Hôm nay,  

MÍA

12/11/202209:32:00(Xem: 4717)
Truyện ngắn

hoangq
Tranh Đỗ Duy Tuấn.


Cổ tay em tròn như đẵn mía

Anh về thèm ngọt đến trăm năm

(Bùi Giáng)

 

Tôi chăm chú sửa sang hồ sơ. Đổi màu các đường biểu diễn, thay đổi khổ chữ, kiểu chữ để người đọc có thể nhận thấy ngay trọng tâm của bài thuyết trình. Suốt mấy tuần nay, nhóm controller tụi tôi, chạy lui tới như những con lật đật. Trước mặt mỗi đứa, dán tờ lịch tổ tướng của tháng chín và tháng mười. Tháng chín đã là những cảm hứng cho nhạc sĩ Tuấn Khanh viết Tháng Chín Dòng Sông. Tháng mười cũng ướt át trong nhạc phẩm quen tai Bây giờ là tháng mười sao vẫn còn mưa rơi. Mấy tháng cuối năm của thiên hạ sao trữ tình, thơ nhạc lai láng. Vậy mà, bây giờ, trời có mưa rào, mưa dầm, mưa phùn, mưa ngâu chi tôi cũng chẳng biết. Mắt cứ dính sát vào màn ảnh. Là thành viên của Ban Kiểm Tra và Kế Hoạch, từ tháng Chín cho đến ra Giêng năm sau, là bù đầu, bù cổ với dự tính cho năm tới và tổng kết tài chánh năm nay. Là lên lịch kế hoạch làm ăn gì trong năm. Là thảo luận sôi nổi những chương trình cho tương lai gần. Là những phép toán, dù đơn giản cộng trừ nhân chia, nối liền những biểu đồ chạy ngang, chạy dọc cho những toan tính đường xa.

 

Trước đây, tôi đi dự hội thảo về những phương pháp làm việc có hiệu quả cao. Học nhiều mẹo vặt, ví dụ như không mở hộp điện thư để tránh bị phân tâm. Tôi thử, nhưng xem ra chẳng hiệu nghiệm. Chỉ sau một tiếng đồng hồ gởi thư đi, người nhận không trả lời mà cũng không có báo hiệu vắng mặt, là người gởi điện thoại ơi ới. Đồng nghiệp bảo rằng gấp lắm, vội lắm. Nếu không giải quyết ngay, chúng ta sẽ mất một thương vụ then chốt với khách hàng quan trọng này vân vân và vân vân. Cho nên bây giờ tôi không thể xài mẹo này đuợc. Tôi vẫn cứ đôi phút liếc mắt nơi góc phải của màn ảnh báo tin có thư đến. Đa số thư hay kèm chữ “khẩn cấp”. Tôi đã nhiều lần nói nửa đùa, nửa thật với đồng nghiệp rằng, nếu quí vị cứ lạm dụng chữ urgent, tôi sẽ trung hòa hóa, là ráng chịu đấy nhá. Dần dà, tôi cũng biết tính đồng nghiệp. Có những thư dù có kèm chữ gấp gấp, tôi cứ để ngồi chơi xơi nước trong hộp thư một hai ngày, chẳng nghe ai la làng, la xóm, rằng sao chưa thấy hồi âm. Có những thư chỉ một chữ gấp. Nhưng tôi biết gấp thiệt, phải lo thu xếp trả lời. Ngoài ra, boss của tôi, chẳng thư, chẳng gọi, ông dẫn xác lù lù đến bàn của tôi. Ông chẳng thèm ngắm ngang, nghía dọc mấy chậu lan đẹp tuyệt vời tôi trưng trên kệ tủ, mà chỉ thảy ra một mớ giấy chi chít những số và số:

 

– Này Thi, cô vui lòng bổ sung thêm hai trang, trình bày về phát triển tín dụng của tất cả các thị trường nhé. Được chứ. Is it okay?

 

Tôi nghĩ thầm, vui lòng hổng nổi, mà cũng phải “ô kê” chớ bộ ổng nghĩ là tôi có câu trả lời nào khác sao. Tôi phải ngậm bồ hòn làm ngọt chớ. Đi làm phải nghe quá nhiều lần chữ okay, tôi đâm ra dị ứng với chữ này. Tôi nhắc con tôi, trả lời tôi, nói được hay không, chớ đừng bày đặt nói ô kê, bạch kê, gà đen, gà trắng, tôi dễ quạu lắm.

