Hôm nay,  

Chuyện ăn

12/09/202309:59:00(Xem: 3400)
Phiếm

IMG_7124

Chúng ta “ăn để mà sống” hay “sống để mà ăn”? Tôi vẫn nghĩ rằng, mọi người đều phải trải qua cả hai giai đoạn kể trên, khi còn trẻ sung sức thì “sống để ăn”, và khi tuổi về xế chiều thì “ăn để sống”.
    Vì tôi sinh ra với cái nốt ruồi trên khóe miệng nên máu “ăn hàng” có trong tôi từ bé, đâu phải tự dưng má gọi tôi là con “Mỏ Khoét”. Nhà tôi có quán nước giải khát, má bận cả ngày với khách hàng, tôi vẫn tranh thủ xin tiền má rồi chạy biến qua các hàng quà vặt trong xóm với các món hàng mê mẩn bất cứ đứa bé nào: kẹo bột, bánh tráng, bánh sữa mặt trăng, bánh tay cùi... để rồi ngày nào tôi cũng chán cơm vì bụng đã no nê. Có lần má cầm cây roi, rồi để cái bánh bông lan bên cạnh, bắt tôi phải ăn xong chén cơm nếu muốn có bánh bông lan, hoặc là ăn roi. Tôi còn ganh tỵ với cả đứa cháu trai nhỏ hơn tôi bốn tuổi, bữa nào tôi đi học về mà thấy cái miệng nó ướt ướt, tôi sà vào hít hà miệng nó, thấy mùi xá xị là lên cơn õng ẹo đòi má phải khui cho tôi một chai, nhưng má cương quyết không cho, nào vì tiếc chai xá xị, mà má ra điều kiện “Mỏ Khoét” phải ăn cơm xong mới có xá xị. Thích nhứt là khi ấm đầu sổ mũi, tôi có “đặc quyền” điểm danh các hàng phở, mì gõ trong xóm để má sai người đi mua về cho tôi dưỡng bệnh.
    Lớn lên vào tuổi niên thiếu tung tăng đến trường thì chuyện ăn hàng là... đương nhiên. Có cô học trò nào không say sưa ăn vặt? Các quán xá trước cổng trường, vỉa hè lề đường suốt con đường đi học, lũ chúng tôi rành rọt còn hơn thuộc bài. Cóc ổi xoài ngâm chấm muối ớt cay xè, kem chuối lạnh có đậu phộng giã nhuyễn bùi bùi, khoai mì trộn dừa ôi mê ly, khoai lang chiên giòn, hôm nào có nhiều tiền thì vào hàng chè nóng, ôi các thau chè bắt mắt làm chảy nước miếng của những tâm hồn đam mê ăn uống: chè táo xọn, chè đậu, chè thưng, chè khoai môn, chè bà ba thơm ngọt ngất ngây.
    Khi tôi lên trung học, mức độ ăn hàng cũng... tăng theo cấp lớp. Ngày ngày đạp xe ra Sài Gòn học thêm luyện thi đại học, chúng tôi không bỏ sót bất cứ lời đồn nào về các món ăn khắp bốn phương trời. Nào gỏi đu đủ khô bò trước Chùa Xá Lợi, chè đá đậu Lý Chính Thắng (trước 1975 là Chè Yên Đổ lừng danh), bún bò Kỳ Đồng, bánh cuốn Văn Hoa ĐaKao, bột chiên hẻm Chu Mạnh Trinh Phú Nhuận. Các nẻo đường ăn hàng luôn luôn là hình bóng ấp ủ trong trái tim tôi, chớ hổng phải hình ảnh... thằng bạn nào hết á!
    Đó là các quán ăn bên ngoài, còn các món ăn vặt trong xóm thì khỏi nói, tôi cũng có mặt đầy đủ. Sát bên nhà tôi là chị hàng xóm có tủ trái cây, khoảng giờ trưa là chị bày hàng, các miếng xoài, dưa hấu, đu đủ được cắt gọn gàng tươi mát, phủ một lớp đá bào lên trên, là món giải khát tuyệt vời của mùa nóng bức. Thấy tôi vừa dắt xe khỏi cổng nhà chuẩn bị đi học thêm, chị cười duyên với tôi:
    – Mở hàng giùm chị đi em, đu đủ mới cắt nè, ngọt lịm luôn đó.
    Tôi vội vàng:
    – Thôi chị, em phải đi học ngay, kẻo trễ giờ.
    – Nhưng em ơi, “vía” của em rất tốt, lần trước nhờ em mở hàng mà chị bán sạch tủ trái cây trong vài tiếng đồng hồ, em làm ơn đi mà.
    – Chị làm em khó xử quá, thôi chị đưa đây, chút em ăn sau, tiền bạc em không có sẵn nhe.
    – Ối, em đừng lo, khi nào rảnh thanh toán luôn một thể.
