Hôm nay,  

Chào mừng Xuân Giáp Thìn

09/02/202400:00:00(Xem: 2634)

Rồng-by-Ian-Nguyễn
Hình: Rồng do Ian Nguyễn thiết kế sử dụng AI

Con rồng không phải là con vật có thực trong giới sinh vật mà chỉ là thần linh hư cấu, hình ảnh con rồng được tạo dựng bởi sự tổng hợp đặc trưng loài động vật theo óc tưởng tượng của con người, nên hình ảnh con rồng thay đổi ở mỗi bản vẽ và phức tạp:
   
Rồng giống hươu, đầu rồng có lúc giống lạc đà. Mắt rồng giống quỷ. Cổ rồng giống cổ rắn. Bụng rồng giống bụng con tằm. Vẩy rồng giống cá, vuốt rồng giống vuốt chim. Chân rồng giống chân hổ, có người lại cho là chân rồng giống chân rùa. Tai rồng giống tai trâu bò. Con rồng giống tất cả mọi chi tiết của nhiều loại động vật khác nhau, do đó, người ta quý trọng con rồng.
   
Có thuyết nhân chủng học cho rằng từ đời thượng cổ, người nguyên thủy yêu quý và sùng bái động vật và thực vật và dần dần coi những động vật và thực vật yêu mến đó là tổ tiên của mình, vì họ sống với chúng nhiều hơn nay. Mỗi thị tộc có vật tổ riêng của dòng giống mình, khi các thị tộc đánh nhau, thôn tính nhau, đồng hóa nhau thì có vật tổ hòa hợp. Vật tổ rồng là kết quả sự thôn tính và đồng hóa vật tổ “rắn“ với các vật tổ khác. (Theo giáo sư Phan Khoang diễn giải).
   
Theo tài liệu từ sách “Sơn Hải Kinh”, một pho sách cổ của người Trung Hoa viết ra cách nay 2500 năm, thì rồng là vật tổ của người Trung Hoa, ngày xa xưa đó, gọi là dân tộc Khương. Họ sống ở các tỉnh Cam Túc, Thanh Hải, Tứ Xuyên, họ sùng bái rồng vì nó rất đẹp và oai. Lâu ngày, các dân tộc ấy di cư đến vùng Trung Nguyên và chiến tranh với người Hạ. Từ đó rồng cũng trở thành vật tổ của người Hạ, rồi thành vật tổ của người Hung Nô và cả người Bách Việt, trong đó có dòng Lạc Việt, ở phương Nam, cũng coi rồng là vật tổ, là tổ tiên mình. Họ tự nhận là con cháu dòng dõi của rồng.
   
Theo sử liệu của cụ Trần Trọng Kim, thì vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra một người con trai thứ là Lộc Tục. Sau vua Đế Minh truyền ngôi cho con trai trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc (bên Trung Hoa) và cho Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục làm vua xưng là Kinh Dương Vương, Quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ khoảng gần 3000 năm trước tây lịch. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ, sanh ra Sùng Lãm, sau Sùng Lãm nối ngôi vua, tức là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sanh ra 100 người con, Lạc Long Quân và Âu Cơ chia tay vì Âu Cơ là dòng dõi thần tiên, đưa 50 con lên núi. Lạc Long Quân thuộc dòng dõi rồng, nên Lạc Long Quân nhận 50 con, đưa xuống Nam Hải. Sau Lạc Long Quân phong cho con trưởng làm vua nước Văn Lang, là một trong những nước gọi là Bách Việt. Người con trưởng vua Lạc Long Quân làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương. Vua Hùng Vương kể là vua tổ của Việt Nam. Nước Việt Nam ta dựng nước từ đời vua Hùng Vương và theo truyền thuyết thần thoại, dân Nam là con rồng cháu tiên từ đó.
   
Lạc Long Quân và bà Âu Cơ với truyền thuyết dòng dõi con rồng cháu tiên là sử liệu gốc tích của người Việt Nam, thấy đẹp oai phong và cũng thấy có một điều linh ứng là lịch sử dựng nước gắn liền với một lịch sử chia cắt tự ngàn xưa.
   
Biểu hiệu của con rồng mang nhiều tính chất thần linh, thời xa xưa, rồng là biểu tượng thờ cúng của các thị tộc. Rồng cũng không phải là sinh vật có thực ngoài đời, chỉ là hư cấu, thần thoại nên tính cách khá phức tạp. Bạn đã bao giờ trông thấy con rồng chưa? Chưa bao giờ, nếu có thấy chỉ là trên các bản vẽ, hình tượng, hiện tượng và suy đoán. Thí dụ: nếu thấy mây đen cuồn cuộn trong cơn bão táp, hay cảnh ngập lụt, thác lũ đổ xuống, nước ghềnh cuồn cuộn, người ta bảo đó là thần rồng gây ra.
   
