Hôm nay,  

Cô Mười

01/08/202313:10:00(Xem: 4615)
Truyện

cheo do

Ông Hương Cả làng Ngọc Thạnh nổi tiếng mát tay, tuy là chức sắc trong làng nhưng người làng ít kêu ông là ông Hương Cả mà họ kêu là thầy Hai. Thầy Hai bốc thuốc Nam rất hiệu nghiệm, ai bị bệnh gì cũng tìm tới thầy Hai. Thầy Hai xem mạch và bốc thuốc làm phước chứ chẳng phải lấy tiền.
    Thầy Hai có đến chín người con nhưng không hiểu sao người làng chỉ nhắc đến bốn người sau cùng mà ít khi nói về mấy người con lớn, có lẽ bốn người sau có nhiều cá tánh hơn chăng? Cô Sáu Bụng có ngón nghề làm tương chao ngon bá cháy, tiếng đồn khắp nơi. Tương cô Sáu ngon, rền, béo, thơm, đậm đà hương vị… Người làng gần xa và các tổng khác đều ghiền, không chỉ người ăn chay mà người ăn mặn cũng thích, bữa cơm mà thiếu chén tương là mất ngon. Người kế là cậu Bảy Tiệm, cậu có tài kinh doanh, mùa mía mua đường, mùa lúa trữ thóc. Đường cậu bảy bán ra tận Hải Phòng, vô Sài Gòn, lên Nam Vang, vì thế mà cậu Bảy giàu có nhất vùng, là tài chủ của địa phương. Cậu Tám Tòng thì lại học ngón nghề bốc thuốc xem mạch của ông Hương Cả. Người làng Ngọc Thạnh, Thanh Huy, Đại Hội, gần xa đều rước cậu Tám đi xem mạch. Người con gái út là cô Mười, Thầy Hai cưng cô Mười lắm, muốn gì cũng chìu, dành hết tình thương cho cô Mười. Mà kể cũng lạ, cô Mười hổng giống mấy anh chị mình. Cậu Bảy, cậu Tám cao dong dỏng, da trắng, thanh tú, trong khi ấy cô Mười lại da ngăm ngăm, tướng đậm thấp và chắc nụi. Tuy là con gái út nhưng cô Mười rất cứng rắn, tháo vát chứ hổng có ủy mị, nũng nịu, yểu điệu như những cô con gái út khác. Cô Mười không thích học chữ Nho hay chữ quốc ngữ, ông Hương Cả cố ép nhưng cổ chỉ học qua loa lấy lệ, Cô Mười thích học võ, đi quyền, suốt ngày chạy nhảy rong chơi với bọn con trai nhà ông Ba Tá, Bốn Sự. Thằng Hân lớn nhất trong đám, nó còn dạy cô Mười tập chạy xe thổ mộ, có lần Cô Mười quất roi mạnh quá, lại giật dây cương sai nhịp khiến con ngựa  kéo cả cái xe chạy xuống ruộng lúa đầu đình Ngọc Thạnh luôn, bữa đó anh Hân bị ông Ba Tá oánh một trận và còn bị cấm leo lên xe thổ mộ. Cô Mười cũng bị thầy Hai rầy một trận nhưng rồi đâu cũng vào đó, chuyện cũng êm xuôi như bao chuyện khác đã xảy ra. Thầy Hai nói:
    – Con gái con đứa gì mà cứ nhồng nhỗng như con trai, ai dám rước về làm dâu?
    Cô Mười cười hô hố:
    – Con hổng làm dâu ai hết, ở nhà với tía thôi!
    Thầy Hai nhìn cô Mười cười và lắc đầu:
    – Con gái hổng gả để làm mắm hả?
    – Con hổng thèm làm dâu ai hết, mai kia tía già con lo cho tía!
    – Thôi khỏi, con lo cho con trước đi nha! Ý tứ, thùy mị một chút để rồi tía kiếm mối cho con! Con gái có một thời, bông búp hổng bán bông tàn bán ai mua? Mà tía thấy thằng Hân con nhà Ba Tá cũng được lắm.
