Hôm nay,  

Có Khi Sông Là Biển

27/07/202405:41:00(Xem: 3608)
Truyện

tam

Tranh Cẩm Tâm



Tôi không phải là thi sĩ, nhưng chắc cũng giống như những thi nhân của đất Việt, thường gửi gấm tâm tình u uất vào những vần thơ của mình. Những bài thơ viết xong, tôi cặm cụi chép vào nhật ký, xen vào những lời than thân trách phận, hờn mây khóc gió. Cuốn nhật ký,  tôi cất kỹ trong ngăn kéo ở cái table de nuit cũ kỹ bên cạnh chiếc giường nhỏ trong phòng ngủ. Cũng may là má chưa lục ra đọc lần nào. Nếu không, chắc má đã lắc đầu ngao ngán khi đọc thấy những câu thơ yếm thế của đứa con gái tội tình mà tuổi chưa đến đôi mươi:

Ngày tháng này là những trưa mắt đỏ
Nghe gió luồn qua những lối thân quen
Ngóng chim về bên thềm vắng, mái hiên
Và nắng đổ trên sân vàng thương nhớ

Ngày thì rộng, tháng thì dài, tôi biết làm sao cho hết, nên phải tìm quên bằng cách lao vào những “sinh hoạt phường khóm” ở địa phương mà trước đây tôi thường tìm cách trốn tránh như khai bệnh, hay viện cớ phải ở nhà phụ má chăm sóc ông ngoại đang trở bệnh nặng. Tôi ghi tên vào nhóm dạy “bình dân học vụ” trong khóm của mình để khỏi phải đi “lao động” mỗi tháng. “Học trò” của chúng tôi phần lớn là phụ nữ, chỉ có một vài người đàn ông, tuổi từ trung niên đến cao niên, ngày xưa chắc vì cơm áo không được học chữ, nay “cách mạng” bắt phải đi học i tờ, nếu không thì sẽ bị cắt phần gạo và nhu yếu phẩm hằng tháng. Tôi đi dạy như vậy, mỗi tháng cũng mua được mấy ký gạo, chứ không có lương lậu gì cả.
    Nhóm “thầy cô giáo” tay ngang này, ngoài tôi ra còn có hai anh chàng cùng trang lứa là Thanh và Thu. Hai anh này nhà ở gần nhau, và chỉ cách nhà ông ngoại tôi chừng mấy trăm thước. Từ nhà chúng tôi đến lớp có thể đi bộ được, qua vài con đường im ắng, có những hàng cây sum sê tàng lá hai bên vệ đường, thoang thoảng mùi gió từ đại dương, vì chỗ chúng tôi ở không xa biển là mấy. Lớp học nhóm vào buổi tối, học trò chỉ lèo tèo năm sáu người, đi học thật trễ, lại hay xin về sớm. Lớp học là trụ sở của khóm, có dựng một tấm bảng đen dã chiến tựa vào vách tường, bên cạnh là vài viên phấn vụn. Những người lớn tuổi, sau một ngày mệt nhọc để kiếm sống qua ngày trong xã hội “mới”, thường than mệt nhọc, mắt mờ, cả người mỏi mê, học làm sao vô, họ bảo vậy.
    Tụi tôi thì mệt kiểu khác, đang còn tuổi ham chơi mà phải đi làm, nhất là vào ban đêm, tuy mỗi tuần đến lớp chỉ có hai lần. Mấy người lớn nói tiếng Việt dẻo quẹo, nhưng không biết đọc, thấy việc gắn âm vào chữ, hay nhìn chữ cho ra âm, sao mà khó vậy. Ba vị thầy cô thì thi nhau mà đọc như cuốc kêu cho học trò nghe, giảng giải, sửa giọng, tập viết cho học trò cũng chẳng kém phần vất vả. Thanh, Thu và tôi lớn lên ở miền Nam tự do, được hấp thụ nền giáo dục nhân bản, văn minh của chế độ cộng hoà, được dạy bảng mẫu tự tiếng Việt một cách thanh tao, đọc a, bê, xê, dê, đê... đàng hoàng đâu vào đó, chẳng thua kém gì bảng mẫu tự tiếng Tây. Bây giờ mấy ông ở rừng ra, bắt phải đọc và dạy học trò là a, bờ, cờ, dờ, đờ... nghe thật chướng tai và đọc thật ngượng miệng, vậy mà phải theo cách đó, không thôi bị dán nhãn “phản động” thì cũng rầy rà. Chẳng hạn như ngày xưa chúng tôi được dạy đánh vần chữ “Việt” là vê... i... vi... ê... vê... tê... viết... nặng... việt, thì bây giờ mấy ông bảo phải đánh vần theo kiểu i... ê... tờ... iết... vờ... iết... viết... nặng... việt, chúng tôi phải đau khổ mà làm y như vậy.
    Niềm vui của ba đứa chúng tôi là... lúc lớp học kết thúc, học trò lục tục ra về, miệng thì ngáp dài liên tục, trong lúc ba thầy cô giáo hân hoan chạy ra khỏi trụ sở khóm, hít hà mùi thơm của cây lá trong đêm tĩnh lặng. Ba chúng tôi sánh bước đi bên nhau, lúc nào tôi cũng đi giữa, Thanh và Thu đi hai bên, tựa như vô tình làm “gạc-đờ-co” cho cô giáo nhỏ nhắn là tôi. Giữa hai anh chàng, Thanh đẹp trai hơn Thu, lại có vẻ “sang” hơn một chút, ăn mặc lúc nào cũng chỉnh tề, có phần chải chuốt, dù chỉ là để... đi dạy bình dân học vụ. Thu, trái lại, có vẻ “trung bình về mọi phương diện”, xuề xoà, giản dị. Thanh hoạt bát, dí dỏm, còn Thu ít nói, không thích đùa. Tôi là người đứng giữa, cố dung hoà cá tính khác nhau của hai người bạn mới này. Những lúc cùng đi đến lớp với nhau, cùng dạy học (theo ba nhóm nhỏ), hay cùng đếm bước về nhà, tôi thấy tạm quên đi nỗi buồn lúc nào cũng canh cánh trong lòng. Mỗi lần như vậy, hình ảnh của Việt như mờ đi một chút trong tôi, vì tôi đang bận bịu nói cười rôm rả với hai “đồng nghiệp” bất đắc dĩ.
