Hôm nay,  

Tôi đi buôn

12/27/202312:37:00(View: 3290)


CHO-CHOM-HOM

Hè năm ấy tôi dấn thân vào một việc mà kể từ nhỏ tới lớn tôi chưa từng làm. Dĩ nhiên là không có tý kinh nghiệm nào và vô cùng mạo hiểm. Nhưng người xưa có câu “đói thì đầu gối cũng phải bò”. Thôi kệ phải liều, biết đâu “không thành công, cũng thành nhân”. Sống là trải nghiệm mà.
    Tôi xuất thân nghề giáo vào những năm của thập kỷ 80-90. Trong thời kỳ bao cấp, lương khởi điểm theo 3 mức cho 3 cấp học như sau: 50 đ 55 đ, và 60 VN đồng. Giai đoạn khó khăn chung của đất nước, đồng lương không đủ sống. Ra trường một vài năm, đến lúc cũng phải lập gia đình và sinh con. Món nợ cơm áo lúc này càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết. Cuộc sống bấy giờ không chỉ có mây bay gió lượn mà có bộn bề trăm thứ bủa vây. Làm thế nào để trang trải cuộc sống và lo được cho con cái? Đó là câu hỏi đặt ra cho bất kỳ ai, không cứ kể là dân sư phạm mà kể cả nhiều ngành nghề sự nghiệp hành chính khác. Những người đồng nghiệp xung quanh chúng tôi, mỗi người có một lựa chọn khác nhau. Ai nhảy việc thì nhảy. Ai yêu trường mến lớp thì trụ lại trên bục giảng nhưng về nhà phải kiếm việc làm thêm. Hồi đó tuyệt đối không dạy thêm, nếu có dạy thì dạy miễn phí. Thế là có nhiều cô giáo thì về làng làm thêm ruộng vườn, chăn nuôi. Có người thì đi bỏ bia, bỏ kẹo mối. Có người đi bán xôi sáng dậy từ lúc 3 giờ sáng nấu xôi đem đi bán. Đến 7 giờ xong hay không xong cũng vội về để đi dạy.
    Năm ấy nghỉ hè (thời đó nghỉ hè 3 tháng) cùng với chị bạn hàng xóm đang thất nghiệp, hai đứa rủ nhau đi buôn. Hành trình đi là vào chợ Cồn (Đà Nẵng) nhập các loại thủy hải sản khô như cá khô, tôm khô… và đường bánh (đường nấu từ mía và đúc thành từng bánh như cái chén ăn cơm) đem ra bán ở chợ huyện của một thị trấn, địa điểm này cách Huế hơn 250 km về phía bắc. Ý định vừa đi vừa thăm dò thị trường xem chợ huyện đó những mặt hàng nào cần thiết sẽ nhập sau.
    Hai chị em đi chợ Cồn đóng hàng rồi thuê xe chở ra ga Đà Nẵng để đi tàu ra chợ thị trấn đó bán xong rồi mới quay về Huế. Lần đầu dấn thân vào công việc lạ lẫm, va chạm nhiều hạng người: dữ có, hiền có, thanh có, thô có. Thôi thì đủ loại người trên đời. Nên cũng vỡ ra nhiều điều trên một đoạn đường đời mà trong sách vở nhà trường chưa được đề cập đến.
