Hôm nay,  

Chuyện tình buồn

28/03/202408:09:00(Xem: 3391)
Truyện

sad woman

Những chuyến xe ngập ngừng, chậm chạp lăn trên con đường gập ghềnh để chuyên chở đoàn người đi thăm cha, anh, em, con, chồng ở khắp nơi trong những trại tù, nơi mà lớp người mới gọi là "Trại Học Tập Cải Tạo" nghe ngược ngạo, chua chát nhiều đắng cay. Từ Quốc Lộ 1, phải đi khoảng chừng 2 cây số, trên một con đường mòn, xuyên qua rừng cây gỗ quý cẩm lai là đến trại tù cải tạo Hàm Tân. Xe dừng lại tại một điểm đã được quy định, mọi người xuống xe, ai nấy đều nhận lại hành lý rồi phải đi bộ thêm một quãng rất xa nữa mới gặp được thân nhân. Giọng oang oang, càm ràm của người lơ xe nhắc nhở mọi người đang còn ngồi lại trên xe chưa kịp bước rời khỏi chiếc xe đò làm Trâm giật mình vội vã lách rời khỏi chiếc xe, cùng theo đoàn người quảy gánh đi thẳng về những dãy nhà lá thật xa lờ mờ ở phía trước.
    Đôi chân nàng bước nhanh như những điệp khúc thăng trầm của cuộc đời, cõi lòng nặng trĩu nỗi lo âu ngại ngần, nghẹn lời khi phải nghĩ cách nói dối chồng, biết nói và kể lể gì đây khi đời mình đã trải qua một khúc rẽ quanh co, cũng chỉ vì quá lo cho chồng lại thương con, muốn cho chúng có một đời sống tốt và khỏi phải đương đầu với học đường "Học tài, thi lý lịch" như những năm qua. Trong lúc cha của chúng bị gông xiềng, mỗi lần khi biết tin được đi thăm nuôi người tù, mặc cho làn nước mắt nàng đã nhiều lần tuôn rơi, cạn khô, đầy lại vơi, xót lòng nghĩ đến tiền bạc dành dụm đã không còn nữa, thậm chí thùng gạo ở nhà đã gần nhẵn quẹn, việc buôn bán cò con lại bị bắt bớ thua lỗ, có hôm còn bị xét bắt hết cả vốn chứ tiếc chi đến đồng lời. Mẩu truyện ngắn của Khái Hưng chợt trở về với tâm trí nàng trong khoảnh khắc... Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé!... Không!... Anh phải sống!
    Nhìn đàn con vô tội Trâm mềm lòng, nàng đã mạnh dạn quyết định hy sinh nốt cuộc đời còn lại của mình, một lần dấn thân như những dây leo tầm gửi đã cuốn chặt đời nàng, không lối thoát. Đâu thể ngờ được lần này thăm Dũng là lần cuối cùng, nàng sẽ cùng các con theo một người đăng ký đi tàu bán chính thức. Trâm thầm nghĩ sanh ly còn hơn tử biệt, như chị Thư ở xóm trong gần khu nhà nàng đã cùng năm đứa con uống thuốc chuột quyên sinh để tâm hồn khỏi bị dằn vặt suy nghĩ đến ngày được tin thăm nuôi chồng trong khi túi rỗng tếch, lại thêm cái bao tử dằn vặt từng ngày.