    Chẳng biết tôi có giàu tưởng tượng hay không, nhưng tôi có cảm tưởng là hai anh chàng này cũng có cảm tình với tôi, một loại cảm tình “đặc biệt” chứ không phải thứ cảm tình suông của một người với một người. Với tưởng tượng đó, tôi thấy lòng mình lâng lâng vui sướng, nghe như tự ái được vuốt ve, sau mối tình buồn với Việt. Không có gì làm tổn thương nặng nề bằng cảm giác mình bị phụ tình, bị “bỏ”, hay nói thẳng thừng ra là bị “đá”. Tôi chưa bao giờ quên câu Em là gái trời bắt xấu, vốn là tựa đề tập thơ nổi tiếng của nữ sĩ Lệ Khánh, mà cũng là nỗi niềm của riêng tôi. Ngặt một điều là khi yêu, chắc ai cũng quên đi chính mình, cũng tan vào cảm xúc, chỉ thấy hai tâm hồn quyện vào nhau mà không còn nhớ tới dung nhan của ai là ai. Ngày trước, Việt có vượt qua được bề ngoài tầm thường—nếu không muốn nói là xấu xí—của tôi thì anh mới yêu được tôi, tôi vẫn thường nghĩ vậy. Bây giờ, thấy Thanh và Thu dường như cũng nhìn thấu đến tâm hồn của tôi hay sao mà hai anh chàng cùng đối xử với tôi thật dịu dàng, đằm thắm.
    Một hôm, Thanh, người hoạt bát, như muốn tỏ ra rằng mình có khiếu nhận xét, nói với Thu, nhưng chắc là cốt để tôi nghe:
    “Thuỳ Linh là người sống nội tâm, phải không Thu?”
    Thu, người điềm đạm, đủng đỉnh trả lời:
    “Ông khỏi cần nói tôi cũng biết!”
    Tự hồi nào, hai anh chàng này đã bắt đầu “cạnh tranh” với nhau, và đối tượng của sự cạnh tranh đó không ai khác hơn là tôi. Những lời qua tiếng lại giữa hai anh chàng, tuy không có gì nặng nề, vẫn toát ra những ý tứ ngầm khích bác nhau, hay cố tỏ ra một cách gián tiếp cho tôi thấy, mỗi người trong bọn họ mới là kẻ “trên cơ”, đáng để cho tôi chú ý đến hơn người kia. Chẳng hạn, khi tôi vừa nói lên điều gì, Thu thường mau mắn trả lời trước, trái với tính hay trầm ngâm cố hữu của anh ta. Về phần Thanh, hắn cũng nhận thấy sự thay đổi đột ngột này của “đối phương”, lại như càng trở nên hoạt bát hơn trước. Chỉ có tôi ở giữa là vui vẻ thấy mình cũng không đến nỗi tệ, đang được là mục tiêu nhắm tới của hai chàng trai mới lớn. Nỗi buồn lâu nay tạm lắng xuống, bên cạnh những niềm vui nho nhỏ với hai người bạn mới này.
    Những đêm cùng đi dạy với nhau về, Thanh và Thu là người chia tay với tôi trước, vì nhà của họ gần hơn, còn tôi phải đi thêm một đoạn đường nữa mới về đến nhà mình. Những câu chuyện chúng tôi trao đổi với nhau thường về các đề tài không ăn nhập gì đến cuộc sống ngột ngạt lúc bấy giờ, mà hướng về những chuyện xa vời như văn chương, âm nhạc hay phim ảnh, như những lối thoát khỏi thực tế sần sượng hằng ngày. Có lúc tôi nhắc đến nền thi ca tiền chiến và những thi sĩ nổi tiếng thời đó như Xuân Diệu, Huy Cận hay Chế Lan Viên, thì Thanh nhanh nhẩu ứng khẩu ngay:
    “Ồ, tưởng gì chứ tôi thuộc lòng nhiều câu thơ của những nhà thơ này lắm! —Rồi hắn đổi giọng ngâm nga, mà lại dám cả gan đổi lời của tác giả—Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá, ba người nhưng chẳng bớt bơ vơ...
    Hắn tiếp tục, chuyển sang mục... bình thơ:
    “Huy Cận diễn tả chỗ này thật tuyệt. Tình yêu là không bao giờ cảm thấy đủ cả, lúc nào cũng muốn tràn đầy, muốn thêm nữa, thêm nữa...”
    Thu phá ra cười:
    “Thôi đi ông cụ non, nhưng mà là bé cái lầm! Hai câu này là của Xuân Diệu chứ Huy Cận cái nỗi gì!”
    Thanh tỉnh bơ, tỏ ra không hề hấn gì khi bị đối thủ tấn công, nói tiếp:
    “Xuân Diệu với Huy Cận, tuy hai mà một, tuy một mà hai mà lị. Ông không nhớ mấy câu Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine, hai chàng thi sĩ thoáng hơi men, say thơ xa lạ mê tình bạn, khinh rẻ khuôn mòn bỏ lối quen... hay sao chứ?”
    Thu cảm thấy mình cũng phải trổ tài:
    “Xuân Diệu hay Huy Cận có lãng mạn mấy cũng không bằng cái lãng mạn vò xé, khắc khoải trong tình yêu của Chế Lan Viên: ...Nàng không lại, và nàng không lại nữa, cả thân ta dần tan trong hơi thở, một đêm nay lòng hỡi biết bao sầu!
    Không dưng tôi biến thành “cô giáo”, tủm tỉm cười, thầm cho điểm hai chàng trai đang hào hứng tranh tài. Con đường về khuya thật thanh vắng, sương đêm mát lạnh, chỉ có tiếng nói cười vô tư, dòn dã của bọn tôi vang lên trong cõi đêm.
 