    Cô Mười cười nghặt nghẽo, anh Hân là bạn ruột của cô Mười, tự dưng tía nhắc tới làm cho cô Mười vui hẳn lên. Anh Hân tướng người cũng rắn chắc, đậm thấp và rất tháo vát, tánh tình thì rất ăn rơ với cô Mười, hồi nào giờ cứ kêu ông với bà chứ chẳng chịu xưng anh em gì hết ráo, mặc dù anh Hân lớn hơn cô Mười cả mươi tuổi. Hai Hân và cô Mười có nghe loáng thoáng là thầy Hai và ông Ba Tá có hứa làm sui, nhiều người cũng đồn vậy và cặp đôi, tuy nhiên anh Hân và cô Mười vẫn cứ tỉnh như ruồi, chẳng coi chuyện đó có gờ ram nào hết. Bữa kia cô Mười kêu anh hai Hân lại:
    – Ông có biết gì không? Tía tui muốn làm sui với tía ông đó!
    Anh Hai Hân cười cười:
    – Vậy bà dzìa làm dzợ tui.
    Cô Mười xí một cái dài cả cây số:
    – Xí, ai mà thèm làm dzợ ông, mà tui cũng hổng muốn làm dzợ ai hết.
    – Vậy bà muốn ở giá sao?
    – Tui hổng biết nhưng giờ tui chưa tính.
    – Bà tính được gì? Tía bà tính cho bà.
    – Bộ ông hổng sợ người ta cười “chuột sa hũ nếp” hả?
    – Bà nghĩ chỉ có nhà thầy Hai giàu? đừng quên nhà ông Ba Tá cũng là cự phú trong làng này à nha!
    – Ông thương thầm tui hả? Sao coi bộ khoái cái chuyện hứa làm sui của hai khứa lão vậy?
    – Thương gì bà? Tía nói lấy ai thì lấy đại vậy thôi!
    Tuy nói vậy nhưng ánh mắt và cử chỉ của Hai Hân thì khác, người tinh ý sẽ thấy Hai Hân có tình ý thương thầm cô Mười. Đi chơi đâu cũng phải có cô Mười, chuyện gì cũng cho cô Mười là nhứt, chỉ cô Mười đánh võ đi quyền, luôn bảo vệ cô Mười, khen cô Mười này nọ. Có lần cô Mười cũng nghi ngờ Hai Hân nên cảnh cáo:
    – Tui với ông là bạn trong làng, hổng có thương gì hết ráo à nha!
    Hai Hân cười cầu tài:
    – Cô Mười muốn sao cũng được.
    Hai người vẫn cứ ông bà như hồi nào vậy, cứ nhông nhổng trong làng như còn con nít chứ chưa đủ tuổi lớn. Tuy vậy người làng Ngọc Thạnh vẫn cứ đồn rân cả lên chuyện hứa hôn, người thì nói hai đứa đó hợp rơ ăn ý lấy nhau sẽ thuận vợ thuận chồng, cũng có người lại nói gièm: “Cô Mười tánh đàn ông, chắc gì sống hạnh phúc?”, v.v.
 
***
 
Tháng chạp năm Giáp Dần, cả làng Ngọc Thạnh râm ran bàn tán chuyện thầy Hai gả cô Mười cho anh Hai Hân con nhà ông Ba Tá. Hổng biết thầy Hai có ép uổng gì không hay chỉ thuyết phục giỏi mà không thấy cô Mười cự lại. Cô Mười vẫn như mọi ngày, chẳng có vẻ gì là sắp về làm dâu nhà ông Ba Tá. Ngày cưới, thầy Hai mặc áo dài xanh đậm chữ thọ, khăn đóng, giày Gia Định đưa cô Mười sang nhà Ba Tá để làm dâu. Cô Mười mặc áo dài hồng, đội khăn vành vàng có mạng lưới trắng phủ xuống mặt, cũng má phấn môi son nên trông khác hẳn mọi ngày. Bà con trong làng chạy theo coi quá trời, người này chỉ trỏ, người kia chen lấn nhìn cô Mười làm cô dâu. Ai đó nói oang oang:
    – Cô Mười mặc áo cô dâu cũng đẹp quá nha!