    Trước khi từ biệt người thân để đi vượt biên bán chính thức, Trâm đã trao gởi cho người anh họ một số tiền và vài khâu nhẫn vàng y, để cậy nhờ anh lo đi thăm nuôi người trong tù cải tạo;  Nhờ vậy mà Cha của bầy trẻ vẫn được tiếp tế lương thực mỗi khi có phép đi thăm nuôi.
    Lần đầu tiên gặp lại anh Hưng sau bao nhiêu năm xa cách Dũng mừng lắm, nhưng điểm chính yếu là nhận được những món thực phẩm, thuốc men mà chàng cần thiết và ưa thích nhất như:  Sữa hộp hiệu ông thọ, keo thịt ba rọi kho xả ớt, gói đường cục thốt nốt, keo nước mắm tóp mỡ hành, vài xâu lạp xưởng, bao thịt chà bông, vài gói mì ăn liền, gói thuốc đau bụng, thuốc đau đầu cảm cúm, thuốc sốt rét, thuốc bôi ghẻ ngứa và nhiều món lặt vặt khác nèn đầy cả cái bao nặng trĩu. Dũng bối rối, chợt nhớ ra điều gì hơi là lạ, trầm buồn hỏi anh Hưng.
    "Nhà em đau ốm sao vậy anh?"
    Anh Hưng chưa kịp chuẩn bị câu hỏi chất vấn ấy, tần ngần một chút rồi mới chậm rãi trả lời cho qua lệ.
    "Nghe nói cô ấy cùng với ba đứa nhỏ đi thăm dò tìm đường vượt biên nên mới nhờ tôi đi thăm chú đấy".
    Niềm nghi ngại vẩn vơ thoáng chốc chợt đến trong tâm hồn, Dũng khe khẽ hỏi:
    "Gia đình em làm gì còn tiền mà tìm đường đi vượt biên".
    Anh Hưng không cần phải suy nghĩ thêm chi cho đau lòng, phần thì anh cũng muốn kết thúc những vặn hỏi nên anh đã để dành câu trả lời đó lại cho Trâm.
    "Tôi chỉ biết có vậy thôi. Hay chú đợi lần sau cô ấy lên thăm, chú hỏi thì rõ hơn".
    Sự hững hờ của Trâm làm Dũng không khỏi ngờ vực, cảm nghiệm có điều gì chẳng lành, chàng thầm nghĩ có bao giờ Trâm giấu mình điều gì đâu, hay là... Đầu óc chàng phân vân nghi ngại muốn tìm ra câu giải đáp cho chính mình, bỗng có tiếng kẻng đánh dồn dập kêu vang dội tựa hồi chuông thúc giục muốn dồn cải tạo viên tập họp để trở lại nơi nhà tù của mình. Dũng vội vã chào người anh họ của vợ rồi hấp tấp đứng dậy theo người đang canh chừng mình cùng đi thẳng một lèo về phía những người đang xếp hàng mà lòng chưa dứt hoang mang se sắt, chớm thấy rạn nứt…
 