o O o
 
Rồi cuối cùng hình như tôi đã quyết định “chấm điểm” cho hai anh chàng đó. Tôi cho Thu điểm cao hơn, dù anh ta rõ ràng là thua kém Thanh về nhiều phương diện. Không hiểu sao, bản tính lầm lì, im lặng của Thu lại lôi cuốn tôi hơn là sự hoạt bát, ồn ào của Thanh. Bề ngoài bình dị của Thu một hôm bỗng trở thành thứ yếu đối với tôi, khi tôi biết ra anh chàng này, ngoài tài thuộc làu thơ phú, còn biết sáng tác nhạc và có nét chữ viết tay thật đẹp, thật bay bướm. Thanh biết chơi đàn, nhưng làm sao so sánh được với kẻ biết soạn nhạc như Thu. Hơn nữa, Thanh như một cuốn sách mở, bao nhiêu trang giấy, chữ nghĩa phơi bày ra rõ rệt, còn Thu không khác gì một cuốn sách cũ, khép kín, phủ đầy bụi, nằm im lìm chờ đợi một bàn tay nào đó giở ra, lần theo từng trang giấy để khám phá ra những tâm tình chôn giấu trong đó.
    Dần dần, tôi hiểu rõ Thanh và Thu hơn, vì chúng tôi đã bắt đầu gặp mặt, đi chơi với nhau ngoài những lúc cùng nhau dạy học. Thanh thì lúc nào cũng cởi mở, vui vẻ. Còn Thu thì dường như có một tâm sự, một nỗi buồn gì mà anh ta không thố lộ được. Làm việc và đi chơi với nhau một thời gian, tôi mới thấy ra rằng thật sự cảm tình của Thanh và Thu đối với mình cũng không hẳn là đặc biệt như tôi đã lầm tưởng. Chắc phải tách tĩnh từ “đặc biệt” ra khỏi danh từ “cảm tình” của họ dành cho tôi thì đúng hơn. Biết được vậy, tôi cũng hụt hẫng và thoáng buồn đôi chút, nhưng rồi cảm xúc đó cũng qua đi. Đổi lại, tự dưng tôi thấy một chút gì háo hức muốn chinh phục hai người, không, chinh phục Thu—không phải Thanh— mới đúng.
    Tôi trở nên lãng mạn bất ngờ. Lãng mạn một mình thôi, không có người nào bên cạnh, nhưng cũng đủ ngây ngất để thỉnh thoảng lại đi ra biển, ngồi trên bãi cát, chỉ để ngắm màu xanh ngăn ngắt của đại dương, để nghe tiếng sóng vỗ bờ, để nghe hàng dừa reo trong gió, như những ngày xưa còn yêu Vũ. Lãng mạn chưa bao giờ chết trong tôi. Tôi đã quên mất biển trong một thời gian dài, vì sau Vũ, tôi đã có dòng sông khác xuất hiện trong đời, và tôi có Việt. Tôi nghe như mình đang thầm thì xin lỗi biển. Biển đã hiện diện trước mắt tôi từ thuở ấu thời, nên nhiều khi tôi coi thường nó, coi như chuyện đã đành. Nhưng ngẫm lại, cũng chính biển đã đem lại cho tôi bao nhiêu cảm xúc dạt dào, như đại dương bao giờ cũng dạt dào, mênh mông. Có một thời, tôi đã mải mê tìm đến những dòng sông, như tìm đến những cảm xúc mới lạ. Rồi những dòng sông đó đã phụ tôi, để cuối cùng tôi đã trở về với biển cả. Cũng như tôi đã tìm ra những người bạn mới trong chuỗi tháng ngày nhạt nhẽo của mình.
    Một hôm, tôi quyết định đến nhà Thu chơi mà không báo trước. Hôm ấy là một ngày trong tuần, tôi biết ba má Thu đã đi làm nên mới mạnh dạn đến nhà anh ta. Đứng trước cửa nhà Thu, tôi hồi hộp nhìn cái chuông, một hồi sau mới dám đưa tay ra bấm nút. Thu ra mở cửa, khá ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi. Hồi giờ lúc nào chúng tôi cũng gặp nhau cả ba người, đây là lần đầu tiên chỉ có Thu và tôi. Anh nói, như không tin vào mắt mình:
    “Ủa, Thuỳ Linh đến có chuyện gì vậy?”
    Tôi hơi ngượng, ừ, mình đến có chuyện gì vậy nhỉ. Vài giây đồng hồ sau, tôi mới đáp:
    “Ơ... Linh đi ngang nhà Thu, tự dưng muốn ghé chơi vậy mà!”
    Như một phản xạ, Thu nhìn sang nhà Thanh cách đó vài căn, hỏi tiếp:
    “Thanh có thấy Thuỳ Linh ghé đây không?”
    “Linh không biết—tôi cắn môi—mà Thanh có thấy hay không cũng có sao đâu!”
    Chắc Thu thấy mình nói hớ, mở rộng cửa, mời tôi vào, không nói gì nữa. Tôi e dè bước vào nhà, không dưng thấy cảm động vì được đứng trong nhà của Thu, trong thế giới rất riêng tư của anh, mà hồi giờ tôi chưa bao giờ mường tượng ra. Bỗng dưng, cả hai đứa cùng luống cuống, không biết nói gì, làm gì nữa, mặc dù mọi lần đi chung với Thanh, chưa bao giờ chúng tôi có cảm giác đó. Sau một thoáng im lặng nặng nề, Thu cất tiếng phá tan bầu không khí ngột ngạt bằng một giọng cố làm ra vẻ tự nhiên:
