Hôm nay,  

Chào mừng Xuân Giáp Thìn

09/02/202400:00:00(Xem: 1564)

Rồng-by-Ian-Nguyễn
Hình: Rồng do Ian Nguyễn thiết kế sử dụng AI

Con rồng không phải là con vật có thực trong giới sinh vật mà chỉ là thần linh hư cấu, hình ảnh con rồng được tạo dựng bởi sự tổng hợp đặc trưng loài động vật theo óc tưởng tượng của con người, nên hình ảnh con rồng thay đổi ở mỗi bản vẽ và phức tạp:
   
Rồng giống hươu, đầu rồng có lúc giống lạc đà. Mắt rồng giống quỷ. Cổ rồng giống cổ rắn. Bụng rồng giống bụng con tằm. Vẩy rồng giống cá, vuốt rồng giống vuốt chim. Chân rồng giống chân hổ, có người lại cho là chân rồng giống chân rùa. Tai rồng giống tai trâu bò. Con rồng giống tất cả mọi chi tiết của nhiều loại động vật khác nhau, do đó, người ta quý trọng con rồng.
   
Có thuyết nhân chủng học cho rằng từ đời thượng cổ, người nguyên thủy yêu quý và sùng bái động vật và thực vật và dần dần coi những động vật và thực vật yêu mến đó là tổ tiên của mình, vì họ sống với chúng nhiều hơn nay. Mỗi thị tộc có vật tổ riêng của dòng giống mình, khi các thị tộc đánh nhau, thôn tính nhau, đồng hóa nhau thì có vật tổ hòa hợp. Vật tổ rồng là kết quả sự thôn tính và đồng hóa vật tổ “rắn“ với các vật tổ khác. (Theo giáo sư Phan Khoang diễn giải).
   
Theo tài liệu từ sách “Sơn Hải Kinh”, một pho sách cổ của người Trung Hoa viết ra cách nay 2500 năm, thì rồng là vật tổ của người Trung Hoa, ngày xa xưa đó, gọi là dân tộc Khương. Họ sống ở các tỉnh Cam Túc, Thanh Hải, Tứ Xuyên, họ sùng bái rồng vì nó rất đẹp và oai. Lâu ngày, các dân tộc ấy di cư đến vùng Trung Nguyên và chiến tranh với người Hạ. Từ đó rồng cũng trở thành vật tổ của người Hạ, rồi thành vật tổ của người Hung Nô và cả người Bách Việt, trong đó có dòng Lạc Việt, ở phương Nam, cũng coi rồng là vật tổ, là tổ tiên mình. Họ tự nhận là con cháu dòng dõi của rồng.
   
Theo sử liệu của cụ Trần Trọng Kim, thì vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra một người con trai thứ là Lộc Tục. Sau vua Đế Minh truyền ngôi cho con trai trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc (bên Trung Hoa) và cho Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục làm vua xưng là Kinh Dương Vương, Quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ khoảng gần 3000 năm trước tây lịch. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ, sanh ra Sùng Lãm, sau Sùng Lãm nối ngôi vua, tức là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sanh ra 100 người con, Lạc Long Quân và Âu Cơ chia tay vì Âu Cơ là dòng dõi thần tiên, đưa 50 con lên núi. Lạc Long Quân thuộc dòng dõi rồng, nên Lạc Long Quân nhận 50 con, đưa xuống Nam Hải. Sau Lạc Long Quân phong cho con trưởng làm vua nước Văn Lang, là một trong những nước gọi là Bách Việt. Người con trưởng vua Lạc Long Quân làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương. Vua Hùng Vương kể là vua tổ của Việt Nam. Nước Việt Nam ta dựng nước từ đời vua Hùng Vương và theo truyền thuyết thần thoại, dân Nam là con rồng cháu tiên từ đó.
   