    Trước tiên kể về trải nghiệm đi tàu. Vào những năm 80    – 90 của thế kỷ trước, tàu chợ không khác gì cái tên gọi của nó. Toa nào toa nấy, người và hàng hóa kể cả gà vịt heo chó chen chúc nhau không có thứ lớp, trật tự gì hết. Mạnh ai nấy chen. Người ngồi, kẻ nằm la liệt ngổn ngang. Người thì nằm trên các bao hàng chông chênh, người thì trải chiếu thò chân vào dưới gầm ghế, đầu nhoài ra ngoài lối đi. Có người mắc võng từ cửa sổ này sang cửa sổ khác chiếm cả một khoảng không không gian hiếm hoi, ngay trên đầu, trước mặt hành khách. Dù chẳng ai muốn nhưng cũng phải chấp nhận vì trong hoàn cảnh này thì ai ngồi được đâu cứ ngồi, ai nằm được đâu cứ nằm. Tàu quả là chật như nêm. Có người bước lên tàu chỉ đứng được một chân vì hết chỗ. Có người phải đu bám ở cửa lên xuống, có người đứng ở chỗ nối toa, thậm chí có nhiều người leo lên ngồi, nằm trên nóc tàu, bất chấp nguy hiểm. Ai đi tàu lúc này cũng bầm giập tả tơi như vậy cả. Đã thế, lâu lâu tàu lại trở chứng bị chết máy bất thình lình hoặc tránh tàu có khi cả vài tiếng đồng hồ là chuyện thường. Có khi đi khoảng vài ba trăm km mà phải đi ba ngày mới tới nơi.
    Hành khách trên tàu ngủ gà ngủ gật, phờ phạc, tả tơi. Nếu chịu khó quan sát thì cũng khối chuyện bi hài vui phải biết. Đêm xuống, tàu không có điện. Người nằm ngủ, trở mình nghiêng qua, nghiêng lại ôm trúng cái mông của bà khách đang ngủ say, ông ta tưởng mình ôm cái gối sao nó êm quá là êm. Người khách khác làm nghề buôn heo nằm trở đầu lại cũng đang yên giấc điệp, bị bà buôn gạo nằm kế bên gác nguyên cái đùi to chà bá lửa lên ngực anh ta. Anh lái heo ngủ say, hai tay chới với và ú ớ gì trong miệng. Trong cơn mơ anh tưởng trời sập và mình bỗng trở thành anh hùng, đang ra sức chống đỡ trời lên chẳng khác nào “đội đá vá trời” trong thần thoại. Có người đang ngủ say quá mà buồn tiểu lại mơ là mình đang đứng bên bờ suối, gió mát hây hây, chim kêu vượn hú thế là cứ mở van cho nước chảy róc rách. Đến lúc nghe mùi khai bốc lên, mọi người mới tá hỏa ra và hô hoán lên là có người đái dầm.
    Trên ghế ngồi dựa lưng vào thành tàu, mọi người cũng đang thiu thiu ngủ. Một quý ông (trạc tuổi khoảng ba mươi) khuôn mặt cũng lịch lãm, trí thức nhưng đi tàu vậy nên cũng te tua mệt mỏi lắm! Ông ngả đầu ngủ, tàu lắc lư, ông nghẹo đầu qua một bên, nghẹo dần, nghẹo dần đến lúc đầu ông nghiêng hẳn lên vai cô gái ngồi kế bên. Thấy vật gì đè nặng trên người mình, cô chợt thức giấc và như chợt hiểu ra, cô vội xô anh ta về đúng chỗ anh ta rồi mắng: “Anh ngủ gì mà kỳ vậy?” Anh ta tỉnh giấc và rối rít xin lỗi.
    Đi bầm giập te tua vậy rồi cũng tới nơi. Buổi sáng, xuống ga thị trấn X, sau khi khệ nệ bưng những bao hàng xuống, hai đứa đang đứng thở, nghỉ ngơi lấy sức thì bỗng một nhóm người mặc áo thuế vụ vẻ mặt đằng đằng sát khí tới “hỏi chuyện”. Khi đó cảm giác rất sợ, mặt lúc này chắc là xanh ngắt như tàu lá chuối. Tim đập hồi hộp lòng đầy lo lắng vì nếu bị tịch thu thì kể như mất vốn luôn! Thuế vụ tra vấn một hồi, không nhớ diễn biến chi tiết mình đã đối phó thế nào và xoay xở ra sao nhưng cuối cùng sau khi quần thảo khủng bố về mặt tinh thần rồi cũng được thả cho đi. Tụi mình gọi người tới chở vào chợ thị trấn bằng các phương tiện như xe kéo, hoặc xe đạp thồ tại địa phương.