    “Thuỳ Linh ngồi chơi ở đây nhe. Tôi chạy ù ra đầu đường mua một bao thuốc lá. Hết thuốc rồi, sáng ra chưa có cà phê cà pháo gì cả! Về rồi tôi sẽ pha cho hai đứa mình hai tách cùng nhâm nhi cho vui.”
    Tôi chưa kịp ừ hử gì thì Thu đã biến mất ra ngoài đường. Tôi khẽ khàng ngồi xuống cái sofa, nhìn quanh quất trong phòng khách. Gian phòng tĩnh lặng một cách lạ thường. Đúng là mỗi nhà là một thế giới khác, chứa đựng biết bao nhiêu điều, bao nhiêu bí mật, mà người ngoài không thể hiểu nổi. Trên vách không có tranh ảnh gì cả, chỉ có một bức hình của ba má Thu đặt trên cái tủ chè nằm im lìm trong góc phòng. Thu là con một trong gia đình, tôi chỉ biết có vậy thôi.
    Tôi ngồi lóng ngóng một mình chưa đầy năm phút thì Thu đã về. Anh ào vào trong nhà như một cơn gió, tay cầm một điếu thuốc đang cháy dở. Hôm nay tôi mới biết là Thu hút thuốc, trước đây chưa bao giờ thấy anh phì phèo thuốc lá cả. Có điếu thuốc, Thu như tỉnh hẳn ra, và vui vẻ nữa:
    “Thuỳ Linh đợi có lâu không? Để tôi vào pha cà-phê uống nhe. Linh uống đen hay có sữa?”
    “Cho Linh chút sữa”—tôi e dè nói, không còn tự tin như mọi lần.
    Thu vào bên trong một chốc rồi trở ra với hai tách cà-phê trên tay. Anh nhẹ nhàng đặt hai cái tách xuống bàn rồi lên tiếng mời tôi. Khi tôi với tay nâng cái tách lên, Thu lại đánh diêm mồi thêm một điếu thuốc nữa.
    “Hồi giờ Linh có thấy Thu hút thuốc đâu!”—tôi nói, giọng như có một chút trách móc.
    Thu rít một hơi thuốc dài, mắt lim dim nhìn làn khói trắng anh vừa nhả ra, khoan khoái, nói với giọng hờ hững:
    “Tôi còn nhiều điều Thuỳ Linh chưa biết lắm.”
    Tôi không biết đáp lại câu đó làm sao lên chỉ im lặng hớp một ngụm cà-phê sữa cho khỏi thấy trống trải. Sau đó thì tôi biết mình có thể nói gì:
    “Thu pha cà-phê sữa khéo lắm. Không quá đắng, không quá ngọt.”
    “Ước gì đời mình cũng được thăng bằng như vậy”—Thu tiếp lời tôi nói.
    “Sao Thu có vẻ chán đời như vậy?”—Lần đầu tiên tôi mới nhận thấy Thu có đôi mắt thăm thẳm, như chứa đựng nhiều điều u uất.
    “Đời đáng chán hay không đáng chán, cất chén quỳnh riêng hỏi bạn tri âm”—Thu đọc lên hai câu thơ như để trả lời tôi, mà cũng như cùng tác giả hỏi một câu đầy triết lý đó—“Thuỳ Linh có biết ai là tác giả hai câu này không?”
    “Chịu!”—tôi lắc đầu—“Nghe câu này đâu đó mà Linh không biết là của ai.”
    “Của Tản Đà đó Linh. Cả trăm năm trước mà ông đã hỏi câu này rồi!”—Thu nói, như đang ở một nơi nào khác.  
    Chợt như trở về với thực tại, Thu nhìn tôi soi mói:
    “Tại sao hôm nay Thuỳ Linh lại ghé chơi? Có  phải là vì Linh nghĩ tôi có ý gì với Linh không?”
    Bị một câu hỏi quá bất ngờ, tôi nghe lạnh cả mình. Tôi không dè Thu lại hỏi thẳng thừng như vậy. Phản ứng, ngôn từ trong tôi bay đi đâu mất cả. Tôi ngồi ngây ra như tượng, chẳng nói chẳng rằng. Chắc thấy tôi tội nghiệp quá, Thu hạ thấp giọng, dịu dàng nói:
    “Xin lỗi Thuỳ Linh nhiều. Tôi ăn nói đường đột quá. Tôi không có ý làm Linh buồn.”
    Bấy giờ, tôi đã trấn tĩnh lại phần nào, nói rời rạc:
    “Thu đâu có lỗi gì. Thu chỉ nói lên những gì Thu nghĩ mà. Người đường đột mới chính là Linh đây.”
    Thu nói, như đang trong một giấc mơ:
    “Ừ, mà Thuỳ Linh nói đúng đó. Tôi có ý gì với Linh thật. Tôi quý Linh lắm, quý hơn Linh có thể tưởng tượng được. Nhưng... tôi không dám tiến xa hơn chút nào nữa, vì... vì... vì một lý do mà tôi không muốn cho Linh biết. Chẳng có ích lợi gì cả. Chẳng có ai sửa đổi được gì đâu.”
    Tai tôi như ù đi, không còn nghe Thu nói nữa. Tôi loạng choạng đứng lên, lúng búng mấy lời từ giã, rồi quay ra cửa, đi như trốn chạy. Con bé lọ lem ngày nào lại chạy như ma đuổi, như lịch sử vẫn muôn đời lặp lại. Có khác chăng là tôi không làm rớt lại chiếc giày nào, vì dẫu có thế, cũng chẳng ai buồn nhặt lên để tìm lại chủ nhân của nó chi cho phiền toái. Buổi trưa hôm ấy trời nắng gắt, mà hồn tôi nghe lạnh lẽo tựa mùa đông.
 
