng súng tiếng bom nào cả, nhưng qua cái giọng nhừa nhựa chẫm rãi của chị ta thấy như những trang sách viết về chiến tranh đang lật từng tờ và người lính đó đang bì bõm trong rừng đước U Minh. Anh không bao giờ còn gặp lại người yêu nữa. Anh tử trận hay người yêu đã bỏ đi xa? Kết thúc nào cũng buồn cả. Tôi nghe đi nghe lại nhiều lần đoạn hát giản dị này và lúc nào nghe cũng ứa nước mắt.
Lần đầu tiên tôi có cơ hội được một mình ngồi trò chuyện với cô Khánh Ly là một ngày của Tháng 3 cách đây tròn 15 năm – khi được sếp phân công phỏng vấn viết bài về sự có mặt của cô trong một đêm nhạc mang tên “Du Mục” của nhóm The Friends. Tôi vẫn nhớ như in lần đầu gặp gỡ đó – giữa Khánh Ly – người được xem như một trong những huyền thoại của làng âm nhạc Việt Nam, và tôi – một phóng viên mới bước vào nghiệp cầm bút chưa đầy 2 năm. Nơi cô hẹn tôi là quán phở Nguyễn Huệ của chú Cảnh ‘Vịt’ (chú Cảnh đã bỏ trần gian đi rong chơi ở chốn xa lắc xa lơ nào cũng đã vài năm). Hôm đó, chồng cô, nhà báo Nguyễn Hoàng Đoan, chở cô tới. Trong hơn một tiếng đồng hồ, tôi đã hỏi cô nhiều câu – phần lớn chả ăn nhập gì đến chương trình cô sắp tham gia – mà chỉ là những câu hỏi tôi tò mò muốn biết về Khánh Ly – một người được bao người ngưỡng mộ, bao người mơ ước được gặp mặt – lại đang ngồi đối diện tôi, cùng tôi uống cà phê trong quán phở, và làm tôi bị say thuốc lá


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.