    Vào đến chợ, sau khi tìm chỗ ngồi thuận lợi, dọn hàng ra để trưng bày sao cho bắt mắt và việc mua bán diễn ra thuận lợi, lác đác đã có khách tới mua hàng. Hai đứa bắt đầu “sự nghiệp bán hàng” lần đầu tiên trong đời, trước đó có quan sát chị bán hàng sỉ và lẻ trong chợ Cồn rồi nên cũng có học hỏi kinh nghiệm. Công việc diễn ra thuận lợi, nhưng cũng có trường hợp này ứng với một câu nói của dân gian, “chó ỷ tại nhà, gà ỷ tại chuồng” không phải không xảy ra. Có chị khách cỡ trạc tuổi mình, vừa cắp chiếc rổ tới, chưa mua nhưng đã hăm he phủ đầu một câu rằng: “Hai cái con Huế này, cân kéo cho đúng không thôi tau thu cân đi nghe chưa!” Mình không nói chúng mình từ đâu tới nhưng chắc có vẻ thấy lạ và nghe giọng nói cũng như cách ăn mặc nên chị ấy đoán thế!
    Chị bạn mình nói:
    – Ê cho đính chính chút: Đây sống ở Huế nhưng gốc Bắc và Huế lai thôi! chứ Huế rặt ai thèm lặn lội đi bán đồ khô như tụi này. Họ có bán là bán vàng kìa! Ke ke! Thôi giờ mua gì nào, cân giáp cho, bán để làm quen thôi! Giao dịch trôi chảy, thuận lợi!
    Việc bán hàng diễn ra trong ba ngày thì giải quyết hết hàng. Về phòng trọ hai đứa giở sổ sách ra tính toán lại thì thấy có lời chút đỉnh, sau khi trừ mọi chi phí. Lần đầu lấn sân sang lĩnh vực không qua đào tạo, không thuộc chuyên môn của mình nhưng như vậy cũng có thể gọi là thành công bước đầu. Tụi mình vừa đi vừa học hỏi và dò đường đi nước bước. "Vạn sự khởi đầu nan" và tự an ủi nhau vậy là “gioải rồi”. Hai đứa lòng cũng thấy vui, và tiếp tục sự nghiệp nhỏ lẻ của mình thêm vài chuyến nữa tại chợ này. Một hôm xong việc hai đứa bàn nhau nhảy tàu ra Vinh xem sao? Thế là mấy chuyến sau đi thẳng ra chợ Vinh dài đường hơn (Huế-Vinh 367 km) nhưng bán được hàng nhiều hơn và nhanh hơn. Xem lại các chuyến thì có nhiều chuyến lời, tuy vậy cũng có chuyến ngang vốn có khi còn lỗ chút ít nếu gặp không may. Tổng kết lại toàn bộ sự nghiệp buôn bán ba tháng hè, trừ các chi phí cũng có đồng ra đồng vào trang trải thêm cho cuộc sống và đặc biệt đời dạy cho khôn ra đôi chút. Đó cũng là học phí cần phải trả cho cuộc đời.
Kết thúc ba tháng hè, tôi trở lại trường làm công việc chính của mình, cô hàng xóm không có người đi cùng nữa cũng buồn nên nghỉ buôn chuyến mà về làm tiểu thương chợ Phú Bình thuộc phường Phú Bình với căn hàng cố định kiếm sống qua ngày đủ nuôi con ăn học. Còn tôi ngoài công việc chính thì chợ đò cơm nước, chăm con và tranh thủ ngoài giờ làm thêm một số việc khác. Như về chợ Phú Bình (trên đường Đào Duy Anh, Huế) bán trái cây, khi thì lấy bia của anh chị Diên ở bên nam sông Hương ra bỏ mối cho 5 quán nhậu ngoài thị trấn Phò Trạch, Phong Điền. Việc buôn bán xem như thời vụ thôi, thời gian diễn ra không lâu. Như vậy nếu vận dụng câu nói của dân gian gian “Trời sinh voi, sinh cỏ” có phần đúng và cũng có phần chưa đúng, chỉ là câu nói gieo niềm lạc quan mà sống chứ thực sự mọi cá nhân đều phải nỗ lực để vượt qua. Trải qua thăng trầm dâu bể cuộc đời với không ít gian nan như vậy, thế rồi gia đình của tôi cũng vượt qua giai đoạn khó khăn chung của đất nước, hậu chiến và thời bao cấp.