o O o
 
Ngày tháng như khoác lại bộ cánh buồn bã cũ, còn tôi mang lại chiếc mặt nạ ngậm ngùi tưởng đã quên đi. Tôi hí hoáy mấy dòng thơ vào trang nhật ký tội tình:

Con lòng tong nhỏ trôi đi
Bâng khuâng buồn lại phương phi giữa trời
Thêm một lần bước rong chơi
Thấy trang kinh ấy là lời hư không

Sau hôm ở nhà Thu về, tôi lên văn phòng khóm xin nghỉ dạy bình dân học vụ. Họ bắt tôi phải chuyển qua đi lao động hai tháng một lần. Tôi nhận lời ngay, không nghĩ ngợi gì cả. Thôi thà lâu lâu phải đi ra khỏi thành phố, làm việc tay chân, có lẽ cũng tốt cho đầu óc khỏi vướng bận gì. Tôi còn muốn trốn chạy luôn thành phố này. Nhưng sao lúc nào tôi cũng phải trốn chạy hoài vậy nhỉ. Tôi còn biết đi đâu đây. Nơi này là nơi chôn nhau cắt rốn, tôi có trốn được nó thì cũng đâu thể nào trốn tránh chính mình. Tôi là nạn nhân của chính tôi chứ nào phải của ai.
    Không biết tự lúc nào, tôi trở lại với thói quen đạp xe đi loanh quanh thành phố. Thành phố thân quen, im lìm, chịu đựng này mà tôi đã tạm thời quên bẵng lâu nay, bây giờ như ôm choàng lấy tôi, bao dung, vỗ về. Thành phố không giận tôi, còn tha thứ cho tôi, còn thương xót cho tôi nữa. Tôi đạp xe đi miên man, từ con đường này qua con đường khác, đi dưới những tàng cây rậm rạp toả bóng mát, hay băng qua nhiều con phố chỉ toàn là các dãy nhà sừng sững hai bên đường, không có lấy một bóng râm. Đi trong thành phố mà hồn tôi thả tận đâu đâu, trong đầu chỉ hiện lên hình ảnh những dòng sông—dòng sông tôi đã thấy, dòng sông tôi chưa bao giờ thấy, và, chợt tôi nghiệm ra rằng sông có khác gì biển đâu. Sông cũng tràn đầy nước và nước như biển cả, cũng dạt dào cảm xúc, nhớ thương, buồn giận, cam chịu, lặng lờ. Sông ngọt ngào, trầm lắng; biển mặn mà, đôi khi thịnh nộ. Nhưng con sông nào rồi cũng quay ra biển, hoà nhập vào vùng nước mênh mông, mang lại nhiều hương vị pha trộn lạ lùng, khó hiểu.
    Ngày trước, lẽ ra tôi đã nói với Vũ:
    “Linh biết dòng sông này sẽ chảy về đâu rồi Vũ ạ.”
    Vũ sẽ hỏi:
    “Về đâu hở Linh?”
    Tôi sẽ khẽ vuốt những sợi tóc bay trong gió, đang mơn man gương mặt mát rượi của mình, mỉm cười đáp:
    “Về biển cả. Và khi ra đến biển rồi thì không còn đâu là biên giới nữa. Ở Nha Trang, Linh cũng có thể ‘cảm’ được đoạn sông này của dòng sông Dinh.”
    Hay tôi đã hỏi Việt:
    “Anh có biết vì sao Ti không muốn ra dòng sông Tắc với anh không?”
    Rồi tôi sẽ tự trả lời câu hỏi của mình:
    “Vì Ti không muốn bị thất vọng. Nếu Ti chưa bao giờ thấy dòng sông, nó sẽ mãi mãi đẹp và huyền ảo trong trí tưởng tượng của Ti.”
    Nếu Việt có hỏi gì, chắc tôi cũng chỉ khẽ cười và đổi sang đề tài khác.
    Với Thu, chắc tôi sẽ không bao giờ có dịp nói chuyện với hắn nữa. Nhưng giả dụ có một lần nào đó được ngồi bên Thu (tôi phác hoạ ra hình ảnh Thu đang cầm hững hờ một điếu thuốc trên tay. Gương mặt hắn xấu xí nhưng đầy nét quyến rũ như nhà văn Jean-Paul Sartre), tôi sẽ hỏi Thu:
    “Nhà Thu ở gần biển hơn nhà Linh. Biển có đóng một vai trò gì trong đời sống của Linh không?”
    Tôi hình dung ra vẻ trầm tư của Thu, mờ ảo sau làn khói thuốc. Hắn sẽ chậm rãi trả lời:
    “Sao Thuỳ Linh hỏi một câu bất ngờ quá vậy? Làm như Linh biết được cảm xúc của Thu vậy. Quả tình là biển rất quan trọng đối với Thu. Biển là người bạn thầm lặng mà Thu có thể gởi gấm hết tâm tình, về những điều Thu không thể nói với bất cứ người nào khác.”
    Tôi sẽ hỏi bằng một giọng thật dịu dàng:
    “Sao Thu lại u uất đến dường ấy? Linh không thể san sẻ một chút gì với Thu sao?”
    Tất nhiên là Thu sẽ lặng yên, và để thay câu trả lời, hắn sẽ đưa điếu thuốc lên môi, rít một hơi thật dài. Đốm lửa trên đầu điếu thuốc sẽ loé sáng lên, rực rỡ, và Thu sẽ thở ra những vòng khói trắng, bay mênh mông vào không trung. Và tôi sẽ ngậm ngùi im lặng theo, ngất ngây, say nhè nhẹ trong mùi thuốc lá, tưởng chừng như người ngồi đó là Việt. Như quá khứ chưa bao giờ mất đi, như những cảm xúc của tình yêu vẫn muôn đời còn đó.
    Thu ngồi đó, mà như ngồi ở đâu đâu. Tôi ngồi bên cạnh, mà như ngồi ở một tinh cầu khác. Mỗi chúng tôi là một thế giới hết sức riêng tư, không tài nào bước vào được. Ồ không, không chỉ là một thế giới, mà là cả một vũ trụ, thăm thẳm, khó hiểu, trải dài đến vô cùng vô tận. Mỗi chúng tôi là một cái chấm nhỏ trong vũ trụ bao la, mà cũng chứa đựng cả một vũ trụ bất tuyệt trong lòng của mỗi đứa.
    Chiều hôm trước, trong ánh nắng vàng nhàn nhạt, buồn bã đang phủ nhẹ lên cả thành phố, tôi lại đạp xe đi rong. Chiếc xe đạp cũ kỹ của tôi kêu lên ken két, thật trái ngược với nỗi niềm câm nín nặng nề trong tôi. Lúc xe rẽ qua đường Yersin, đi qua trước bệnh viện thành phố, tôi chợt thấy Thu và mẹ từ trong cổng bệnh viện đi ra. Thu đang dìu mẹ đi, nét mặt người mẹ như thất thần, mệt mỏi, bệnh hoạn. Tôi muốn dừng xe lại, xuống chào mẹ Thu và hỏi thăm hai mẹ con, nhưng chợt quyết định thật nhanh rồi tiếp tục đạp xe về phía trước. Chắc Thu đang bận bịu, không nhìn thấy tôi. Có lẽ hai mẹ con cũng không lòng dạ nào để chào hỏi tôi lúc ấy. Nhưng... chắc vì mẹ Thu bị bệnh nặng hay sao mà Thu có những thái độ. lời lẽ khó hiểu dành cho tôi hôm tôi đến nhà chơi, phải chăng là như thế. Thốt nhiên, tôi thấy thương Thu quá đỗi. Hoá ra Thu đang buồn vì bệnh tình của mẹ mình nên tỏ ra yếm thế, lạnh nhạt với tôi. Tôi đến thật không phải lúc. Nghĩ đến mình, tôi thầm cảm tạ ơn trên đã cho tôi thật nhiều may mắn. Ba má, anh chị em trong gia đình tôi vẫn mạnh khoẻ, bình an. Tuổi mới lớn của chúng tôi phải được vô tư, phải được hưởng những ngày xanh tươi mát, hồn nhiên, chứ đâu phải nặng lòng với những nghịch cảnh trong gia đình.
 
