Hôm nay,  

Mưa Bên Kia Sông

30/08/202400:00:00(Xem: 3134)
 
ben kia xong
Hình minh họa
 
1.
Chiếc xe đò rẽ vào ngả ba Lộ Tẻ, chạy chậm lại rồi ngừng hẳn. Trên xe một số người nhốn nháo, ló đầu ra cửa sổ xem có chuyện gì. Anh phụ xe nhảy xuống vội vàng chạy về phía trước. Đã hơn 2 giờ chiều, trong xe hầm nóng và trở nên ồn ào. Vài phút sau, anh phụ xe trở lại và báo tuyến đường về Rạch Giá đã đóng vì nước lũ về ngập một số đoạn đường dài phía trước. Tất cả bà con phải xuống xe, hoặc tìm nhà nghỉ tạm chờ nước rút, hoặc bao đò máy về Rạch Giá. Đó là một buổi chiều giữa mùa nước nổi, tôi theo dòng người bước xuống xe, trời hanh nắng và đứng gió. Đường xá, đò ghe tôi không biết rành, chắc là phải tìm nhà xin trọ, chờ nước rút. Cũng không có gì gấp gáp, tôi đang trở về trường cho khóa học “chính trị hè" hằng năm cho thầy cô giáo của tỉnh. Định hỏi thăm anh phụ xe về nhà nghỉ, thì thoáng tiếng gọi tên mình:

- Thầy Long... thầy Long...

Quay lại, là người con gái dáng dong dỏng cao, tóc ngang vai và nụ cười với chiếc răng khểnh thật tươi. Bất ngờ, tôi vẫn chưa nhận ra người quen hoặc đã gặp ở đâu, đành cười đáp xã giao.

- Em tên Xuyến dạy trường tiểu học An Hòa. Đã gặp thầy Long ở mấy buổi họp giáo dục huyện... Đông quá, chắc thầy hổng nhớ đâu?
- Gặp Xuyến ở đây, mừng quá. Gọi tên được rồi, đồng nghiệp mà...
- Xuyến từ Long Xuyên về. Chắc là sẽ kẹt nước lụt đến mai. Anh Long có dự định về Rạch Giá chiều nay luôn hông?

Đúng là “ở hiền gặp lành”, tôi gật đầu ngay. Xuyến cho hay, khoảng 1 tiếng đồng hồ nữa có đò máy về Rạch Giá ngay chiều nay. Tôi theo Xuyến đến gặp chủ ghe, dặn chỗ. Xuyến rủ tôi đi ăn tạm gì đó, chuyến đò về tới Rạch Giá chắc cũng phải 8, 9 giờ tối. Bên quán ăn và chuyến đò máy chiều hôm đó, tôi và Xuyến đã quen nhau. Xuyến có nước da ngâm ngâm, dáng đi thẳng, rắn chắc và đặc biệt là nụ cười răng khểnh với bờ môi cong thật đẹp... Để rồi những buổi tan trường sau đó, trên chiếc xe đạp, có hôm Xuyến “đèo” tôi, có hôm tôi chở Xuyến. Nhà Xuyến nằm phía bên doi Gòn, mỗi ngày phải qua đò Tắc Ráng. Gọi bến đò Tắc Ráng nhưng thật ra là một chiếc phà nhỏ đưa người qua bên kia ba nhánh sông: doi Gòn, doi Dừa và doi cây Xăng (?). Nhiều buổi chiều đợi chiếc phà nhỏ, tôi và Xuyến có những giây phút bên nhau thật gần và thật “vội”. Vội đủ để Xuyến thường “chê” tôi: “Bàn tay và môi anh mềm như con gái!”.  “Bàn tay thì được, còn môi.. . Làm sao em biết mềm như môi con gái? Em đã thử môi con gái chưa?”. “Nói bậy không hà. Em chỉ so sánh dzậy thôi mà”.

Khác với bề ngoài cứng rắn, Xuyến rất dễ mũi lòng, nhiều lúc thật yếu đuối. Quê ở tận Xẻo Rô thứ Bảy, cô giáo Xuyến cũng rất giỏi về sông nước, ruộng nương. Một lần cùng Xuyến về thăm nhà, tôi mới biết mình thật sự quá “dở” và thương vô cùng những con người chân chất, một đời sống chết với từng tấc đất bờ kinh. Ba má của Xuyến rất hiếu khách và ít nói. Họ sống đơn giản, tần tảo và chịu đựng. Sự chịu đựng hằn lên những vết nhăn của tháng năm và số phận. Chừng như họ không có sự lựa chọn, mà cam chịu như cây lúa theo mỗi chiều gió ngoài đồng. Mồ hôi và máu của họ đã nuôi dưỡng bao lý tưởng của chiến tranh. Để cuối cùng họ vẫn là nạn nhân câm lặng nhất cho dù ai là kẻ chiến thắng. Sự câm lặng của đất, của những cây lúa chín vàng phải chăng là tiếng nói trung thực của lòng yêu nước? Tất cả đã thành thói quen, đã thành nếp như những đường viền chân chất một đời không đổi... Theo Xuyến đi giăng câu, đặt dớn trên những dòng kinh, bờ ruộng tôi chợt thấy lòng mình thật bình yên. Cuộc sống chừng như chậm lại, mọi nhu cầu tưởng chừng như tan biến, nhẹ tênh. Dưới tán dừa, bên hàng điên điển vàng che bóng là những nụ hôn dài, cuống quýt không kịp thở. Bờ môi tôi tham lam, bờ môi Xuyến cũng không muốn dừng. Nhưng không hiểu sao trong những giây phút đó, đôi mắt Xuyến dường như có chút tư lự, có chút băn khoăn. Hoặc lắm khi đang nói cười, nàng bất thần lặng im trong khoảng trống vô chừng. Hỏi, Xuyến chỉ cười nhẹ và nói "không có gì đâu anh!".
            