    Từ đó, trưa nào chị cũng rình tôi vừa dắt xe ra là quăng liền 1 bịch đu đủ đá bào lên giỏ xe đạp của tôi (chính xác không thua gì các cầu thủ bóng rổ ném banh), kèm theo một nụ cười mãn nguyện sung sướng.
    Ở ngôi chợ nhỏ trong xóm, có bác Mộc là người còn giữ nét Bắc Kỳ dù di cư vào Nam đã lâu, bác vẫn vấn khăn trên đầu, mắc áo yếm lót bên trong chiếc áo cánh màu trắng mỏng. Bác bán các món Bắc thanh lịch như xôi vò, chè bồ cốt, rượu nếp, bánh trôi. Hôm đó bác làm món mới, là bánh cam ngào đường (không phải loại bánh cam nhận đậu xanh ngọt có mè bên ngoài, mà bánh cam nhân đậu xanh mặn xào hành lá, bên trên vỏ bánh là một lớp đường ngả màu óng ánh), là món ... ruột trong vô vàn món ruột của tôi, nên tôi có mặt từ sớm để mua trước khi đi học. Được vài hôm không thấy tôi mua nữa, bác gặp tôi trong xóm, liền hỏi:
    – Sao mấy hôm nay cô không mua bánh cam, ngán rồi ư?
    Tôi nhăn mặt tiếc nuối:
    – Thú thiệt với bác, đêm nào con cũng học bài đến khuya, sáng ngủ dậy chỉ kịp giờ đi học, con không thể thức dậy sớm hơn để ra chợ mua bánh, dù lòng con rất muốn, rất thèm.
    Bác Mộc hớn hở:
    – Tưởng gì! Vậy thì mỗi sáng sớm trên đường dọn hàng ra chợ, tôi tạt qua nhà đưa bánh cho cô, tiền bạc cứ để đấy, tính sau.
    – Dạ thôi, phiền lắm bác ơi.
    – Có phiền gì đâu, chỉ thêm vài phút thôi mà, cái chính là tôi muốn được cô... mở hàng.
    Tôi kêu thầm trong bụng “ nữa hả? cái vụ mở hàng !?” rồi hỏi bác:
    – Mà sao bác cần con mở hàng chớ, xóm này thiếu gì người?
    – Ối dào, chỉ có cô mới có cái nốt ruồi ngay khóe miệng, mở hàng là bảo đảm đắt như tôm tươi, cấm có sai nhé.
    Cũng giống như với chị bán đu đủ đá bào, tôi đành ngoan ngoãn dạ vâng, coi như đôi bên cùng có lợi, tôi có bánh cam ăn sáng, bác có tôi mở hàng. Ngày hôm sau bác đến gọi cổng khi tôi còn ngủ, may mà có ông anh sáng nào cũng dậy sớm tập tạ trước sân nhà, nên anh nhận bánh cam giúp tôi vì anh nghĩ chắc có chuyện đột xuất, hoặc tôi không được... khỏe. Nhưng vài ba ngày sau nhận bánh liên tiếp, anh liền mắng tôi:
    – Em học đâu ra cái thói “con nhà lính tính nhà quan” thế kia? Từ đây ra chợ vài chục bước chân, sao lại hành người ta như thế.
    Ui choa, cái này là “oan thị Kính” chớ không phải “oan Thị Màu”, nhưng dù tôi có phân bày thế nào, anh vẫn lạnh lùng ra lệnh: “dẹp ngay!”
    Tôi và bác Mộc đều rất buồn, nhưng biết làm sao hơn. Để bù lại, vào cuối tuần, sau khi ngủ nướng đã đời, tôi đi bộ ra chợ, ngoài phần bánh cam bác đã để dành như tôi dặn, tôi còn ngồi xuống ăn bát xôi vò trộn chè bồ cốt, dù tôi không còn mở hàng nhưng bác Mộc rất vui vì tôi vẫn là khách hàng thân quen.
    Cái thuở “sống để ăn” ấy đã trôi qua lâu rồi, vì ngày nay, khi bước qua tuổi 50 trở đi, nhìn bạn bè và anh chị em trong nhà bắt đầu có dấu hiệu “cao nọ cao kia”, bác sĩ dặn dò “kiêng nọ kiêng kia”, tôi bắt đầu bước vào giai đoạn...“ ăn để sống”. Người may mắn được tôi chọn đồng hành “ăn để sống” chính là chồng tôi, vì dù sao anh ấy cũng già hơn tuổi hai tuổi, còn lưu luyến gì cái thời “sống để ăn” nữa chớ.
    Thế là chương trình được áp dụng ngay luôn, bớt mỡ bớt đường, ăn nhiều rau, uống nhiều nước, đi bộ mỗi ngày ít nhất 30 phút, ăn bánh mì nâu, nhiều hạt, tránh thịt đỏ, bổ sung nhiều vitamin vân vân và vân vân.