Lạc Long Quân và bà Âu Cơ với truyền thuyết dòng dõi con rồng cháu tiên là sử liệu gốc tích của người Việt Nam, thấy đẹp oai phong và cũng thấy có một điều linh ứng là lịch sử dựng nước gắn liền với một lịch sử chia cắt tự ngàn xưa.
   
Biểu hiệu của con rồng mang nhiều tính chất thần linh, thời xa xưa, rồng là biểu tượng thờ cúng của các thị tộc. Rồng cũng không phải là sinh vật có thực ngoài đời, chỉ là hư cấu, thần thoại nên tính cách khá phức tạp. Bạn đã bao giờ trông thấy con rồng chưa? Chưa bao giờ, nếu có thấy chỉ là trên các bản vẽ, hình tượng, hiện tượng và suy đoán. Thí dụ: nếu thấy mây đen cuồn cuộn trong cơn bão táp, hay cảnh ngập lụt, thác lũ đổ xuống, nước ghềnh cuồn cuộn, người ta bảo đó là thần rồng gây ra.
   
Rồng là loài đứng đầu trong «Long, Ly, Qui, Phụng» tất cả bộ tứ quý này. Sách xưa thường nói, “mây theo rồng”, có ý là rồng sinh sống ở dưới nước, nhưng cỡi mây ngũ sắc ngao du trên trời. Vậy nên gọi rồng là thần linh. Rồng còn là biểu hiệu của vua chúa, người ta gọi vua là mình rồng, mặt vua gọi là long nhan, giường vua nằm là long sàng. Tất cả đồ dùng nơi ở, áo quần vua đều trang trí bằng hình vẽ, hoa văn và hình tượng rồng. Rồng là cao sang, quý báu, thấy rồng hiện lên là điềm may mắn, phát tài. Khi gặp hạn hán, người nông dân tổ chức múa rồng để cầu mưa. Thấy rồng hiện ra là điềm may mắn, phước đức sắp tới.
   
Trong sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Ngô Sĩ Liên) quyển 2, có ghi rằng: Tháng 7 năm canh tuất (1010) vua Lý Thái Tổ từ thành Hoa Lư rời đô ra kinh thành Đại La, thì thấy có rồng vàng hiện lên bên cạnh thuyền ngự, do đó vua gọi kinh đô là Thăng Long Thành. Thành Thăng Long phát khởi từ đó. Ngô Thời Sĩ ghi trong sách sử rằng, đời vua Lý Nhân Tông, rồng vàng hiện ra rất nhiều lần, vua quan đương thời mừng rỡ coi là điềm lành, đất nước thái bình, sung túc.
   
Quan niệm về rồng là điềm lành, là thịnh vượng khởi đầu từ nhà Chu bên Trung Hoa, sau kết hợp với âm dương ngũ hành cho ra quan niệm vua chúa là giống rồng, con cháu rồng là tất cả những gì cao sang hưng thịnh, tài giỏi, phú quý. Chịu ảnh hưởng tư tưởng này, người Việt Nam quý trọng và thích mang tuổi rồng.
   
Mong rằng năm mão khó khăn đã qua đi, năm rồng, lại là năm Giáp Thìn, sẽ mang lại cho thế giới cho tất cả mọi người nhiều an lành, an khang và kiết tường, như ý.
 
Xúc xắc xúc xẻ
Nhà nào còn đèn còn lửa
Mở cửa cho chúng tôi vào
Bước lên giường cao, thấy con rồng ấp,
Bước xuống giường thấp, thấy con rồng chầu,
Bước ra đằng sau thấy nhà ngói lợp,
Trâu ông còn buộc, ngựa ông còn cầy,
Ông sống một trăm linh năm tuổi lẻ,
Vợ ông sinh đẻ,
Những con tốt lành,
Những con như tranh,
Những con như rối,
Xúc xắc xúc xẻ
Nhà nào còn đèn còn lửa
Mở cửa cho chúng tôi vào…
 