    Tụi con nít bu quanh cứ rần rật chờ pháo nhà ông Ba Tá nổ. Hai Hân đi bên cạnh cô Mười vừa mắc cỡ vừa sung sướng cứ cười cười tủm tỉm, vẻ mặt rất là hãnh diện với mọi người. Tiệc cưới linh đình, kéo dài từ trưa cho tới tận mười giờ đêm, nhạc xập xình rộn cả đầu trên xóm dưới. Hai Hân tì tì nốc cạn rượu mời, rượu phạt, rượu mừng, rượu mớn. Hai Hân tửu lượng có cao nhưng uống cỡ đó thì cũng lè nhè say. Khách khứa chẳng cần biết đêm nay Hai Hân có động phòng nổi hay không, cứ mời lên ly liên tục.
    Ba ngày sau Hai Hân lại đưa cô Mười hồi dâu đặng chào và cảm ơn ông Hương Cả, giờ là tía vợ rồi! Cô Mười sau cưới vẫn vậy, gỡ hết áo xống phấn son xuống thì cô dâu lại hiện nguyên là cô Mười, chẳng có chút gì thay đổi, vẫn cứ ông ông bà bà mà chẳng chịu xưng em như người ta. Hai Hân thì giờ cũng có lúc biết kêu cô Mười là em nhưng phần nhiều vẫn là bà, ấy vậy mà chữ bà của Hai Hân nó ngọt lắm nha, nó tình sao ấy. Bà Tư Lượm phàn nàn:
    – Con gái con đứa gì mà ăn nói thô quá, hai vợ chồng bay y hệt nhau, sao hổng kêu anh em cho nó tình mà cứ ông ông bà bà như hồi chưa cưới!
    Nói thì nói vậy thôi chứ bà Tư Lượm biết cô Mười từ hồi còn con nít. Bà không bằng lòng việc ông Ba Tá hứa làm sui với thầy Hai, tuy nhiên mọi việc trong nhà đều nhất nhất do Ba Tá xếp đặt. Ông đã quyết thì bà Tư Lượm cũng phải chịu thôi. Người ta nói ai có tiền thì người ấy nắm quyền. Bà Tư Lượm về làm vợ Ba Tá cũng là do sự xếp đặt của chính ông. Vợ ông mất sớm, ông thấy nhà Sáu Lầu có cô con gái lớn khá xinh nhưng chưa thấy ai dạm hỏi. Ba Tá nhờ mai mối tới lui vài bận thì Sáu Lầu gả cô Tư Lượm cho Ba Tá. Cô Tư Lượm về làm vợ Ba Tá sướng quá trời, hổng phải làm lụng khổ sở như ở nhà mình. Ba Tá cũng thương Tư Lượm nhưng mọi việc trong nhà Ba Tá quản lý hết.
    Bà Tư Lượm cũng không ghét gì cô Mười nhưng mẹ chồng nàng dâu đôi khi cũng có lời qua tiếng lại, Cô Mười thì tánh tình không được dịu dàng chi mấy, thậm chí còn rất ngang ngay sổ thẳng nên bà Tư Lượm cũng không vừa ý. Có lần bà Tư Lượm sai cô Mười đem rổ trứng gà ra chợ bà Bâu bán, cô Mười đi thẳng ra cống ông Bổn đổ hết cả rổ trứng gà xuống mương rồi về. Bà Tư Lượm hỏi tiền đâu thì cô Mười nói té mương nên trứng trôi hết rồi. Bà Tư Lượm tức tối la lối ầm ĩ khiến Hai Hân biết chuyện:
    – Sao em đổ hết trứng gà của má?
