Hôm nay,  

Tưởng Nhớ ‘Ông Xếp Lớn’ Người Úc Và Những Nẻo Đường Việt Nam

07/01/202608:24:00(Xem: 840)
greg dodd
Greg Dodds (đứng thứ tư từ phải hàng dưới) chụp cùng nhân viên Phòng Thương Vụ Úc Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 1990s

Cách đây vài năm, tin ông Gred Dodds qua đời ở tuổi 71 tại Perth (Úc Đại Lợi) được truyền đi nhanh chóng trong giới ngoại giao, thương mại Úc. Nhóm cựu nhân viên Austrade (Phòng Thương Vụ Úc) người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email thông báo cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.

 

Trên trang web của Austrade có nhắc lại về tiểu sử của Greg Dodds. Ông là nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn đến hoạt động phát triển thương mại của Úc tại Châu Á, đặc biệt là vùng Đông Bắc Á với các thị trường xuất khẩu lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan. Ông bắt đầu làm việc tại Austrade từ năm 1985 khi được bổ nhiệm làm Tham tán Thương mại Cao cấp tại Tokyo, phụ trách thị trường Nhật. Dưới thời ông, quan hệ thương mại Nhật- Úc phát triển mạnh mẽ. Đến giữa thập niên 1990s, ông trở thành Tổng Giám đốc Điều hành Austrade khu vực Đông Bắc Á, văn phòng cũng đặt tại Tokyo. Trong suốt nhiều năm làm việc tại Austrade, Greg được thủ tướng, doanh nhân, đồng nghiệp Úc đánh giá cao, kính trọng vì tầm nhìn và khả năng lãnh đạo xuất sắc. Ông là người góp công nâng tầm quan trọng của Austrade trong việc hỗ trợ phát triển xuất khẩu của Úc, đặc biệt ở Châu Á. Ông truyền cảm hứng cho những người làm việc chung với mình; giúp nhiều nhân viên phát huy hết tiềm năng cá nhân; khuyến khích mọi người suy nghĩ rộng hơn, sáng tạo hơn trong công tác xúc tiến thương mại. Ông về hưu khoảng giữa những năm 2000s.

 

Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Á cùng với Singapore, Mã Lai, Thái Lan…, là một sự phân chia hợp lý thường thấy về phương diện địa lý, kinh tế. Tuy nhiên, khi lên nắm vai trò lãnh đạo Austrade vùng Đông Bắc Á, Greg quyết định chuyển Việt Nam vào khu vực của mình. Lập luận của ông là Việt Nam có nền văn hóa giống với Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn. Dân tộc Việt Nam sử dụng đũa, chịu ảnh hưởng văn hóa Khổng Mạnh, có chữ Nôm cùng nguồn gốc với chữ Hán… Do có uy tín và tầm ảnh hưởng lớn, đề nghị của ông dễ dàng được chấp nhận. Về mặt thương mại, từ thời ông trở đi, người Việt Nam bắt đầu thấy thịt bò Úc, bò giống Úc, rượu Vang Úc xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường. Học sinh Việt Nam bắt đầu chọn Úc để đi du học nhiều hơn. Còn trong nội bộ Austrade, do Việt Nam thuộc khu vực thị trường quan trọng nhất, cho nên nhân viên được hưởng nhiều ưu đãi hơn.

 

Đối với Austrade Việt Nam, ngoài vai trò là một ông “xếp lớn của vùng”, Greg còn có nhiều tình thân hơn. Ông từng phục vụ trong quân đội Úc 10 năm trong chiến tranh Việt Nam tại một đơn vị tình báo chiến trường. Vào năm 2019, ông hoàn tất và cho xuất bản cuốn hồi ký Ships in the Night, có nhắc đến giai đoạn này. Có lẽ đó là lý do chính khiến ông có cảm tình đặc biệt với Việt Nam. Đưa Việt Nam vào vùng Đông Bắc Á, Greg có cơ hội trở lại Việt Nam để làm việc, có dịp thăm lại khu vực chiến trường xưa ở Long Tân thuộc Bà Rịa Vũng Tàu, nơi quân đội Úc đóng quân trong thời chiến. Nghe nói ở Nhật, nhân viên Austrade cả Úc lẫn Nhật đều sợ ông như “sợ cọp”! Nhưng đến Việt Nam, ông xuề xòa, dễ dãi, thường hay nói chuyện với nhân viên người Việt.

 

Greg yêu văn hóa Việt Nam. Trong một lần tổ chức “team building” cho nhân viên Autrade Đông Bắc Á ở Nha Trang vào khoảng năm 2004, nhân viên Việt Nam với tư cách chủ nhà có thực hiện một hoạt cảnh Dân Ca Ba Miền trong tiệc khai mạc. Khi hát bài dân ca Miền Bắc Qua Cầu Gió Bay, nhân viên các quốc gia khác cử đại diện lên “cởi áo, cởi nhẫn, cởi nón cho nhau” để hiểu người Việt yêu nhau chia sẻ như thế nào. Dân ca Miền Trung là bài Lý Chiều Chiều để thấy giọng buồn xứ Huế. Dân Ca Miền Nam là bài Đèn Cao Châu Đốc, Gió Độc Gò Công; tất cả người tham dự được tập để cùng hát chung câu “Hò lơ, hó lơ, lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ…” Sau màn trình diễn này, Greg và nhân viên từ các quốc gia khác khen ngợi team Việt Nam giàu tinh thần văn hóa.