 

– Vâng, được. Nhưng tôi cần ít nhất 2 tiếng đồng hồ.

 

– Tốt quá, cám ơn Thi nhiều.

 

Ông quay đi, rồi đứng lại:

 

– Cô muốn ăn lúc mấy giờ?

 

Tôi ngạc nhiên không hiểu.

 

– Ăn? Mấy giờ?

 

– Để tôi nhờ Sandra gọi đặt pizza cho mọi người đó mà.

 

Tôi chợt hiểu, trả lời dễ dãi:

 

– Ai sao, tôi vậy.

 

Bây giờ đã gần sáu giờ chiều, tôi ngó qua tả binh, hữu binh, thượng sĩ, binh nhì chi cũng đang chăm chú trước màn hình, đang vật lộn với powerpoint, với excel, với SAP, ABS. Thì vừa gặm pizza, vừa điều chỉnh con chuột cho đến chín mười giờ đêm, xem ra, quả là đi sâu, đi sát “thực tế lao động”.

 

Boss hành trang đi họp ở tổng hành dinh bên Luân Đôn. Đám lính chúng tôi lúc nào cũng kè kè cái laptop như vật bất ly thân. Điện thoại di động cứ thoải mái réo, bất kể bình minh hay hoàng hôn. Đúng là cưới hãng. Tôi than thở như vậy với tên đồng nghiệp phòng kế toán. Hắn phân bì:

 

– Ít ra bồ tèo cũng cưới được phần “xịn” của hãng, có laptop vóc dáng như con chuột, sức làm việc như con trâu.

 

Hai thẻ điện thoại di động, một thẻ gắn vào cái điện thoại đời mới nhất của hãng. Thẻ kia xài cho laptop, để bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào cũng có thể vào hệ thống lấy thông tin, thay đổi cập nhật và hồi âm những bức thư nặng ký với lời nhắn nhủ trả lời càng sớm càng tốt.

 

Có những tuần, thời khóa biểu của tôi đúng nghĩa từ tám giờ sáng đến tám giờ tối. Mùa đông nơi đây kéo dài cả nửa năm. Tám giờ sáng, mặt trời còn ươn ái, chưa buồn ló dạng. Người quấn năm bảy lớp, đi khệnh khạng như con chim cánh cụt. Tôi đội nón, quấn khăn, xông pha mưa gió. 8 giờ tối, vội vội, vàng vàng, lùi lũi chạy ra trạm xe. Xuống xe, tôi sải chân bước vội băng qua khoảnh vườn chung của khu nhà chúng tôi. Dù không phải là phố nghèo, nhưng có những đoạn cũng hắt hiu vàng ánh điện, buồn lắm. Đôi lúc cắm cúi đi, tôi cảm thấy chút chút ngán ngẩm. Nhưng tôi sợ hơn cả là những buổi tối đi ăn “nghĩa vụ”, nôm na là team dinner.

 

Những buổi gặp gỡ get together với đồng nghiệp có nhiều tầm cỡ khác nhau. Từ những bữa ăn chỉ có ba bốn mống đi với nhau, ai ăn, nấy trả tiền. Có những gặp gỡ theo mùa, khi uống bia mùa hè ngoài vườn Biergarten, lúc uống Glühwein, loại rượu đỏ ấm, đặc biệt ở chợ Giáng Sinh trong mùa vọng. Tôi khó lòng từ chối tham gia, nếu không có lý do chính đáng. Ngại, sẽ bị bạn đồng nghiệp nói mình không hoà đồng. Lo, mình có thể trở thành lạc hậu, vì hụt những tin hành lang nóng bỏng về công việc của hãng được chuyền tai trong những dịp đó. Vậy, nên cứ phải có mặt trên bốn vùng chiến thuật.

 

Sau mấy ngày dài làm việc mờ cả mắt với tổng kết quý một, cả nhóm thở phào khi report đã được chấp thuận. Một cô trong nhóm đề nghị đi nhậu nhẹt lai rai, để mừng trút đi những ngày làm việc căng thẳng. Hẹn nhau ở một Irish Pub. Thật lòng, tôi chẳng muốn đi chút nào. Ngày hơn tám tiếng quay mòng mòng với các con số, các biểu đồ, tôi mong chiều tối về nhà, ăn cơm chung cả nhà. Cùng với con xem chương trình tin tức tổng hợp đặc biệt. Vào hộp thư xem có bạn bè có gởi dăm ba chuyện cười nhảm nhí gì không. Thỉnh thoảng, lang thang đi chợ trong… thị trường chứng khoán. Rồi rửa chén, giặt giũ. Săm soi mấy chậu hoa. Dí mũi đọc ngấu nghiến những sách báo tạp chí và đều đặn “luyện” chưởng. Vậy là cũng xong một buổi tối êm ả, đủ “nạp” nhiên liệu cho ngày hôm sau có sức đi cày. Tuy tiếc buổi tối của một ngày như mọi ngày, tôi vờ hoan nghênh lời đề nghị rủ nhau đi ăn uống với đồng nghiệp. Rồi dọn dẹp quang gánh, để “liên hoan” bất đắc dĩ.