o O o
 
Thấy tôi vắng mặt trong buổi dạy tuần trước, Thanh ghé nhà tôi hỏi thăm vì sao. Tôi bình thản trả lời:
    “Tự nhiên chán dạy rồi, Thanh ơi! Thuỳ Linh xin nghỉ luôn rồi.”
    Thanh nhìn tôi, dò xét:
    “Thuỳ Linh với Thu có chuyện gì không, mà tôi thấy hắn thay đổi lắm. Buồn hẳn ra, lầm lì còn hơn trước nữa.”
    “Ai biết được!”—tôi nhún vai, cố làm ra vẻ thản nhiên, bất cần. Tôi muốn kể cho Thanh nghe mình có thấy Thu và mẹ trước cổng bệnh viện, nhưng nghĩ sao lại thôi. Chắc Thu cũng không muốn ai biết chuyện này.
    Thanh lại hỏi:
    “Hay là Linh giận tôi?”
    Tôi bật cười, giả lả:
    “Trời đất ơi, Thanh có làm gì để Linh giận đâu chứ!”
    Thanh không để ý đến câu trả lời của tôi lắm. Hắn nói, giọng trầm ngâm:
    “Thật ra thì... Thu với tôi đang... giận nhau, Thuỳ Linh à.”
    Tôi tròn mắt:
    “Hai ông mà giận nhau? Đàn ông con trai mà cũng bày đặt giận với hờn nữa sao?”
    Thanh cười cười:
    “Ai nói phụ nữ được độc quyền giận dỗi há?”—ngừng một chốc, hắn thấp giọng nói—“Nói giận thì cũng không đúng, chỉ là... mất hứng nói chuyện với nhau thôi.”
    Tôi tò mò:
    “Nhưng tại sao lại có chuyện như vậy?”
    “Vì Thuỳ Linh đó!”—Thanh buông thõng câu trả lời.
    “Vì Linh?”—tôi lại trợn mắt lên—“Chuyện gì kỳ cục vậy?”
    Thu ngó lên tàng cây nhãn trong vườn nhà ông ngoại để tránh ánh nhìn của tôi:
    “Vì tôi hỏi Thu có thích Thuỳ Linh không.”
    Lần này thì tôi không biết nói gì nữa, chỉ tiếp tục nhìn Thanh, chờ nghe tiếp câu chuyện, hai mắt vẫn tròn xoe.
    “Hắn không trả lời, mà hỏi lại tôi y như vậy.”
    Tôi thấy vui vui, khoanh hai tay lại, đợi câu trả lời cho câu hỏi của mình:
    “Rốt cục thì ai là người trả lời câu hỏi đó?”
    Thanh mím môi:
    “Không ai cả. Mà đâu có cần ai phải trả lời. Bộ Linh không tự biết được sao?”
    Bây giờ thì tôi thấy luống cuống. Im lặng một lúc lâu, tôi mới nói, ngượng ngùng:
    “Chỉ có vậy thôi mà hai ông giận nhau?”
    “Rồi tôi hỏi tiếp,”—Thanh nói như thầm thì—“Bộ ông ghen hả? Nói xong, tôi nhìn thẳng vào mặt Thu. Hắn cười gằn, khoanh hai tay lại trước ngực, nói rõ từng tiếng ‘Ông ghen với tôi thì có!’”
    Tôi nghe những lời đối đáp do Thanh kể lại mà gần như nín thở. Niềm kiêu hãnh được hai đứa con trai cãi nhau vì mình chợt nhường cho nỗi lo sợ. Tôi nóng ruột hỏi:
    “Rồi sao nữa? Hai ông không... đánh nhau chứ?”
    “Suýt nữa thì có chuyện lớn, Thuỳ Linh ạ,”—Thanh cười nửa miệng—“Cái bản mặt của Thu lúc ấy tôi thấy sao mà đáng ghét thế, chỉ muốn tát cho một cái mới hả. Nhưng tôi kiềm cơn giận lại kịp, chỉ bỏ đi một mạch, không thèm nhìn lại. Đêm đó là đêm cuối cùng Linh còn đi dạy với tụi tôi, sau khi Linh đã chia tay đi về nhà.”
    Tôi thở dài:
    “Chắc hai ông hiểu lầm nhau đó thôi. Bạn bè như tụi mình mà giận nhau thì đáng tiếc lắm.”
    Tôi còn muốn nói thêm— “Vả lại, hình như gia đình Thu đang có chuyện không vui,” —nhưng tôi chỉ đứng làm thinh một hồi lâu. Thanh cũng không nói gì nữa, lặng lẽ gật đầu chào tôi rồi ra về.
 