    – Má biểu đi bán nhưng cục tức chẹn ngang cổ, thở hổng nổi, tui đổ hết rổ trứng xuống cống ông Bổn vậy mà giờ tan cục tức, nhẹ gì đâu á!
    Hai Hân cười như mếu:
    – Vậy mà sao hồi đó tui thương bà được, thiệt là hổng hiểu nổi?
    Cô Mười đáp:
    – Hối hận phải hôn? Nếu hết thương thì tui dzìa nhà tía tui!
    Hai Hân không trả lời mà quay lưng bước đi một mạch.
    Cuối năm Bính Thìn, Bảy Tiệm trúng mánh, đường bán giá cao lời khẳm luôn. Bảy Tiệm thương cô Mười, cho cô Mười món tiền lớn. Cô Mười ra chợ bà Bâu mua cho bà Tư Lượm xấp lãnh Mỹ A hảo hạng, ông Ba Tá cái mục kỉnh mới, hàng tây chính hiệu, Hai Hân bộ đồ tây vừa vặn đẹp hết sẩy. Mấy bà hàng xén chợ bà Bâu khen:
    – Cô Mười thô tháo vậy chứ cũng tình nghĩa quá trời, coi người đừng có nhìn bề ngoài à nha!
    Ăn ở nhau có mấy mặt con, Hai Hân đổi tánh, từ thô tháo tự dưng yêu đương lãng mạn, cặp bồ với cô Hai Sự, Hai Sự nhan sắc cũng chẳng hơn gì cô Mười nhưng được cái hiền lành và ngọt ngào. Hai Sự là gái quá lứa mà chưa có ai rước nên Hai Hân mới có cơ hội thậm thụt tới lui. Làng xóm cứ xì xào bàn tán, cô Mười cũng nghe phong phanh nhưng không nghĩ rằng Hai Hân có mèo. Thế rồi Hai Sự có bầu. Giờ thì người Làng Ngọc Thạnh, Thanh Huy, Mỹ Điền, Quy Hội, Quán Cẩm… cười nói bàn tán dữ lắm, ai cũng tưởng phen này cô Mười sẽ làm ầm ĩ lên, sẽ đánh ghen, vì tánh cô Mười xưa nay nổi tiếng nóng như lửa rơm. Nào ngờ cô Mười im lặng, chẳng đá động gì, không làm gì cả, ngay cả một lời chửi rủa cũng không. Người ta ngạc nhiên lắm, càng thêm tò mò, càng thêm pha mắm giặm muối vào câu chuyện. Bà Năm Ròm léo nhéo với mấy bà khác trong làng:
    – Đến nước này thì ông Phật cũng giận chứ đừng nói chi người, ấy vậy mà sao con Mười nó im ru vậy ta?
    Mấy bà bàn tán mổ xẻ câu chuyện, suy đoán lung tung nhưng chẳng ai cắt nghĩa được sao cô Mười im lặng trong khi bản tánh cô Mười rất nóng và thô tháo. Mấy ông sồn sồn trong làng khi uống vài ba xị đế cũng đem chuyện cô Mười ra cười cợt. Ông Bảy Thà nói:
    – Tại cô Mười thô tháo nên thằng Hân mới đi tìm người nhẹ nhàng dịu hiền.
    Ông Mười Thập ngửa cổ làm cái ót chung rượu, nêu thắc mắc:
    – Người như cô Mười lẽ ra sẽ ghen lồng lộn, đánh ghen dữ lắm mới phải, sao đằng này lại im ru vậy cà?
    Ông Chín Cửu gắp cái phao câu trầy trật bèn bỏ đũa lấy tay cầm cạp ngon lành, miệng còn dính mỡ nhầy nhụa nói:
    – Ở đời nhiều khi thấy vậy nhưng không phải vậy, khi đụng chuyện mới biết bản chất thật con người. Cô Mười thô tháo tưởng tánh đàn ông nào ngờ có máu trượng phu.
    Cả chiếu nhậu gật gù tán thưởng lời Chín Cửu, cả đám hò dô dô mấy lượt mừng lời nói hay.