    Thời gian đầu, chồng tôi cũng hăng hái tham gia nhưng rồi có ngày bỗng than thở:
    – Hễ em xem google nói gì là bắt anh thực hành, uống sữa uống nước, rồi nước chanh, nước artichoke, probiotic Kefir yogurt, bột nghệ, riết bụng anh no ngang, còn ăn được gì nữa đâu.
    – Chẳng phải đó là mục đích của chúng ta, ăn ít cơm ít thịt đó sao?
    – Em còn kiểm soát cả lunch bag mỗi khi anh xong việc về nhà, có hôm gần tới giờ đi ngủ, anh đang xem trận hockey chung kết gay cấn, em bỗng xuất hiện ở cửa phòng với ly nước trong tay, bảo rằng anh chưa uống đủ tám ly, làm anh chia trí lỡ một pha ghi bàn trên ti vi.
    Nói tới lunch bag, đúng là tôi có theo dõi chặt chẽ vì tôi biết tiệm quá bận rộn, chuyện quên ăn, quên uống đôi khi vẫn xảy ra. Có hôm, thấy trái quít còn trong lunch bag đem về, tôi hỏi lý do, anh bảo vì gấp gáp nên không có thời gian lột vỏ. Chuyện nhỏ, lần sau tôi lột sẵn trái quít, bọc plastic wrap gọn gàng, chồng đừng hòng lý do lý trấu gì nữa nhé.
    Rồi chồng tôi hờn mát:
    – Ở tiệm thuốc, anh là người hướng dẫn khách hàng vấn đề sức khỏe, còn về nhà thì phải... nghe lời em!
    Sao bữa nay anh ấy “mong manh dễ vỡ” vậy cà? Mà thôi, các đấng đàn ông cũng là con người biết buồn biết vui biết chạnh lòng, và nhất là đều... hảo ngọt, tôi bèn tung kế “dịu dàng”:
    – Anh thừa biết em làm vậy vì lo cho anh quá bận không còn thời giờ chăm sóc bản thân, đúng không? Thôi anh hãy ráng cùng em tiếp tục ăn uống “kham khổ” trong tuần, đến cuối tuần em lại nấu những món phở, bún chả giò, bánh canh, hủ tíu. À, tuần này nhà có nhiều rau thơm ngoài vườn, em sẽ làm món bánh xèo anh yêu thích đấy nhé.
    Nói đến bánh xèo là tôi nhức đầu, vì thỉnh thoảng tôi mới đổ bánh xèo nên nhân tiện làm luôn hai bịch bột, để cả nhà cùng ăn, rủ thêm hai người bạn thân thiết cho vui. Một người là cô bạn single mom ăn chay trường, còn người kia là nhỏ em cùng xóm mà tôi là má đỡ đầu hai đứa con gái của nó, chồng nó đi làm xa. Đổ bánh tuy có mệt, nhưng chưa mệt bằng việc phải nhớ đổ bánh cho đúng ý từng người, này nhé:
    – Đầu tiên phải đổ mấy cái chỉ có nấm và tàu hũ cho cô bạn ăn chay.
    – Tiếp theo, con gái tôi: nhiều tôm, ít thịt, không giá.
    – Thằng fiance của con gái: không onion, không mushroom, nhiều giá.
    – Con trai tôi: không mushroom, không tôm, ít giá.
   – Hai đứa con gái đỡ đầu: không giá, không onion, không đậu xanh, không mushroom, không thịt, nhiều tôm và tàu hũ.
    – Cuối cùng mới đổ cho vợ chồng tôi và nhỏ em hàng xóm thuộc nhóm thích đủ thứ, hổng chừa thứ gì.
    Ăn bánh xèo trong nhà mà còn phức tạp, chín người mười lăm ý, thì nói chi cuộc đời, người ta bất đồng ý kiến, goánh nhau chửi nhau như mổ bò rồi tha hồ “chụp mũ” cho nhau. Có lần đổ xong bánh, tôi bày la liệt trên kitchen counter, rồi đi dọn dẹp mọi thứ, lúc quay lại không thể nhớ dĩa nào là dĩa nào, là của ai, báo hại tôi phải mò mẫm, vạch từng cái bánh xèo ra dòm cho kỹ, xong ngồi thở hổn hển, nổi đóa tuyên bố: “Tôi thề, năm sau mới đổ lại bánh xèo”.
    Vậy mà cũng tới một năm rồi đó, là hôm nay, tôi xin dừng bài viết tại đây để đi pha bột bánh xèo nha quý vị!

—Kim Loan

(Edmonton, 9/2023)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.