 

 Austrade Việt Nam có văn phòng ở Hà Nội và Sài Gòn, nằm trong tòa đại sứ và tổng lãnh sự Úc. Trong những lần sang Việt Nam, Greg thường dành nhiều thời gian trong Sài Gòn hơn. Tôi là nhân viên của Autrade Sài Gòn từ năm 2001 đến 2006, cho nên có dịp gặp “xếp lớn” ở văn phòng. Tôi có một bộ bản đồ đường bộ quân sự bốn vùng chiến thuật rất chi tiết. Biết ông là cựu quân nhân Úc tham chiến ở Việt Nam, có lần tôi đem bản đồ vào cho ông xem. Ông rất thích, nhờ photo một bộ để giữ làm kỷ niệm. Cũng từ đó, ông biết tôi thích đi du lịch bằng đường bộ, đã đi qua rất nhiều tỉnh thành của Việt Nam, thích khám phá những khu vực xa xôi hẻo lánh. Ông nói để khi có dịp đi công tác ở Miền Nam, ông sẽ nhờ cùng tháp tùng bằng xe hơi thay vì đi máy bay như hầu hết các xếp Úc khác. Thế là hành trình trên những nẻo đường Việt Nam với ông “xếp lớn” cựu chiến binh Úc bắt đầu.

 

Khi chọn đường bộ để đi làm việc xúc tiến thương mại, Greg đề nghị nếu được thì chọn những tuyến đường đi qua những khu vực từng là chiến trường xưa. Đa số những đoạn đường này còn hoang sơ, chưa phát triển vào đầu thập niên 2000s. Có lần trong một chuyến đi công tác Miền Trung, các điểm đến làm việc là Đà Lạt, Ban Mê Thuộc, Đà Nẵng. Chúng tôi khởi hành từ Sài Gòn đi Đà Lạt qua quốc lộ 20; sau đó dùng quốc lộ 27 để đi Ban Mê Thuộc; rồi dùng quốc lộ 14 đi qua Pleiku, Kontum; theo quốc lộ 24 đổ từ cao nguyên xuống vùng đồng bằng Ba Tơ thuộc Quảng Ngãi; rồi theo quốc lộ 1 đến Đà Nẵng. Đó là một chuyến đi đáng nhớ, qua những đoạn đường hoang vắng tuyệt đẹp mà chính tôi cũng chưa từng đi qua. Quốc lộ 27 vào thời đó còn rất xấu, chưa được sửa chữa từ sau chiến tranh, nên rất ít xe cộ qua lại. Xe của Phòng Thương Vụ Úc là chiếc Toyota Land Cruiser mới toanh, biển số ngoại giao đỏ. Với chiếc SUV chuyên vượt địa hình này, hai thầy trò cùng bác tài rong ruổi qua những cánh rừng thông hoang sơ, có những đoạn qua những con suối chảy, thác đổ từ trên sườn núi dọc bên đường. Trên 200 km đường đi hầu như chỉ có một mình xe chúng tôi vượt qua những đoạn đường hiểm trở. Có lúc cảnh đẹp quá, Greg nói tài xế dừng lại để hút thuốc lá, ngắm cảnh. Còn khó đi hơn là quốc lộ 24, đoạn đổ đèo Măng Đen từ Kon Tum xuống Ba Tơ Quảng Ngãi. Thời đó đường đèo xấu, hẹp, chỉ đi được mỗi bên một xe, mà xe này đi thì xe bên kia phải ngừng lại để tránh. Có những cây cầu bắc qua vực với thành cầu mục, rỉ sét, xe qua phải thật chậm. Bác tài dày dạn kinh nghiệm mà cũng nói rằng chưa bao giờ đi đoạn quốc lộ nào hiểm trở đến thế! Nhưng cũng tuyệt đẹp, với cảnh núi rừng nguyên sinh Trường Sơn trùng điệp thật ngoạn mục. Nghe nói hiện nay Măng Đen đã được xây dựng, phát triển thành một khu du lịch mới của Kontum. Greg còn sống chắc thế nào cũng trở lại thăm nơi này.

 

Một chuyến đi nữa cũng đáng nhớ là chuyến công tác qua nhiều tỉnh thành thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau… Từ Tiền Giang đến Vĩnh Long qua cây cầu Mỹ Thuận do Úc xây dựng theo dự án viện trợ phát triển cho Việt Nam. Qua những cánh đồng lúa cò bay thẳng cánh, những sông rạch chằng chịt của Miền Nam. Dọc đường, Greg dừng lại các quán nhỏ bên đường để uống cà phê đen, hút thuốc lá, hỏi thăm về cuộc sống của người nông dân. Sau khi làm việc ở tỉnh Cà Mau, Greg đề nghị mướn một chiếc ca nô để ra tận vùng Đất Mũi, thời đó đi bằng đường bộ còn rất khó. Buổi tối đi ăn ở một quán địa phương có đờn ca tài tử, nghe bài vọng cổ xa xưa Tình Anh Bán Chiếu “ Hò ơi… Chiếc chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm…” nhớ giọng ca Út Trà Ôn. Greg nói như vậy là ông đã đi được từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau của Việt Nam rồi, một điều mà không phải người Việt Nam cũng thực hiện được. Chuyến đi thật thanh bình như hương đồng cỏ nội Miền Nam.