Người đàn ông đứng tuổi tự giới thiệu tên Phong, hiện đang làm việc ở trại cây trồng thuốc đông y thị xã Rạch Giá. Khuôn mặt đượm chút khắc khổ, thân hình cao lớn, anh Phong xin lỗi đã đường đột gặp tôi. Bên quán cà phê dì Năm trước cổng trường, câu chuyện anh khiến tôi hụt hẫng, bất ngờ. Anh Phong và Xuyến ở cùng quê. Cả hai đã quen nhau vài năm về trước, tình cảm tốt đẹp và họ đã đề cập tới hôn nhân. Chuẩn bị đám hỏi, thì gần đây Xuyến tỏ ra lơ là, có ý chối thoát. Và anh Phong biết được Xuyến quen tôi trong một thời gian vừa qua. Anh không trách cứ gì, chỉ muốn biết tôi là ai, và có tình cảm thật sự gì với Xuyến... Tôi nhìn người đàn ông trước mặt như nhìn thấy chính tôi. Mỗi trái tim có lý lẽ riêng của nó, nhưng đều mù lòa như nhau! Nếu không, sẽ chẳng bao giờ là tình yêu thật sự? Rồi thì cho đến lúc nói lời chia tay, tôi và Phong chỉ ngồi im lặng, không nói gì thêm. Cái bắt tay chắc nịch của anh, tôi hiểu thêm, đây mới là duyên phận, hạnh phúc của Xuyến. Bàn tay này sẽ bảo bọc, nâng niu đời nàng trong những mai này. Không phải là tôi. Nhìn chiếc bóng cao lớn của anh rời khỏi quán, tôi chợt thấy lòng mình là cả bao nỗi chia xa.
 
Trong những ngày sau đó, tôi đã không gặp Xuyến nữa. Mọi liên lạc thư tay, mọi tìm kiếm đến trường, tôi đều trốn tránh. Như không có, không hề xảy ra. Tôi dối người hay tự dối tôi? Cuộc sống với bao hệ lụy vây quanh, như cuốn hút, xô đẩy mọi số phận nhỏ nhoi của chúng ta. Lá thư cuối của Xuyến thật ngắn, mong được gặp tôi như lần sau cùng. Và tôi cũng không còn đủ lý do để từ chối. Buổi chiều bến phà nhỏ Tắc Ráng vẫn vội vã, vẫn tấp nập người. Tôi ngồi khuất  trong một quán nước lụp xụp, hướng về phía bến sông. Khuất chỉ đủ tôi nhìn thấy Xuyến đứng bơ vơ giữa dòng người xuôi ngược. Để nhìn thấy bao lần đôi môi Xuyến cắn chặc và ánh mắt vô vọng, đợi chờ. Chiều nay trên bến sông, tôi đã giữ đúng lời hẹn sau cùng. Với em và với chính tôi.

Gió từ bờ sông nhè nhẹ, hanh hanh hơi nước thổi. Tôi phải nhiều lần cầm lòng, chỉ cố gắng thu hết hình ảnh của Xuyến vào thương nhớ của mình. Chiều chìm dần và cơn mưa cũng chợt đến. Cơn mưa chiều bất chợt, trút nước lên bóng dáng người con gái trên bến nước. Xuyến vẫn đứng đợi, dưới cơn mưa, nhiều lần đưa tay vuốt mặt. Bàn tay đó, bờ môi đó nồng nàn, mãnh liệt. Rồi em sẽ quên tôi, theo thời gian trôi một dòng không trở lại. Rồi tôi sẽ đâu đó bên đời, luôn nhớ dáng hình người con gái bên sông, chiều mưa thương tưởng.Tất cả như một giấc mơ, một giấc mơ có thật. Tình yêu thật sự có được không phải nhốt trong tay, mà buông thả theo đường bay vời vợi của số phận? Và chừng như mỗi số phận con người luôn hiện diện quanh đây,  như bao giọt mưa chợt lăn nhẹ xuống bờ môi tôi thấm mặn…

Chuyến phà nhỏ cuối cùng cũng đưa người con gái tôi thương về phía doi Gòn. Bên kia sông, mưa vẫn bay bay nghiêng che dáng hình người con gái xa dần. Dòng sông buổi chiều mưa lạnh, buồn và mênh mông...  

“Tôi đứng bên này sông,
trời mưa bên kia sông, mắt vương lệ nhòa
vòng tay kín đan thầm dìu nỗi xót xa
Tôi vẫn thương và nhớ
dù mai quên trong tôi, dáng xưa yêu kiều
tình xa vắng cho dài ngày tháng cô liêu..!"   (*)
 
Durham, North Carolina
Nguyễn Vĩnh Long
(*) Mưa Bên Kia Sông - Nguyễn Thiện Lý
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.