– Chúc Thanh
(Paris, Tết Giáp Thìn, 2024)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vương Trùng Dương, tên khai sinh là Trần Ngọc Dưỡng, sinh đầu tháng 2 năm 1945 (âm lịch tuổi Giáp Thân) tại Quảng Nam. Gia đình của Dương, từ lâu, định cư tại Chợ Được, một ngôi chợ khang trang nằm bên bờ sông Trường. Chợ cũng là bến ghe thuyền. Đò dọc theo sông dài, đò ngang qua bên kia sông là vùng ven biển Đông. Gần biển, những đêm mùa đông, trong chiếu chăn hãy còn nghe tiếng sóng biển ầm vang.
Nhà xuất bản nổi tiếng của Hoa Kỳ Barnes and Noble vừa phát hành cuốn hồi ký 500 trang của Kiều Chinh. Giới văn chương Mỹ gọi cô là nghệ sĩ lưu vong. Tra cứu trên Internet chúng ta thấy bản văn Anh ngữ nhà Barnes khen ngợi tác giả. Bản văn Việt Ngữ khen ngợi cô Kiều Chinh do nữ đại úy Phan của quân lực Mỹ viết. Cuốn hồi ký đặc biệt này đã ghi bán 30 đồng giấy thường và sách bìa cứng giá 40 đồng. Đại úy Phan là nữ quân nhân trẻ hiếm có đọc được cuốn hồi ký tiếng Việt đã ước mong rằng sẽ có phiên bản Anh Ngữ sớm phát hành.
Khi nói đến âm nhạc, người ta thường liên tưởng đến khái niệm về “tâm hồn” hay “cảm xúc”. Khi nói đến giáo dục lại thường liên kết với “trí tuệ”. Một bên là nghệ thuật, một bên là tri thức. Một bên là những chàng nghệ sĩ, một bên là những nhà mô phạm. Thực ra hai lĩnh vực này có nhiều khi đan lẫn, kết hợp với nhau. Âm nhạc là một ngành học với học vị lên tới tiến sĩ, không thua kém gì học bác sĩ, kỹ sư. Và khoa học đã chứng minh từ lâu rằng học âm nhạc góp phần phát triển khả năng trí tuệ toàn diện cho trẻ em.
Cuốn phim Từ Sài Gòn đến Điện biên Phủ cũng được ra mắt lần đầu tiên tại Hoa Kỳ. Phim do hãng Mỹ Vân hoàn tất tại Việt Nam trước 1975. Chưa từng chiếu được giữ lại trên 50 năm qua sẽ ra mắt đồng bào rất may mắn tại San Jose. Xin mời đến để gặp Kiều Chinh và Sài Gòn sau hơn nửa thế kỷ. Vào 1 giờ chiều thứ bẩy 27 tháng 7-2024 tại hội trường Santa Clara County
Vào chiều Chủ Nhật cuối Tháng Sáu, khoảng hơn 400 khán giả đã ngồi chật khán phòng của Huntington Beach Central Library Theater để cổ vũ cho các tài năng âm nhạc trẻ gốc Việt trong chương trình nhạc Emê Concert 2, chủ đề “I Wish It So”.
Thỉnh thoảng có một ngày vui. Gặp nhau trong thân tình, được bày lộ nỗi lòng, nâng ly rượu giao hòa. Đó là buổi ra mắt tập thơ của Họa sĩ Khánh Trường. Chiều, của một ngày cuối cùng tháng Sáu, 2024. Trời Nam Cali mát dịu. Tôi và Kim đến rất đúng giờ nhưng phòng họp đã đầy chật bằng hữu. Tấm lòng yêu mến Khánh Trường quả là rõ thực. Tay này đa tài trên khắp nẻo, hội họa, văn chương, báo chí, cả ngang tàng một cõi thời trai trẻ. Bỗng đủ thứ bệnh tật đến rần rần như rủ nhau đi xem hội. Trên hai mươi năm nay ung thư thanh quản, hộc máu, tắt tiếng, đột quỵ, ngồi xe lăn, bại thận, mỗi tuần bị lụi kim, kim bự tổ chảng, vào người thay máu hai lần. Nhìn hai cổ/ cánh tay của Khánh Trường, từng đụn da thịt gồ lên thấp xuống, như cái dãy… Trường sơn thu nhỏ.