 

Trong những chuyến đi như vậy, hai thầy trò nói với nhau rất nhiều chuyện, từ văn hóa, lịch sử, chiến tranh Việt Nam, đến những mối quan hệ quốc tế với Việt Nam thời bấy giờ. Kiến thức về văn hóa, lịch sử của Greg về các quốc gia Châu Á rất rộng. Ông cũng thích tìm hiểu về nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Khi nói về thân phận của Việt Nam Cộng Hòa trong chiến tranh, tôi tặng cho ông cuốn truyện ngắn Con Cá Mắc Cạn của Doãn Quốc Sỹ, có cả hai thứ tiếng Anh-Việt. Ông hiểu Việt Nam trong cuộc chiến cũng giống như con cá trong truyện, không thể tự mình định đoạt số phận. Khi đi qua khu rừng tràm ở Cà Mau, tôi nói với ông về cuốn tiểu thuyết Hương Rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam. Khi dừng chân ở Pleiku, tôi hát cho ông nghe ca khúc Còn Chút Gì Để Nhớ của Phạm Duy. Đi ngang qua Tuy Hòa là giai điệu man mác buồn của bài Chiều Qua Tuy Hòa của Nguyễn Đức Quang. Có lần hoàng hôn qua một ngôi làng nghèo dọc theo quốc lộ 1 ở Quảng Ngãi, tôi hát một vài câu trong ca khúc Về Miền Trung:

“…Ôi quê hương xứ dân gầy
Ôi bông lúa, con sông xưa, thành phố cũ
Về miền Trung! Người về đây sống cùng người dân
Lửa chinh chiến cháy bừng thôn làng điêu tàn…”

Lần đó, ông nói không ngờ một kỹ sư cơ khí như tôi mà cũng lãng mạn đến thế!

 

Đến năm 2006, tôi đi Mỹ. Trước khi đi, chưa rõ mình sang Mỹ sẽ làm gì, tôi viết email xin ông một lá thư giới thiệu, để phòng trường hợp xin vào làm cho Phòng Thương Vụ Mỹ. Lúc đó ông đã nghỉ hưu, nhưng vẫn viết một lá thư giới thiệu thật trân trọng, với tư cách là cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á kể về một nhân viên xúc tiến thương mại cấp thấp, không thuộc hàng trực tiếp làm việc với ông. Lá thư đó tôi không sử dụng đến, rồi bận bịu với nhiều loại công việc mưu sinh ở Mỹ. Vào năm 2017, tôi trở lại Úc, có ghé văn phòng Austrade ở Sydney, hỏi thăm tin tức về Greg, biết là ông vẫn sống đời hưu trí ở Perth. Tôi có email hỏi thăm. Chỉ sau một ngày, ông trả lời, và còn nói rằng vẫn còn giữ cuốn sách về “fish elf” mà tôi tặng. Ba năm sau thì nhận được tin ông qua đời.

 

Nhìn lại hơn 40 năm đi làm ở hai xứ Mỹ-Việt, tôi nghiệm lại thời làm việc ở Austrade là một trong những giai đoạn thích thú nhất. Một phần vì công việc thích hợp, làm có kết quả tốt. Một phần là vì được dịp kết thân với ông “xếp lớn” người Úc dễ thương, yêu mến đất nước và con người Việt Nam. Nhớ về Greg Dodds, tôi nhớ đến ca khúc Những Nẻo Đường Việt Nam (Thanh Bình):

Những nẻo đường Việt Nam.
Suốt từ Cà Mau thẳng tới Nam Quan.
Ôi! Những nẻo đường Việt Nam…
Những nẻo đường về đâu?
Ánh chiều chìm rơi bờ lúa nương dâu.
Ôi! Những nẻo đường về đâu?...

 

Doãn Hưng

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh
Năm đó, tôi qua Arlington,Texas thăm gia đình, rồi ghé Dallas thăm người hàng xóm cũ thân thiết từ khi còn ở Việt Nam . Chú Thím ấy đónvợ chồng tôi nồng hậu như mọi khi, bữa ăn đặc sản món Huế như tôi yêu cầu, sau đó kéo nhau ra phòng khách ăn bánh uống trà . Rồi Thím gọi cháu ngoại: - Thiên Ân ơi, ra đây ca hát cho hai bác Canada nghe đi con.-Cô bé hai, ba tuổi tung tăng ngoan ngoãn khoanh tay chào chúng tôi, rồi bạo dạn chạy ra giữa phòng, tay giả bộ cầm micro phone, rồi nhún nhảy tự nhiên hát một bài hát Tiếng Việt thật rõ ràng .


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.