    Mấy tháng sau cô Mười về thưa chuyện với ông Bảy Tiệm, trong mấy anh em thì Bảy Tiệm thương cô Mười nhất. Bảy Thạnh bèn cắt cho cô Mười một mảnh đất vườn để cất nhà. Nhà cất xong, cô Mười và bốn đứa con về đấy ở. Cô Mười theo Bảy Tiệm đi buôn đường khắp nơi, mấy năm sau có được món tiền kha khá cô Mười mua một căn nhà ở chợ bà Bâu và mở tiệm chạp phô, từ đó công việc làm ăn ngày càng phất lên.
    Cô Mười ly thân ra riêng thì Hai Hân rước cô Hai Sự về sống chung luôn, hai người có thêm mấy mặt con nữa, tuy ly thân nhưng Hai Hân vẫn chạy tới chạy lui chứ không cắt đứt. Cô Mười cũng vui vẻ như thường chứ chẳng điều tiếng gì, nhà cửa khi cần gì cũng kêu Hai Hân về sửa, việc nhà khi cần có mặt đàn ông thì Hai Hân vẫn đứng ra cáng đáng. Cô Mười cũng không hề nặng nhẹ gì với Hai Sự, người trong làng cứ ngỡ có cuộc chiến nhưng chẳng bao giờ thấy, họ cứ nghi ngờ hổng biết cô Mười có toan tính gì trong đầu sao chẳng thấy lộ ra.
    Ngày giỗ ông Ba Tá, cô Mười và cả Hai Sự cùng làm mâm cơm cúng, tuyệt nhiên không có lời qua tiếng lại, cũng chẳng ai thấy mặt nặng mày nhẹ bao giờ. Mấy đứa con cô Mười và con cô Hai Sự cũng nhìn nhận anh em và thân mật với nhau khiến người làng cứ mãi bàn tán gia đạo nhà cô Mười ăn ở vậy mà hay.
    Người chợ bà Bâu đồn lung tung là Hai Hân lấy vàng của cô Mười đem cho cô Hai Sự. Mấy đứa con cô Mười nghe được nên sanh nghi, thằng Hùng con lớn của cô Mười hỏi cổ:
    – Có Phải ba lấy vàng của má đem cho dì Hai Sự?
    Cô Mười cười cười không xác nhận cũng chẳng bác bỏ:
    – Thôi đi con, nước chỗ đầy chảy xuống chỗ cạn cũng là lẽ thường.

 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 0723)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mùa Hè đầu thập niên 60, từ Đà Nẵng, chúng tôi mở cuộc “hành phương Nam” vào thành phố Nha Trang. Dũng có người bà con ở dưới Cầu Đá, đã nhiều lần vào Nha Trang, mô tả vùng trời phương xa thật hấp dẫn, ba đứa còn lại được nghe bạn kể nên rất náo nức, được dịp rủ rê nên chớp ngay cơ hội sau vài ngày nghỉ hè. Bốn đứa mang theo hai chiếc xe đạp để tiện việc di chuyển, đáp chuyến xe đò Phi Long từ mờ sáng, đến Nha Trang vào lúc mặt trời lặn.
Những tàng cây ngả nghiêng trong gió. Lá me xanh rải đầy đường. Cơn đói bò lan ra cả ngoài da. Chỉ còn hai tiếng đồng hồ nữa là tới giờ hẹn. Không còn cách nào khác. Hắn đạp xe vòng quanh con phố. Bụng quặn lên ngàn con sóng. Biển động cấp năm trong bao tử và ruột non ruột già. Nhưng cơn đói hùng hổ như thế cũng chẳng thấm thía gì so với nỗi lo âu đầy nanh vuốt của cái việc phải làm. Hắn quẹo gắt vào con hẻm. Tay lái xe vướng vào quang gánh một người đàn bà bán hàng rong. Cú giật ngược làm hắn lao đao và người đàn bà nhùng nhằng sắp ngã. Chén bát xô vào nhau loảng xoảng hai đầu quang gánh. Người đàn bà trợn ngược con mắt.
