Hôm nay,  

Nước tràn ly

16/11/202309:53:00(Xem: 2996)
Truyện

minh hoa truyen Nuoc Tran Ly

Tạ Đình Tới kết hôn với chị Nghiêm Thị Bình đã được hơn mười năm. Anh là một công chức. Chị làm nhân viên bưu điện thành phố. Anh chị có với nhau bốn đứa con ba gái, một trai, đủ nếp đủ tẻ. Anh chị đều hưởng lương nhà nước. Như vậy xem ra cũng là một gia đình căn bản, tài chính ổn định, học thức tương đương. Hai gia đình nội ngoại cân xứng. Chị phúc hậu, vẻ đẹp đầy đặn, mặn mà của phụ nữ đã chín chắn. Hằng ngày chị đi làm chăm chỉ. Về nhà lo chợ đò cơm nước, chăm sóc con cái. Các cháu xinh xắn, ngoan, chăm học. Anh chị có căn nhà rộng rãi xây kiểu ba gian trong khu vườn nhỏ đầy hoa trái. Giờ rảnh, chị trồng trọt, khu vườn lúc nào cũng xanh mướt với nhiều cây ăn quả và rau trái. Chị còn nuôi thêm đàn gà vịt để lấy trứng góp phần bổ sung vào nguồn thực phẩm cho gia đình.
    Anh là một người đàn ông (điều đó hẳn rồi) nhưng cái tính của anh giống đàn bà hơn! Mặc dù người anh không nữ tính mà đầy xương xẩu với khuôn mặt góc cạnh, má hóp. Do đã rụng bớt vài cái răng mà anh tiếc tiền không chịu trồng. Anh bảo: "Anh là người ít khi cười, chẳng ai thấy “hàng tiền đạo”. Có lỡ cười khi ai nói gì hay thì bụm miệng lại là được, cần gì trồng cho tụi nha nó có cơ hội chặt chém!" Thân hình anh cao ráo nhưng ốm và khô nên trông anh lúc nào cũng lọt thỏm trong bộ áo quần công chức. Anh năm nay đã bước vào độ tuổi ngũ tuần.
    Chị thì kém anh 5 tuổi. Chị được phân công phụ trách một quầy bưu điện ngay khu chợ của xóm tôi, cạnh con lộ xe cộ đi lại tấp nập. Mỗi lần anh đi đâu đó ngang qua trước văn phòng làm việc của chị, tối về nhà thể nào anh cũng cật vấn: “Hôm nay, tôi thấy bà mời một ông khách ăn hạt dưa, ra vẻ thân mật lắm nhỉ!” Khi thì anh bảo: “Sáng nay lại còn nhăn răng ra cười với khách nữa! Cười gì vậy? Vui lắm à! Hay là cười tình, ve vãn đàn ông!”
    Chị bảo:
    “Anh buồn cười thật! Khách đến bưu điện giao dịch thì mình phải niềm nở. Hồi em vào ngành người ta dạy: “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi” mà! Khách tới làm việc mà cái mặt bí xị thì chẳng khác nào đuổi khách. Còn tết, cơ quan có sẵn hạt dưa, mứt, khách hàng tới, mình vui vẻ mời người ta ăn chút có sao đâu! Mà anh cũng nên cười lên cho vui vẻ. Ai cấm anh cười đâu nào!”
    Thế nhưng anh vẫn vẻ mặt hầm hầm. Đi ra đá cái cái ghế, đi vô chằn cái ly nước trên bàn thật mạnh, “quăng thúng đụng nia” chị giật hết cả mình.
    Vẫn thái độ “mặt nặng mày nhẹ” anh nói: “Có chồng rồi là ra đường phải nghiêm túc, không được cười cợt với thằng nào nha! Tôi không thích vậy!”
    Chị không nói gì nữa lẳng lặng làm việc mà nghe lòng mình cay đắng dâng lên khóe mắt rưng rức. Trong nhà, mỗi lần mua sắm gì anh cũng bảo chia hai mỗi người chịu một nửa. Tiền lương anh cất riêng. Ví như mua cái nồi cơm điện giá 400.000 đồng thì chia người 200.000 đồng. Có lần sắm một cái giường gỗ giá 5 triệu. Anh nói: “Cái này bà phải chịu 3 triệu, tui 2 triệu vì bà hay ở nhà, nằm nhiều hơn tôi!” Đó, lý lẽ của anh là vậy và luôn vậy. Tất cả chị đều nín nhịn mặc dù cũng có khuyên nhủ ít nhiều nhưng xem ra không thấm vào đâu. Chị cay đắng, nuốt buồn vào trong, chịu đựng ngày này qua tháng khác để lo cho các con. Một hôm anh về nhà tuyên bố một câu xanh rờn:
    “Giờ tôi muốn ly thân! Vì tôi đã tìm được tình yêu đích thực của đời mình. Cô ấy trẻ hơn bà, hấp dẫn hơn, cuồng nhiệt hơn bà!”
    Chị nghẹn lời để mặc nước mắt lả chả rơi! Tình mới của anh là một cô bé trẻ bằng tuổi con bé đầu của anh chị! Chị nhắm mắt đưa chân mặc anh muốn làm gì thì làm. Không còn lựa chọn nào hơn! Vì chị có đồng ý hay không thì anh cũng đã quyết rồi! Anh thỏa thuận chia chác tài sản với chị rồi khăn gói ra đi xây tổ uyên ương mới. Cũng là lúc cơ quan đuổi việc anh vì lý do vi phạm luật hôn nhân gia đình. Anh sống với cô vợ trẻ ở một căn phòng trọ ngoại ô thuộc huyện Cần Giờ. Cô vợ trẻ hơi bị tật ở chân, dáng đi chấm phẩy. Cô lớn lên từ trại tình thương. Không có gia đình bên ngoại nên anh mới dễ dàng tán tỉnh cô bé. Họ có với nhau một đứa con nhỏ đã hơn một tuổi. Từ đó ngày ngày anh lăn lộn kiếm sống để nuôi con.
    Bẵng đi mấy năm tôi không thấy chị ở quầy bưu điện nữa. Tình cờ gặp chị ở chợ hoa ngày tết. Chị kể là anh chị đã li dị. Anh có mái ấm riêng. Các con lớn nay đã lập gia đình. Chị giờ cũng thảnh thơi, có hội hưu trí hay đi cà phê với nhau. May mắn gặp được tri kỷ của đời mình. Anh Nguyễn Đình Yên sống độc thân. Vợ anh mất đã lâu, các con trưởng thành ra riêng. Nay anh chị sống vui vẻ bên nhau, thỉnh thoảng đi du lịch đây đó.
    Vậy là sau những va đập nhỏ to của cuộc sống hôn nhân chênh lệch cá tính. Và sau cùng là anh phụ rẫy chị như “giọt nước tràn ly”. À không! Chậu nước hắt lên đổ tràn ly. Ly nước vốn đã chất chứa nhiều chịu đựng cũng đến lúc phải tràn dù không mong muốn đổ vỡ.
    Thôi vậy cũng mừng cho chị được giải thoát. Chị cũng đã làm tròn vai trò làm mẹ, các con trưởng thành, có gia đình riêng. Chị cũng đã tìm được niềm vui chặng cuối đường, tuổi xế chiều mong chị có cuộc sống yên bình, thoải mái, dễ chịu hơn!
 

– Hoàng Thị Bích Hà

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.