TRANG THƠ

06/07/202314:51:00(Xem: 3618)
Derkovits,_Gyula_-_Mother_(1934)
Mother (1934) của Gyula Derkovits (1894-1934).


QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM

mẹ tôi trên xe thổ mộ

 

(Kính dâng hương hồn mẹ).

 

đã rất nhiều năm trong thế kỷ trước

đôi khi còn nghe âm vọng người và ngựa

lốc cốc trên đường

nắng chói chan nung thời gian chảy nhựa

 

gõ từng chữ từng câu

chầm chậm xuống hàng

ký ức chìm nổi của loài ba khía

chầm chậm xuống hang

thảng thốt nghe tiếng người và ngựa

 

giữa đất trời hanh hao

nằm ngửa lắng nghe tiếng lốc cốc trên đường

sau hàng cây xanh ngát

từng lớp sóng xôn xao nhả bọt

tựa những lời mẹ căn dặn buổi chia tay

 

quanh quất trên con lộ thưa vắng

mẹ tôi vẫn còn trên chiếc xe thổ mộ

đôi guốc mộc quai đen

hai bàn chân chai cứng

khuôn mặt màu da bánh ít in đậm nỗi buồn

 

đôi khi mẹ lau nước mắt bằng vạt áo vải thô

những giọt long lanh lăn trên má

quặn thắt trong nắng gió thờ ơ

từ hai hốc mắt sâu không đáy

u uất câm lặng triền miên

 

sáng nay mẹ ngồi bất động

như đã ngồi trong nhiều kiếp

trên chiếc xe thổ mộ

duy nhất

rong ruổi trên con lộ khắc khoải này. 

 

***

 

NGUYỄN HÀN CHUNG

 

Lời kêu cứu của thơ
     

Thả ra đừng bắt tôi lên

trời đâu không thấy chênh vênh lạnh lùng

thả tôi về với ruộng đồng

có mồ cha mẹ núi sông bưng biền

 

Thả ra hãy để tôi yên

ngắm trăng hải đảo nghía thuyền viễn dương

cho tôi ca hát phàm thường

bắt tôi phải đạo đau thương bao rồi

 

Thả tôi thả tôi thả tôi

lên hay xuống đứng hay ngồi tự thân

thích thì phụng hiến giai nhân

vẫn hơn ca tụng cái cần triệt linh

 

Thả ra đừng bắt chúng sinh

rác tai nghe những bài tình giả nhơn

thả tôi về với rạ rơm

cho tôi tận hưởng mùi thơm suối nguồn!

Thả ra tôi có vĩ cuồng
hay thơ ca có trần truồng, mặc tôi.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.
Câu thơ chưa kịp viết / Cả rừng cây đứng chờ / Và gió ngàn vẫy gọi / Tới đây xem mùa thu...
ghi thêm nét sắc hình hài / vẽ lên câu chữ ngón tay chợt buồn…
nặng lòng là bởi / xuân đang tới / và cây đang rộn rã lên hồng / ta đã đi / chưa chào em, đà-lạt!...