***
 
Cơn mưa đầu mùa rả rích ngoài hiên nhà nơi xứ người, vẫn rơi đều mỗi lúc thêm nặng hạt. Mưa như gột xoá hương nồng một thời yêu xưa khát khao nghe giá buốt tận đáy lòng nàng. Cuộc đời của mẹ con Trâm chẳng khác gì lục bình trôi theo dòng nước thủy triều mà tạo hoá đặt để. Dòng đời nghiệt ngã đã cuốn đi tất cả dấu yêu một thời xưa, chỉ còn kỷ niệm viễn ảnh nhạt nhoà xót thương ghép lại trong tim người, một lần quyết tâm để rồi nghìn trùng vấn vương cách xa. Sau mười hai năm trời Trâm và các con vẫn sống trong hoài mong mòn mỏi cùng với những ràng buộc tỵ hiềm của "Người Ơn", vì không được trọn vẹn niềm yêu, nên không khí trong nhà nóng lạnh bất thường;  Người ấy thầm hiểu rằng mình chỉ là diện thêm... ké, hay cũng là thảm trải cho người bước qua thôi, nên vẫn lặng thinh để mặc cho thực diện trôi dần theo thời gian. 
 
Cố nhân ơi có thấu chăng
Rằng ta đây đã phụ lòng người xưa

Bốn mẹ con Trâm và người ơn được gia đình người bảo trợ, bảo lãnh từ Kuala Lumpur Malaysia về cư ngụ ở Erie USA là một thành phố nhỏ, nơi mà những bậc cha mẹ rất muốn nuôi dạy con cái của mình lớn lên và trưởng thành ở đó. Bởi vì, theo thống kê thì mức học vấn của người dân Mỹ trưởng thành ở Erie thì cao hơn trung bình một chút. Phần đông người sống ở thành phố cho đến tỉnh nhỏ, ít nhất họ đều có văn bằng Bachelor’s Degree.
    Đời sống ở Erie rất là dễ chịu và thoải mái về vấn đề nhà cửa, những đồ đạc thiết dụng và phần thực phẩm cho đời sống hằng ngày thì giá cả nhẹ nhàng phải chăng, mọi người dân có thể lo toan được.
    Những khi rảnh rỗi, Trâm thường hay dẫn các con đến Square Park là old town của Thành Phố Erie để xem những màn trình diễn thật sống động và nghe nhạc hoà tấu miễn phí ngoài trời, cho vơi đi bao nỗi buồn sầu lắng đọng trong lòng nàng từ dạo xa người… và xa Quê Hương Việt Nam thân yêu.
    Hằng năm, cứ đến tháng cuối năm, vào mỗi buổi chiều ngày thứ năm từ bốn giờ cho tới sáu giờ, tại bờ hồ Erie, có nhóm tài tử hoà tấu và một số Giáo Sư cùng các sinh viên nghành âm nhạc nghệ thuật của Đại Học Gannon thuộc Tiểu Bang Pennsylvania. Họ tụ họp đến trình diễn với những nhạc cụ như Kèn Tây, Vĩ Cầm, Đàn Accordion, Harp và đánh trống giúp vui cho những người dạo chơi ở Erie Square thưởng thức trong ba tháng hè.
    Họ hoà tấu những bản nhạc cổ điển của Chopin, Bethevon, Bach, Mozart, Tchaikovsky và Haydn… là những dòng nhạc tình cảm lãng mạn vượt thời gian và không gian. Thật khó mà giải thích được, vì sao nó đã cuốn hút Trâm thả hồn theo tiếng nhạc du dương trầm bổng, mà tạm quên đi bao nỗi đắng cay thực trạng đang dày xéo tâm hồn nàng.
 
***

Được trả tự do ra về vào một chiều thu phai với buồn sầu hiu hắt, Dạ Khúc "Serenade" quen xưa vang vọng lại trong hồn chàng, bây giờ Dũng mới thấy thấm thía.
 
Cho tình cứ úa phai màu
Cho người cứ mãi phụ nhau
 
Chàng đến thăm những người bạn tù để tìm an ủi và muốn xin ở tạm trú một thời gian đầu, nhưng thấy không ổn vì mỗi người có cảnh khổ khác nhau. Có gia đình bạn đói meo, cả nhà chỉ có vài củ khoai để chia nhau mỗi ngày, có bạn thì cũng chẳng hơn gì chàng. Vợ anh ta bây giờ trở thành mệnh phụ lớn lắm!! Nghẹn ngào cười ra nước mắt. Không còn đường nào hơn, Dũng đã đánh bạo tìm đến nhà của anh Hưng cậy nhờ sự giúp đỡ, anh Hưng vui vẻ nhận lời giúp thật chu đáo tận tình, ngoài những bữa cơm đạm bạc cùng với gia đình của anh, anh Hưng còn đưa chút ít tiền để chàng tiêu vặt;  Người mới ra khỏi ngục tù, trong lòng rất đơn giản như ăn những hạt bo bo với muối hoặc khoai mì luộc mới tự đào về, phơi khô cất giấu đi để dành ăn hoài cả năm vẫn không dám chê. Anh Hưng không dám thổ lộ đó là tiền của Trâm gởi về để nhờ anh lo cho Dũng, sợ lỡ chàng biết được từ chối lại hỏng việc.
 
Khi người tù trở lại
Nhìn mái ấm nhà xưa
Những mất mát đớn đau
Cảnh cũ vẫn còn đây
Người xưa nào tìm thấy
Trẻ thơ giờ ở đâu?