Nhà thơ Đỗ Quý Toàn nói về Khánh Trường-nhà thơ đã không quên nhắc lại “Khánh Trường là người làm được rất nhiều thứ, không những ông là họa sĩ, nhà thơ, mà ông viết văn rất hay. Tôi rất thích đọc truyện Khánh Trường. Nhưng điều tôi phục nhất là Khánh Trường của Hợp Lưu. Khánh Trường của nguyên tắc làm theo ý mình, trái ý thiên hạ. Người ta cho là anh ta phản kháng hay nổi loạn, nhưng theo tôi, KT chỉ làm cái gì mình cho là đúng, hay, phải làm. Tôi rất khâm phục.”
Ca khúc “Nỗi buồn hoa phượng” là ca khúc thứ hai của nhạc sĩ Thanh Sơn, sau ca khúc “ Tình học sinh” ra đời năm 1962, song bị... chìm lĩm, chẳng một ai chú ý? Năm 1983, trả lời phỏng vấn của chương trình Paris By Night, nhạc sĩ Thanh Sơn kể về sự ra đời của ca khúc “Nỗi buồn hoa phượng”, sau 20 năm ra đời, đã được hàng triệu người kể cả miền Bắc sau này ưa thích. Đó là vào năm 1953, ông học chung lớp với người bạn nữ tên là “Nguyễn Thị Hoa Phượng”, hè năm ấy, người bạn gái cùng gia đình chuyển về Sài Gòn, ông có hỏi cô bạn: “Nếu nhớ nhau mình sẽ làm sao?”, cô bạn mĩm cười trả lời đại ý là “ Cứ mỗi năm đến hè, nhớ đến nhau, anh cứ nhìn hoa phượng nở cho đỡ nhớ bởi tên em là Hoa Phượng...”, và đó cũng là “đề tài” mà ông ấp ủ để 10 năm sau, khi đó cô bạn gái ngày xưa chắc đã... vu qui rồi?
Không thể chối cãi, trong đầm không gì đẹp bằng sen. Đúng hơn nữa, trong đầm không gì thơm hơn sen. Nhưng vì sao sen lại mọc trong đầm bùn? Vì sao sen không mọc sánh vai cùng Cẩm Chướng, Mẫu Đơn, Hồng Nhung, Anh Đào, Thiên Điểu, Oải Hương, Hướng Dương, vân vân trong những vườn quyền quý cao sang, những nơi chưng bày lộng lẫy? Vì sao sen lại chọn ngâm mình trong nước hôi tanh? Vì sao trong tất cả loại sen, tôi lại quý sen hồng, trong khi đa số yêu sen trắng? Sen và bùn là một lý thuyết chính trị cần thiết cho Việt Nam hiện nay. Hoa sen phải mọc từ bùn, trong bùn. Không thể mọc ở những nơi không có bùn. Vì sao hoa sạch thơm phải mọc và sống từ nơi dơ thúi? Rồi sen phải vượt lên khỏi mặt nước mới nở được hoa đẹp, hoa thơm, nhưng vẫn cần có bùn để tồn tại. Một quá trình hiện thực, một ẩn dụ để tư duy.
Bộ phim Face Off 7: One Wish như đem lại một tín hiệu tốt lành rằng trong một xã hội Việt Nam ngày nay đang có quá nhiều điều nhiễu nhương, những nét đẹp truyền thống của văn hóa Việt Nam vẫn còn có chỗ để tồn tại…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.