Rồng là loài đứng đầu trong «Long, Ly, Qui, Phụng» tất cả bộ tứ quý này. Sách xưa thường nói, “mây theo rồng”, có ý là rồng sinh sống ở dưới nước, nhưng cỡi mây ngũ sắc ngao du trên trời. Vậy nên gọi rồng là thần linh. Rồng còn là biểu hiệu của vua chúa, người ta gọi vua là mình rồng, mặt vua gọi là long nhan, giường vua nằm là long sàng. Tất cả đồ dùng nơi ở, áo quần vua đều trang trí bằng hình vẽ, hoa văn và hình tượng rồng. Rồng là cao sang, quý báu, thấy rồng hiện lên là điềm may mắn, phát tài. Khi gặp hạn hán, người nông dân tổ chức múa rồng để cầu mưa. Thấy rồng hiện ra là điềm may mắn, phước đức sắp tới.
   
Trong sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Ngô Sĩ Liên) quyển 2, có ghi rằng: Tháng 7 năm canh tuất (1010) vua Lý Thái Tổ từ thành Hoa Lư rời đô ra kinh thành Đại La, thì thấy có rồng vàng hiện lên bên cạnh thuyền ngự, do đó vua gọi kinh đô là Thăng Long Thành. Thành Thăng Long phát khởi từ đó. Ngô Thời Sĩ ghi trong sách sử rằng, đời vua Lý Nhân Tông, rồng vàng hiện ra rất nhiều lần, vua quan đương thời mừng rỡ coi là điềm lành, đất nước thái bình, sung túc.
   
Quan niệm về rồng là điềm lành, là thịnh vượng khởi đầu từ nhà Chu bên Trung Hoa, sau kết hợp với âm dương ngũ hành cho ra quan niệm vua chúa là giống rồng, con cháu rồng là tất cả những gì cao sang hưng thịnh, tài giỏi, phú quý. Chịu ảnh hưởng tư tưởng này, người Việt Nam quý trọng và thích mang tuổi rồng.
   
Mong rằng năm mão khó khăn đã qua đi, năm rồng, lại là năm Giáp Thìn, sẽ mang lại cho thế giới cho tất cả mọi người nhiều an lành, an khang và kiết tường, như ý.
 
Xúc xắc xúc xẻ
Nhà nào còn đèn còn lửa
Mở cửa cho chúng tôi vào
Bước lên giường cao, thấy con rồng ấp,
Bước xuống giường thấp, thấy con rồng chầu,
Bước ra đằng sau thấy nhà ngói lợp,
Trâu ông còn buộc, ngựa ông còn cầy,
Ông sống một trăm linh năm tuổi lẻ,
Vợ ông sinh đẻ,
Những con tốt lành,
Những con như tranh,
Những con như rối,
Xúc xắc xúc xẻ
Nhà nào còn đèn còn lửa
Mở cửa cho chúng tôi vào…
 