    Nay các con đã đi làm và tự lo được cho mình.
    Có lẽ ai trong cuộc đời cũng phải đi qua phù trầm dâu bể với bộn bề cuộc sống không nhiều thì ít, nhất là trong giai đoạn khó khăn chung của đất nước. Hôm nay hồi ức ùa về, nhìn lại một chặng đường đã qua không ít gian nan, ngẫm lại cũng thầm tự phục mình ừ cũng kiên cường đấy nhỉ! Không tệ phải không?
    Bây giờ chỉ mong mọi người sức khỏe và bình yên!

 

– Hoàng Thị Bích Hà

 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Có một lần, tôi gặp bài của một tác giả viết về nước Mỹ, rất hay rất cảm động, bà ấy nói về chồng bà và gọi ông là « y của tôi », cái cụm từ thật thân mật, y của tôi, nghe hợp thời hơn chồng tôi, anh tôi, nhà tôi… nhứt là trong trường hợp mà tôi đang muốn nói về chồng của bạn mình, thì còn tiện và hay hơn nữa. Thí dụ: Chồng của bạn Liên, tôi gọi là y Liên, chồng của bạn Dung, thì tôi gọi là y Dung, chồng của bạn Thu, thì tôi gọi là y Thu…
Thế là thiên hạ thoát khỏi cơn đại dịch, tuy nhiên nhiều người vẫn còn sệt, một số giới chức và bọn truyền thông quen lối bé xé ra to và hù dọa cứ tung tin linh tinh. Tất nhiên cũng có những trường hợp tái nhiễm virut nhưng không có gì nghiêm trọng. Dịch đã trở thành bình thường như những loại cúm theo mùa...
Chị Bông vào diễn đàn Cô Gái Việt đọc bài thơ của chị Hoài Mộng mà ngậm ngùi với những lời thơ thương nhớ người chồng đã khuất mấy năm nay, không có anh cùng uống trà mỗi buổi sớm mai, không có anh cùng đi chùa những ngày rằm ngày lễ lớn, v.v. Trong diễn đàn còn có chị Hiền Thảo vừa mới mất chồng chưa tròn năm...
Mùa này trời tối nhanh, Tết sắp đến, trên con đường làng vắng vẻ, hai bên là những mái tranh nghèo xơ xác, thấp thoáng vài ngọn đèn dầu tù mù, nhìn xa như những đốm ma trơi thoắt ẩn hiện sau những hàng rào tre, càng làm tăng cái vẻ đìu hiu, quạnh quẽ. Ở đây, người dân lo ăn cơm cho nhanh trước khi mặt trời đi ngủ để còn thấy đường dọn dẹp và rửa chén; hơn nữa là để tiết kiệm nhiên liệu vì tiêu chuẩn mỗi gia đình một tháng, chỉ mua được 1 lít dầu hôi thắp đèn...