Trong đôi tuyến trận chiến, niềm thất bại 
Tình trường, chiến trường!! Ngọt ngào... đắng cay
Xưa kiêu hùng trong chiến trận dọc ngang
Nay buông xuôi niềm hoài vọng mong manh

Một điều không thể quên khi vô tình bất chợt nhìn thấy khung ảnh treo trong phòng ảnh gia tộc của gia đình anh Hưng. Một tấm ảnh Trâm chụp chung với Dũng vào ngày lễ ra trường của chàng, theo truyền thống Trường Nguyên Thủ Võ Bị Quốc Gia SVSQ Đà Lạt hàng năm mãn khoá học vào ngày Lễ Giáng Sinh, sau khi đã được rèn luyện trong bốn năm dài. Còn nhớ ngày ấy, Mẹ đã đem sính lễ trầu cau đến gặp Cha Mẹ Trâm để dạm hỏi cho chàng và cũng để xin phép cho nàng cùng đi với gia đình chàng dự ngày lễ ra trường đông vui hiếm quý ấy. Bức ảnh này đánh dấu nhiều kỷ niệm đẹp khó quên, nó đã được treo ở nơi trang trọng nhất trong phòng khách nhà chàng khi xưa, bây giờ mọi vật đã đổi thay theo nghịch cảnh của đời người.
    Cơ cực thiếu thốn nhiều năm đã quen, nay được ăn không ngồi rồi, sao thấy ngại ngần quá!  Vào một buổi cơm tối, Dũng đã nói khó với anh chị Hưng mượn một ít tiền làm vốn để theo một người bạn đã cùng ở trong tù cải tạo, đi bán vé số và thuốc lá lẻ kiếm sống qua ngày;  Chàng hứa sẽ hoàn vốn trả lại anh chị Hưng. Tuy trong lòng không mấy ưng ý lắm, anh Hưng vẫn vui vẻ chấp thuận, nhưng thầm trộm nghĩ: "Cần phải cho chú học bài học mới, đắt giá như chúng tôi đã trải qua".
    Ở xã hội này cần gì phải cầu, mánh mung gạt gẫm, chăng dây kết rào để bắt bớ xảy ra thường xuyên như cơm bữa, hết vốn như trở bàn tay. Đó là chưa kể nạn lừa đảo để cướp giật trắng trợn vào ban ngày ở chỗ đông người nữa; Một đứa đâm xẹp bánh xe ở phía sau, lại còn dám lớn tiếng cho biết là "Bánh xe đạp sau của chị bị xẹp rồi", mình lo quay đầu lại phía sau để xem, lúc ấy đã có sẵn mấy đứa đồng bọn đứng ở phía trước giựt giỏ xách treo ở ghi đông xe đạp, đồ để ở giỏ xe hoặc nón đang đội ở trên đầu, v.v… thoáng chốc đã chuyền tay nhau cao bay xa chạy mất dạng, có khi chúng còn hùa nhau để cướp luôn xe đạp nữa đấy. Lại còn có những băng tuổi trung niên ngầu hơn, cướp giựt vàng vòng nữ trang đồng hồ, cũng may dạo này con buôn không thâu vòng ngọc thạch đã bị bể vào, nên các bà đeo vòng ngọc thoát nạn. Giựt được thứ nào bán cũng có tiền, chẳng phải nhọc tâm đi xa xôi đâu cả, chỉ cần chạy ù qua đường kế bên là bán được ngay. Người buôn bán ở chợ trời mua bán tạp lục, mua ở đó lại bán ngay tại đấy không chê món nào hết.  Hàng giả bán với giá như đồ thiệt, miễn sao họ kiếm được nhiều lợi nhuận, chỉ tội nghiệp cho khách tiêu dùng bị lãnh hết hậu quả gian xảo lừa gạt của những con buôn thất đức.
    Cơn sốt rét nóng lạnh hoành hành toàn thân Dũng còn có thể chịu đựng, sự hụt hẫng đau đớn chất ngất trong tâm hồn chàng khó chữa lành. Mỗi ngày Dũng lần bước qua khắp đường phố lớn của Thành Phố SàiGòn ghé chào mời khách thập phương mua giúp vé số và thuốc lá lẻ để kiếm sống chờ thời, trong khi chờ đợi đi Hoa Kỳ theo diện Hát Ô và đoàn tụ với các con thân yêu của mình. Hôm nọ, Dũng ghé mua thuốc sốt rét ở đường Nguyễn Huệ, trong lúc chờ đợi nhận thuốc, qua cuộc đối thoại trao đổi qua lại, chị bán thuốc Tây "chui" nhận biết ra chị đang tiếp chuyện với một người sắp xuất ngoại đơn độc diện Hát Ô, "Dược Sỹ De La Hiên không bằng cấp" đã kê toa thuốc cho chàng không bỏ lỡ cơ hội tỏ bày thẳng vào đề luôn.