– Chúc Thanh
(Paris, Tết Giáp Thìn, 2024)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bị nước Tàu đô hộ ngàn năm, Việt Nam không bị đồng hóa mà vẫn giữ được truyền thống dân tộc. Tiếng nói, chữ viết, cách ăn mặc, tập tục, phong thái...và nói chung, mọi thứ đều là Việt Nam. Chuyện đó ai cũng biết.
Tháng 12 là tháng của đầu đông, của tận cùng một năm và của những tưng bừng lễ hội. Với mục đích ghi lại thành quả của các học viên vừa gặt hái, và để trưng bày các tác phẩm nhiếp ảnh của những hội viên hay cựu học viên.
Tác phẩm của Torkwase Dyson thường dùng hình thức trừu tượng để diễn tả các di sản của chế độ nô lệ xuyên Đại Tây Dương và cộng đồng người di cư Châu Phi. Cuộc triển lãm của cô có tên “1919: Black Water,” tại Phòng Trưng Bày Arthur Ross Architecture Gallery của Đại Học Columbia, mang những tác phẩm điêu khắc, bản vẽ và tranh hỗn hợp lại nhau phản ảnh vụ giết một thiếu niên da đen tên là Eugene Williams tại Chicago vào ngày 27 tháng 7 năm 1919, theo Nicole Miller đăng trên trang mạng www.artnews.com hôm 1 tháng 12 năm 2019.
Vào khoảng năm 1985, nhóm ca viên cũ của Ca Đoàn Trùng Dương được dịp họp mặt lần đầu tiên trên đất Mỹ với hai cựu ca trưởng của Trùng Dương là nhạc sĩ Lê Văn Khoa và nhạc sĩ Trần Chúc. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa hôm đó đã cho mọi người nghe cassette tape nhạc giao hưởng trình bày trường ca Hòn Vọng Phu của nhạc sĩ Lê Thương với 4 giọng tứ ca, rồi nói “nếu chúng ta có một ban đại hợp xướng thì sẽ khác hơn nhiều.
Một chương trình ca nhạc đánh dấu 30 năm ngày thành lập ban hợp xướng vốn được xem là nổi bật nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại, với những khúc nhạc bất hủ của bảy, tám mươi năm tân nhạc VN, trình diễn bởi những ca sĩ tên tuổi hiện thời, cùng hàng trăm nhạc sĩ, ca viên, dưới tài điều khiển của những nhạc trưởng đầy khả năng và giàu kinh nghiệm, hiển nhiên phải là một chương trình đặc sắc, để lại dư âm trong lòng người nghe một thời gian thật dài, nếu không muốn nói là mãi mãi…
Nhạc trưởng Trần Chúc năm 1989. 2. Ngàn Khơi ra đời, lần đầu tiên hát Viễn Du tháng 6, 1989. 3. Thái Thanh, hát Việt Nam Quê Hương Mến Yêu trong buổi hòa nhạc đầu tiên 1990. 4. Mai Hương hát VNQHMY 1990. 5. Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi tại Concert 2007. 6. Nhạc sĩ Phạm Đình Chương & Nhạc trưởng Lê Văn Khoa 1990.
WESTMINSTER, CA (Little Saigon) - Vở kịch “140 Lbs: How Beauty Killed My Mother” (“140 Lbs: Sắc Đẹp Đã Giết Chết Mẹ Tôi Như Thế Nào”) sẽ được trình diễn bởi chính tác giả Susan Liễu vào hai suất: thứ Bảy, ngày 21 tháng 12, lúc 7:00 P.M. và Chủ Nhật, ngày 22 tháng 12, lúc 2:00 P.M. tại Phòng Sinh Hoạt Người Việt, số 14771 Đường Moran, thành phố Westminster. Giá vé: $15 (sinh viên) và $25 (đồng hạng).
Khang Nguyễn vận dụng những hiểu biết sâu sắc về tâm linh và triết lý đã thu thập được để chuyển dịch thành một thứ ngôn ngữ tượng hình chứa đựng cảm xúc và tỉnh thức, như anh miêu tả “một ý thức tức thời về Thực thể, không bị ràng buộc vào quan niệm tư duy của trí óc.
Một bức tranh hiếm của Wolfgang Amadeus Mozart lúc 13 tuổi đã bán 4 triệu euro tương đương 4.4 triệu đô la Mỹ tại cuộc đấu giá của Christie’s tại thủ đô Paris -- vượt xa hơn giá được tiên đoán. Bức tranh cho thấy thần đồng âm nhạc Áo đang chơi phong cầm trong chuyến du lịch ở Ý vào tháng 1 năm 1770. Christie’s nói rằng nhà soạn nhạc và cha ông lúc đó đang ở tại Verona với Pietro Lugiati, một viên chức đứng đầu tại Cộng Hòa Venice. Một người ngưỡng mộ Mozart, ông ấy đã đặt mua bức tranh này. Bức tranh đã được cho là do nhà nghệ thuật Verona vẽ. “Nó [bức tranh] rất có thể đã được vẽ bởi bậc thầy ở Verona là Giambettino Cignaroli, là anh em bà con của Lugiati,” theo Astrid Centner, nhà lãnh đạo của phòng Old Masters của nhà đấu giá tại Paris, cho biết. Chỉ có 5 bức tranh của Mozart đã được vẽ lúc ông còn sống.
Ca nhạc sĩ Chế Linh là một biểu tượng cột trụ của dòng nhạc Vàng, ông là người Việt gốc Chàm và được xem là tứ trụ của nền Nhạc Vàng (chung với Duy Khánh, Nhật Trường, Hùng Cường). Tuy nhiên, trong “tứ trụ” đó, chỉ có duy nhất Chế Linh còn đi hát tới tận bây giờ và vẫn được đông đảo công chúng ngưỡng mộ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.