Sau ngày 30 tháng tư 1975 tôi bị ở tù như mọi người cựu quân nhân Cộng Hòa. Ở tù ra, đói khát, lang thang, tới giai đoạn mà “cái đèn đường có chưn nó cũng muốn kiếm đường mà đi.” Đi khỏi quê hương đất tổ mồ mả ông cha, còn cái gì khổ cho bằng? Vậy mà phải đi. Nhứt định đi. Nếu được tới bến bờ tự do thì nhờ phúc đức ông bà kiếm sống rồi tím cách đem thân nhân còn lại không thì chết cũng lẹ làng hơn là chết đói chết khát tại quê hương. Tù vượt ngục về còn có cái mình không với cái quần xà lỏn. Tiền bạc có đâu???, vàng cây để vượt biên là chuyện ngoài chân mây. May mắn hết sức là tôi liên lạc được thằng bạn đồng ngũ đã qua Mỹ, má nó mua chiếc ghe bầu tính chuyện vượt biên đang cần người lái tàu mà tôi là cựu hải quân ngành Rada truyền tin. Bà cho tôi giữ ghe một năm để chuẩn bị.
Chủ Nhật mùng 9 vừa qua của tháng 5 này là Ngày Hiền Mẫu (Mother’s Day) tại Hoa Kỳ, để cho tất cả con cái có dịp đặc biệt tỏ lòng thành kính tri ân người Mẹ qua nhiều hình thức khác nhau, đã phải cực nhọc hy sinh mọi gian khổ để nuôi dưỡng con khôn lớn, ăn học thành tài và sống tự lập ngoài xã hội. Nói riêng về Đạo Công Giáo, trong suốt tháng 5 này gọi là tháng Dâng Hoa Đức Mẹ của tất cả các tín đồ người Công Giáo Việt Nam trên hoàn vũ, bầy tỏ lòng kính mến và tôn vương Thánh Nữ Đức Mẹ Đồng Trinh Maria là Mẹ Thiên Chúa.
Ông già đứng chờ ở chỗ thiên hạ trả xe đẩy hàng, cạnh cửa ra vào tiệm thực phẩm Á Châu. Ông cụ mong ngóng từ tâm của khách hàng. Và con mắt ông cụ sáng lên khi người thanh niên đẩy chiếc xe lại chỗ trả. Anh ta gài sợi dây từ chiếc xe trước vào xe mình để đồng tiền cắc một đồng lọt ra. Ông già chớp vội hai mắt chờ đợi. Người thanh niên cầm đồng xu và ném về phía ông già. Ông già nhanh miệng cảm ơn và đưa tay đón bắt, nhưng hụt, và đồng tiền lăn tròn trên nền xi măng, phía dưới những chiếc xe đẩy cho khách dùng chất đồ mua trong tiệm.
Theo lệ thường thì Elite Nguyen thức giấc lúc bảy giờ sáng vào mỗi cuối tuần, riêng tuần này thì dậy sớm hơn, sau khi vệ sinh cá nhân thì Elite công phu buổi sáng. Mỗi thời công phu của Elite chỉ chừng hơn một tiếng đồng hồ, có khi thì niệm Phật, tụng kinh hoặc ngồi quán hơi thở. Elite đã có lần cảm nhận sự an lạc tuyệt vời, cái an lạc từ nội tâm làm khoan khoái lan tỏa khắp thân và có cảm giác như bay bổng như làn mây. Cũng có đôi khi đang niệm Phật, Elite thấy thân mình phình to ngang trời đất, nhìn xuống thấy sơn hà đại địa nhỏ xíu như cái sa bàn, những giây phút ấy rất ngắn nhưng đủ để cảm thấy lạ thường. Elite cũng tự cảnh tỉnh mình, đó chỉ là cảm giác huyễn hoặc, dù có hỷ lạc nhưng không chấp vào cái cảm giác ấy. Sáng chủ nhật tuần này cũng thế, sau khi công phu thì Elite ra vườn tưới hoa và ngắm hoa, khu vườn nhỏ nhưng đủ các loại hoa cho bốn mùa, nào là: Pansy, tulip, dạ lý hương, dã yên, cẩm tú cầu, lyli...