o O o
 
Nhưng chỉ một tuần sau đó, Thanh lại hộc tốc chạy đến nhà tôi:
    “Thuỳ Linh biết gì chưa? Thu chết rồi!”
    Tôi nghe mà rụng rời tay chân, lắp bắp hỏi lại Thanh:
    “Thanh nói gì? Ai chết? Tại sao Thu lại chết?”
    Thanh không trả lời. Hắn đứng khóc ròng. Lần đầu tiên tôi thấy Thanh khóc. Nước mắt tôi cũng giàn giụa từ lúc nào. Hôm tôi đến chơi với Thu, không biết câu chuyện ngày hôm đó có liên quan gì đến cơ sự này không. Tôi lại hỏi:
    “Mà tại sao Thu chết mới được?”
    Thanh mếu máo đáp:
    “Nó tự tử, Thuỳ Linh à. Uống mấy chục viên Chloroquine lận!”
    Trời như đang sụp lên đầu. Đất như sụt dưới chân. Tôi vẫn lắp bắp:
    “Tại sao lại tự tử?”
    Thanh đã bình tĩnh lại một chút, nhưng giọng hắn vẫn đầy nước mắt:
    “Thu bị một chứng nan y. Nó chọn cách tự mình quyết định mạng sống. Ba má nó cho tôi biết như vậy.”
    Hai mắt tôi lại nhoà đi. Thanh ra về lúc nào, tôi không hề hay biết. Những lời nói của Thu hôm nào, có ngờ đâu là những lời cuối cùng tôi nghe được. Bây giờ. nghĩ lại, tôi thấy đó nghe ra như những lời trăn trối. Thu còn trẻ quá, trẻ quá... mà sao... mà sao... Tôi cảm thấy mình như chợt trở thành một chứng nhân bất đắc dĩ, nghe được những lời tâm sự của Thu, mà không có can đảm kể lại với ai, vì chính mình cũng đóng một vai trò khó nói trong câu chuyện đó.
    Tôi bị sốc nặng. Những ngày tháng kế tiếp, tôi không còn nhớ ra khi nào là khi nào nữa. Tôi chỉ kể lại vắn tắt cho má nghe câu chuyện của Thu, cắt bỏ phần có mình trong đó. Ngày cử hành tang lễ của Thu, tôi chỉ dám đứng xa xa nhìn, không dám lại gần một sự thật vô cùng khủng khiếp. Người nào, kể cả Thanh, biết được tôi quen với Thu ra sao mà không đến nói được một lời chia buồn với ba má Thu, hẳn phải cho tôi là kẻ hết sức vô tình, quá đỗi bạc bẽo. Nhưng tôi không thể nào làm gì khác nữa.
    Khoảng một tháng sau, vào một buổi trưa nắng gắt, tôi đang ngồi rầu rĩ bó gối trên chiếc giường của mình, ngó mông ra cửa sổ, thì má ghé đầu vào phòng tôi, bảo:
    “Thuỳ Linh, có ba của Thu ghé, muốn gặp con.”
    Tôi hết hồn, nhớn nhác đứng dậy, vuốt vội mái tóc, bước vội ra khỏi phòng.
    Ông Quy đang đứng trước hàng hiên. Má mời ông vào phòng khách, rồi xuống bếp mang lên tách trà nóng:
    “Mời anh dùng nước. Xin chia buồn với anh chị nhiều về chuyện cháu Thu. Anh ngồi đây nói chuyện với Thuỳ Linh nhé.”
    Ba Thu nói lời cám ơn với má. Bà rút lui vào trong, còn lại tôi ngồi lóng ngóng, đối diện với ba của Thu. Tôi thu hết can đảm, nói với ông:
    “Thưa bác, cháu xin lỗi bác thật nhiều đã không đến tiễn đưa anh Thu. Vì cháu... cháu...”
    Tôi nghẹn ngào không nói tiếp được nữa. Ông Quy vội nói, giọng bùi ngùi:
    “Bác thông cảm, cháu không cần giải thích. Hôm đó bác có thấy cháu đứng từ xa nhìn đến. Bác đoán cháu cũng có lý do riêng, nhưng bác tôn trọng cháu. Không có gì đâu.”
    Tôi nhìn ông với ánh mắt biết ơn, hai hàng nước mắt lăn dài trên má. Ông Quy ái ngại nhìn tôi. Hai mắt ông ráo hoảnh. Chắc ông đã khóc hết nước mắt, hay cũng có khi ông không nhỏ được giọt nào, để cho niềm đau khổ còn tăng lên biết bao nhiêu lần.
    “Chắc cháu cũng thắc mắc vì sao hôm nay bác lại đến đây gặp cháu,”—ông Quy hắng giọng—“Thu nó mất đi, để lại hai lá thư, một lá cho vợ chồng bác, còn một lá là dành cho cháu đây.”
    Ông móc túi lấy một phong thư dán kín, chìa ra cho tôi. Tôi sững sờ đưa tay ra đón lấy cái phong bì, đầu óc vô cùng hoang mang. Tôi không mở miệng ra nói được một lời nào. Mọi cảm xúc của tôi như đang đông cứng lại, tôi không biết phải vui hay buồn, phải cười hay phải khóc.
    Giọng ông Quy vang lên đều đều trong buổi trưa vắng lặng:
    “Bác đoán Thu phải có cảm tình rất đặc biệt với cháu nên mới để lại lá thư này, ngoài lá thư dành cho hai bác. Bác muốn cám ơn cháu, vì đến đây để đưa lá thư này cho cháu, tự nhiên bác có một cảm giác thật ấm áp, như một niềm an ủi trong nỗi đau buồn sâu đậm của bác, như một níu kéo điều gì đã mất, dầu là trong tuyệt vọng.”
    Ông Quy đứng lên:
    “Cháu mở thư ra đọc nhé. Mong là Thu không làm cháu buồn thêm qua những lời lẽ nó viết trong đó. Bác về đây.”
    Tôi thẫn thờ đứng lên tiễn ông Quy ra ngoài cổng, lí nhí lời chào và cám ơn ông. Nhìn dáng ông đi xiêu vẹo trong nắng trưa buồn bã, tôi nghe như nát tan trong lòng, và sực nhớ ra là mình đã quên mời ông uống nước.
    Tôi quay vào trong nhà. Má đứng dưới bếp ngó lên, không nói gì. Chắc má cũng nghe loáng thoáng những gì ba của Thu nói với tôi. Bà đứng yên, không bước lên nhà trên, để mặc tôi chạy vào phòng. Tôi ngồi xuống giường, hồi hộp mở phong bì ra, đọc lá thư của một người đã không còn nữa.

Nha Trang ngày... tháng... năm...
Thuỳ Linh rất quý mến,
Chữ nghĩa sẽ còn mãi mãi, cho dù người viết chúng ra sẽ không còn nữa. Tôi viết ra những dòng này mà cũng thấy rợn cả người vì ý nghĩ đó. Ngay lúc này, tôi có một tâm tình rất ư là mâu thuẫn. Một mặt, tôi ước ao rằng Thuỳ Linh mến, không, rất mến tôi, và còn hơn như vậy nữa... để khi tôi ra đi cũng còn được một chút niềm vui cuối cùng mà cuộc sống đã tặng tôi. Mặt khác, tôi cũng mong là Thuỳ Linh chỉ... thích tôi một chút, một chút xíu thôi, để khi tôi không còn trên cõi đời này thì nỗi buồn của Linh dành cho tôi sẽ chỉ nhẹ như một làn gió thoảng.
    Tôi không muốn nói rõ hơn điều gì nữa, vì lá thư này tự nó đã nói lên tất cả những tình cảm của tôi dành cho Linh. Giờ phút này, tôi còn ngồi đây viết những dòng chữ mà Thu đang đọc cũng đã là một cố gắng quá sức của tôi. Vì đáng lẽ ngay bây giờ phải là lúc tôi sám hối, gục đầu chịu tội bất hiếu không biết đến kiếp nào mới gột rửa được đối với ba má tôi.
    Nhưng tôi vẫn mong ba má tôi cuối cùng rồi cũng hiểu được quyết định tàn nhẫn của tôi đối với mạng sống của chính mình. Bác sĩ đã cho tôi biết tôi không còn bao lâu nữa. Vậy thì tại sao tôi phải tự giết lần giết mòn mình vì bị nỗi sợ hãi gậm nhấm từng phút, từng giây? Nói khác đi, tôi đã thách đố định mệnh trớ trêu bằng cách chứng tỏ cho nó thấy chính tôi, chứ không phải nó, mới là người định đoạt số phận của mình. Tôi mong Thuỳ Linh, bằng cách này hay cách khác, cũng sẽ hiểu được điều này.
    Xin lỗi Linh về những lời nói sống sượng của tôi trong lần gặp nhau của tụi mình, lần đầu mà cũng là lần cuối. Tôi cố tình làm cho Linh ghét tôi để quên tôi đi, và cũng để cho tôi không có lý do gì để gặp lại Linh nữa. Bây giờ thì có lẽ Linh đã hiểu tại sao hôm đó tôi lại ăn nói như vậy.
    Cuối cùng, tôi muốn cám ơn Thuỳ Linh thật nhiều, thật nhiều, đã mang lại cho tôi niềm vui, dù rất đỗi mong manh, trong những ngày tháng còn lại của tôi (mà chắc Linh cũng không ngờ đến). Tôi không mất đi tất cả, vì tôi vẫn còn tình thương vô bờ bến của ba má tôi, còn tình cảm của Linh dành cho tôi, dẫu nhiều, dẫu ít.
Cũng nhờ Linh chuyển lời xin lỗi chân thành của tôi đến Thanh. Thanh là một người bạn rất tốt mà tôi đã gặp, dù chỉ trong một thời gian ngắn ngủi. Không biết Thanh có kể lại chuyện đáng tiếc giữa hai đứa tôi cho Linh nghe chưa, nhưng tôi phải mến Thanh nhiều hơn thay vì bực hắn mới phải. Dầu gì đi nữa, chúng tôi cũng cùng chí hướng, cùng yêu mến một người, chẳng khác gì hai kẻ có cùng khiếu thưởng ngoạn văn chương hay nghệ thuật vậy.
    Thuỳ Linh ở lại, sống cho thật tràn đầy, thật vui vẻ nhé. Chúc Linh đạt được những mộng ước của mình, ở nơi này, hay ở một phương trời xa xôi nào đó.
Người bạn thoáng qua đời Linh,
    Thu