Điều đáng nể phục và cũng đáng yêu quý là, sau trận cháy rừng năm 2019/2020, vùng thác Fitzroy tiêu điều tàn tạ – nhưng chỉ trong vòng 1 tuần sau đám cháy, trên cây khuynh diệp cổ thụ này đã có những chồi lá thật tươi non, đầy sức sống lại ngông nghênh nhô ra từ lớp vỏ cây xù xì đã cháy xém…
Hầu như người Việt nào cũng biết câu, “nhân sinh thất thập cổ lai hy”. Tuổi thọ ngày xưa thật đúng là khó có người sống qua bảy mươi tuổi vì điều kiện sống, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc y tế còn hạn chế, là chưa nói tới tâm lý người lớn tuổi được sống vui với con cháu, xóm làng, hay tuổi già neo đơn vì hoàn cảnh cũng tác động nhiều đến tuổi thọ. Ngày xưa, người sáu mươi tuổi đã được con cháu mừng thọ dịp sinh nhật thứ sáu mươi. Ai tới bảy mươi là con cháu mừng ông (bà) đại thọ. Hiếm hoi có người sống tới tám mươi thì con cháu mừng thượng thọ. Qua tám mươi cũng có nhưng rất hiếm vì bảy mươi đã được coi là hiếm hoi - cổ lai hy. Nhưng nay đời sống sung túc hơn, hiện đại hơn, và y học tiến bộ hơn nên những lão ông, lão bà bảy mươi bây giờ còn khoẻ re vì họ còn có thể vui chơi, du lịch, tham gia sinh hoạt xã hội, cộng đồng… bệnh tật của họ có bác sĩ chăm sóc với y khoa hiện đại. Đời sống tinh thần vui hay không cũng tùy người, tùy suy nghĩ cá nhân vì người thấy nhà vắng con cháu thì buồn, tr
Mỗi lần đi mua quà cho ai đó, kể cả quà Giáng Sinh, tôi thường bị tẩu hoả nhập ma, có khi đi cả buổi chẳng mua được gì. Chọn quà tân gia càng khó hơn, tôi đi hết tiệm này qua tiệm khác, suy nghĩ về “gia chủ” để đoán xem họ thích quà loại nào, cuối cùng tôi cũng phải chọn một món khi trời đã quá trưa...
Có nhiều lý do để tôi không thích và thường tránh né khi phải lái xe vào khu trung tâm thành phố. Một trong lý do chính là hầu hết các con đường trong trung tâm thành phố trên toàn nước Mỹ đều là đường một chiều...
Có một Ông Già Noel như thế, mang họ Nguyễn trên đất nước Hoa Kỳ này. Không rõ tôi gọi như thế có bị xem là sai phạm luật đạo gì không, vì tôi không phải tín đồ Công Giáo, nên những so sánh văn chương có thể không thích nghi với luật đạo. Nhưng, nếu gọi Ông Già Noel là người mang những món quà yêu thương tới cho những người tội nghiệp trên trần gian này, thì ông cụ họ Nguyễn đó còn mệt nhọc hơn nữa, vì trong hơn hai thập niên, ngày nào cũng là ngày để ông tặng quà yêu thương, nghĩa là, ngày nào ông cũng thấy là ngày Lễ Giáng Sinh và ông hóa thân ra thành 365 Ông Già Noel để bận rộn trọn năm (Đúng ra, nên trừ các ngày cuối tuần mới chính xác, nhưng như thế là chẳng văn chương gì cả).
Mùa Đông năm 1975 gia đình tôi dự Lễ Giáng Sinh đầu tiên trên đất Mỹ. Tôi nhớ rất rõ đêm Giáng Sinh đó, hình ảnh đó cho đến ngày hôm nay, gần 50 năm sau vẫn hiện ra rõ rệt...
Năm 1954 và 2024 là hai năm đánh dấu 70 năm ngày đất nước chia đôi, dòng sông Bến Hải đã làm biên giới giữa hai miền. Miền Bắc thuộc về Cộng Sản, miền Nam là vùng Quốc Gia tự do...
Ông già đi vào phòng ngủ. Hai cái gối ở đầu giường ngểnh cổ nhìn ông. Ông nheo mắt nhìn lại chúng nó. Hình như cái gối của ông còn nhoẻn miệng cười. Còn cái gối của vợ ông thì nheo một con mắt, cái kiểu đá lông nheo của cô gái nghịch ngợm. Ông khẽ lắc đầu. Và ông nhắm chặt hai mắt. Loay hoay một hồi, ông ra phòng khách, nhìn trước nhìn sau. Cái ti vi dán vào vách tường nhìn ông dò hỏi. Ban nãy ông đã tắt tiếng, chỉ để hình nên ông không hiểu nó muốn nói gì.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.