    "Anh cho mẹ con tôi ghép hộ theo anh xuất ngoại được không?"
    Dũng bỡ ngỡ chưa hiểu rõ điều chị ta muốn nhờ nơi mình. Nên chị lại dịu dàng, nhỏ nhẹ tiếp lời cho rõ hơn.
    "Anh cho em lập hôn thú làm vợ thiệt theo anh đi cũng được, nếu không thì làm vợ giả em sẽ gởi anh một số tiền hay vàng, như vậy là công bằng. Nếu anh bằng lòng giúp, tối nay mời anh ghé nhà em..mình sẽ bàn thêm tiếp nhé!"
    Gương mặt người đàn bà rạng rỡ, giọng ngọt ngào khẩn khoản chứa ẩn lời mời gọi như muốn thu cuốn người đối diện. Bây giờ chàng mới hiểu được sự trao đổi, mánh mung của dân tình, khó khăn lắm mới thốt lên lời từ chối với chị bán thuốc Tây. Cũng tội nghiệp chị, song lòng chàng đang rối bời, phải tránh hệ lụy níu kéo để rời khỏi đất nước này được yên thân thanh thản, không muốn quàng vào người sự trần trược trong những ngày cuối còn tạm trú nơi đây.
    Từ ngày Dũng bị chận bắt giam tạm ở Quận 1 từ sáng đến chiều mới được thả, lại còn bị tịch thu hết khay thuốc lá đủ loại và cả chiếc túi sách bằng vải đựng vé số đeo ở trên vai. Tuy mất sạch vốn, vẫn còn may là chưa bị tống giam luôn vào tù. Đã nhìn thấy sự bắt bớ này quen thường ngày, hôm nay mới đến hạn xui của mình, mặc dầu đã nhanh chân chạy nhưng không thoát nạn, một lần tởn cho đến già. Sau lần xui xẻo này, chàng lại cảm thấy tâm mình an bình hơn trước, trong sự xui lại có cái may, một nghịch lý đổi thay khó đoán trước được trong tâm hồn của chàng.
    Trâm nào dám so bì với những vị anh hùng xưa bất khuất, lòng nàng chỉ đơn thuần với việc nho nhỏ mà mình có thể thực hiện được "Mạnh thì dùng sức, yếu dùng mưu!!"  Nàng chẳng dám xin nơi Dũng điều gì, chỉ mong mỏi một ngày nào đó, việc làm của mình sẽ được chứng giám những cất giấu trong tim vẫn còn là niềm yêu thiết tha thuở ban đầu. Sự sống còn của Dũng và sự thành công trong đời sống của các con cùng việc trùng phùng với cha chúng là hạnh phúc của chính nàng. Mặc dầu đã có đôi lần chàng ngỏ lời mong muốn nối kết lại tình xưa, hãy quên đi quá khứ u buồn. Đó chỉ là những áng mây huyền mộng mỵ trôi thoáng qua, nhưng nàng đã khước từ tấm thiện tình ấy làm Dũng bâng khuâng ngỡ ngàng .
    Kỷ niệm đưa Trâm về ngày tháng cũ, cung đàn xưa lỗi nhịp, nàng không còn xứng đáng với lòng tin yêu để níu lại những gì đã mất mát, thay màu "Nghĩa tào khang". Nối lại sẽ phải chịu đựng dày vò đọa đày suốt khoảng đời còn lại, có lúc vui buồn lẫn lộn khó ai hay, một lần xa chân là chấp nhận nỗi xót xa nuối tiếc cho cuộc tình buồn dở dang.
 
Hai cuộc tình buồn
Hai lần dang dở
Đôi đời tao ngộ
Đôi lần chia xa
Muôn kiếp phôi pha
Muôn đời ngỡ ngàng
Như loài hoa vỡ
Như hạt sương mai
Tạ ơn cùng người 
Tạ tình cùng ai

– Phạm Thị Kim Dung

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.