Vài giọt nước mắt của tôi rớt xuống lá thư. Tôi rưng rưng gấp tờ giấy lại, ấp vào lồng ngực của mình hồi lâu. Trong một thoáng, tôi thấy mình lớn hẳn ra, không còn là con nhỏ Thuỳ Linh vô tư ngày xưa nữa. Nhưng hình như tôi cũng ngậm ngùi từ giã hồn nhiên từ lâu rồi mà, từ lúc xa Vũ, xa Việt—và bây giờ—xa Thu mãi mãi. Tôi lẩn thẩn tự hỏi, giữa một người còn sống mà mình sẽ không bao giờ gặp lại, và một người đã mất đi thật sự, có gì khác nhau không. Hay với tôi, tất cả những kẻ đó đều đã chết hẳn, và đối với họ, tôi cũng đã chết từ lúc chúng tôi chia tay nhau.
    Một chiều nọ, má đi đâu vắng. Tôi ở nhà một mình, thấy ngôi nhà như rộng hẳn ra, và tôi thì tự dưng nhỏ bé hẳn lại. Tuổi vừa lớn, tôi say mê khám phá những tình cảm mới lạ, mà tình cảm nào rồi cũng đem lại cho tôi những ê chề và bẽ bàng. Lâu nay tôi như quên mất má, quên đi một tình thương không bờ bến, không điều kiện. Tôi thấy thương má quá, và có lỗi với má thật nhiều. Tôi chỉ ích kỷ chạy theo những hình bóng xa vời, hiếm khi để ý đến má, săn sóc má. Thấy bà còn đi ra đi vô, còn nói nói cười cười, còn làm việc này việc nọ, tôi đã ỷ y quá đáng, coi như chuyện đã đành. Thốt nhiên, tôi giật mình nghĩ đến ngày má sẽ ra đi. Chẳng lẽ đến lúc đó tôi mới biết thương má hay sao.
    Tôi ứa nước mắt, nhủ thầm lát nữa má về, tôi sẽ sà vào lòng má, sẽ hôn lên cái lưng gầy gò nhẫn nhục của bà. Chắc má sẽ vui lắm, nhưng bà sẽ làm bộ như bực mình, nhéo cho tôi vài cái rõ đau, và miệng thì càu nhàu:
    “Cái con này! Lớn rồi mà cứ nhõng nhẽo như mới lên năm lên ba!”
    Tôi giụi mắt, đến gần cái bàn học trong phòng, kéo cái hộc ra, cầm lên cuốn nhật ký của mình. Ngồi xuống giường, tôi lần giở ra những trang giấy chép đầy những dòng chữ, lúc nắn nót, lúc ngoằn ngoèo, như những tâm trạng khác nhau của tôi. Những dòng chữ như nhảy múa, toát ra nhiều âm thanh khác nhau, khi thì bi tráng, lúc thì cuồng nộ hay nức nở. Và những câu thơ buồn bã, ai oán, trách móc, chen vào những lời văn chất đầy tâm sự sâu kín.
    Tôi đó sao, tôi của những năm đầu đời không may mắn với những mối tình qua mau như một làn gió biển mong manh, ngỡ ngàng khám phá những ngõ ngách tối tăm của đời sống, để rồi quay lại bên ngày tháng cũ, bên người mẹ khoan dung, trong căn nhà thường là chứng nhân của những tiếng thở dài kín đáo.
    Tôi nhìn lại cuốn nhật ký lần cuối cùng, rồi đi ra bếp, tìm cái hộp diêm. Tôi mang cuốn vở ra phía sau nhà, bỏ nó vào một cái chậu hoa bỏ không rồi châm lửa đốt. Ngọn lửa từ từ liếm từng trang giấy. Cuốn vở cong oằn lên trong cơn thiêu đốt. Tôi lại rớt nước mắt, không biết khóc cho cuốn nhật ký, cho Thu hay cho chính mình.
    Má đã về từ lâu. Bà không thấy tôi đằng trước nên ra phía sau tìm tôi. Tôi biết má đang đứng sau lưng nhưng không quay lại, sợ bà thấy gương mặt đẫm nước mắt của mình. Tiếng dép lẹp xẹp của má xa dần, chắc bà đã quay lại nhà trên. Tôi ngồi nấn ná thêm một chút, đợi cho nước mắt khô rồi sẽ chạy vào nhà, ôm lấy má như đã hẹn với lòng...
    ... Rồi một hôm tôi xuống thuyền vượt biên. Ngồi trên chiếc ghe nhỏ nhốn nháo gần cả trăm người ép vào nhau như cá hộp, tôi ngoảnh lại nhìn đất liền từ từ xa trong tầm mắt. Hờn núi sông anh lạc xứ xa miền. Câu thơ của Bùi Giáng chợt hiện lên trong đầu tôi ngay trong giây phút đó. Ừ, tôi đang hờn núi sông, hờn luôn cả những ai đã làm tôi sầu héo, hờn luôn chính mình cũng cam làm kẻ bội bạc. Xin giã từ quê hương yêu dấu. Giã từ Nha Trang. Giã từ Phước Thiện. Giã từ Võ Cạnh. Giã từ luôn vùng biển quê nhà và những dòng sông năm cũ.
 

-- Trần C. Trí

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.