Ngày còn là sinh viên Đại học U.C. Berkeley, trưa thứ Sáu nắng đẹp anh em trong ban chấp hành Hội Sinh viên Việt Nam thường đem bàn, ghế ra ngồi ngoài Sproul Plaza để quảng bá sinh hoạt, tạo cơ hội cho các bạn ghé thăm nhau, chia sẻ buồn vui hay tán gẫu sau một tuần học hành căng thẳng. Những buổi trưa như thế, tôi đi loanh quanh dưới hàng cây xanh rợp bóng mát, chụp vài pô hình, ghé vào bàn của các hội đoàn sinh viên khác xem có những hoạt động gì.
Đến đây, tôi nghĩ, có vị sẽ nghĩ rằng chiến tranh đã chấm dứt từ lâu rồi, khơi dậy làm chi nữa! Xin thưa, cứu đói Thương Binh V.N.C.H. trong lúc này không phải là khơi dậy những đau thương của cuộc chiến mà chính là quý vị đang xoa dịu nỗi đau/đang hàn gắn phần nào những tan tác/đang chia xẻ phần nào những tệ hại còn sót lại sau cuộc chiến.
Cô thường kể cho hắn nghe về vùng biển ấm nơi cô đang ở. Giọng cô mời mọc, “Có dịp nào đó, anh qua đây chơi. Đêm trăng sáng em sẽ dẫn anh ra biển nghe sóng vỗ rì rào. Em sẽ dẫn anh đi tìm những con ốc biển thường bò lăng quăng trên bãi. Em sẽ chỉ cho anh coi những con dã tràng loay hoay se cát. Em sẽ chỉ cho anh coi những vết cắt san hô dưới bàn chân rướm máu. Bữa trước, em đuổi bắt một con hải âu anh biết không. Con chim dạn không tưởng tượng được. Nó chờ em lại thật gần rồi mới vỗ cánh bay đi. Có lần em chạm cả vào bộ lông trơn mượt. Con chim dụ em chạy vòng quanh trên bãi mãi tới khi em ngã nhào vào con sóng. Lúc ấy, nó mới vỡ ra những tiếng kêu thích thú. Đám du khách nhìn em cười ngặt nghẹo. Em xấu hổ quá thôi...”
Là người dân của Mỹ cũng may mắn như được làm con nhà giàu. Nếu được làm con nhà giàu thì phải biết mở lòng để giúp những người kém may mắn. Chúng tôi vẫn luôn nhớ, và thực hành điều này như lời dạy của các đấng sinh thành trong các bữa cơm thời thơ dại, như lời dạy của các thầy cô môn Công Dân giáo dục thời còn cắp sách.
Đời nhà Lý, các sư Pháp Thuận, Vạn Hạnh… cũng vì nước mà tham gia chính sự, ra tay hộ quốc, an định thế nước, từ ấy quốc thạnh dân an, đạo pháp xương long. Đời Trần có nhiều bậc long tượng thiền môn hết lòng hộ quốc như: Pháp Loa, Huyền Quang… Các vua Thái Tổ, thánh Tông, Nhân Tông… đều là thiền sư kiệt xuất cả, nhưng khi sơn hà xã tắc lâm nguy thì các ngài tạm gác Phật sự để ra tay hộ quốc, hộ dân, âu đó cũng là độ sanh giác chúng!
Ai đâu có ngờ mùa tan trường năm 1975 là mùa chia tay vĩnh viễn các thầy, các cô, các bạn hoc trò nam nữ. Họ ra đi muôn phương, mất hút trong màu khói lửa. Còn đâu hình ảnh thân kính các Thầy, các Cô, hình ảnh thân thương của các cô cậu hoc trò trường Duy Tân, Bồ Đề, Phan Rang năm nào...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.