 

Khi người tiếp viên đến hỏi uống gì, tôi chưa chuẩn bị tinh thần. Không lẽ vào quán bia mà gọi nước trái cây hay trà xanh. Anh bạn đồng nghiệp gọi ly Guinness. Thế là tôi rất tỉnh, hô to:

 

–  Cho tôi một Guinness.

 

Mà tôi nào có biết Guinness mặt tròn, mặt méo ra sao đâu. Hình như là một loại bia đen đặc biệt của Ái Nhĩ Lan, tuổi đời hơn tôi năm sáu lần thì phải. Khi đặt món ăn, trên thực đơn tôi chỉ đọc được mỗi món Mexican Basket, in chữ to hơn, chắc hẳn là món đặc sản của tiệm. Thêm dòng chữ dưới, có lẽ diễn tả, gồm có những gì trong đó. Tôi có đọc được đâu, chỉ thấy dòng chữ li ti. Tôi tần ngần, định lấy cái kính đọc sách trong ví ra để nghiên cứu kỹ càng. Rồi bỏ ý định, sợ đám bạn đồng nghiệp thắc mắc chức năng của mắt kính. Tôi đành dõng dạc:

 

– Cho tôi 1 Mexican Basket.

 

Bồi bàn mang phần ăn của tôi ra. Đúng là cái rổ, không chối cãi vào đâu được. Trong rổ lổn ngổn mấy món chiên, nồng nặc mùi dầu. Có đôi cuốn tròn tròn dài dài, rất dáng dấp chả giò Việt Nam. Sau mấy ngụm Guinness đắng nghét, tôi nhón lấy “cuốn chả giò”. Tôi nhận ra ngay, chỉ vị dầu chiên là chung hương vị của chả giò. Còn lại, lổm cổm đậu, khoai tây, và những gia vị tôi không thể nhận ra. Không chừng, người Mễ Tây Cơ chưa ăn món này bao giờ. Tôi rất thảo ăn, chuyền rổ cho mấy bạn cùng bàn, mời dùng thử. Sau đó, tôi dốc tâm, dốc sức thử mỗi món, cho trí tưởng tượng bay nhảy. Cục phô mai lăn bột chiên là nem nướng. Miếng khoai tây chiên là chạo tôm. Mấy rẻo xà lách trong nước sốt beo béo là gỏi gà. Đầu óc “sáng tạo” như vậy đó, mà tôi chỉ trị chưa tới phân nửa phần ăn. Cái thúng Mễ Tây Cơ này ngó bộ giống nồi cơm Thạch Sanh. Ăn bao nhiêu rồi, rổ vẫn không lưng được. Thôi kệ, lát nữa khi người tiếp viên đến dọn bàn, thể nào cũng quen miệng hỏi:

 

– Cô ăn ngon không?

 

Tôi sẽ đáp lại một câu, vẫn hay dùng để biện hộ cho phần ăn còn thừa trên dĩa:

 

– Ngon lắm, nhưng hơi nhiều đối với tôi.

 

Đâu ai kiểm chứng xem tôi có thiệt lòng hay không? Cái rổ đó mà đựng bò bía, gỏi cuốn, thì tôi có thể cắt nghĩa cho người không phải Việt, thành ngữ ăn như rồng cuốn là thế nào. Coi như xong nghĩa vụ. Chẳng ai có lý do than phiền rằng tôi xa cách, xé lẻ.

 

*


Xếp lớn của tôi thuộc tuýp chơi thanh lịch, ăn đài các. Thấy tụi tôi lao tâm, lao lực dữ quá, ông bảo chọn hai ngày cả nhóm dẫn nhau đi trượt tuyết. Quanh Munich, biết bao đồi núi, chạy thêm một chút, qua Áo, hướng Salzburg, tha hồ chọn lựa. Ông diễn tả, này nhé, khi trượt từ trên cao xuống, trong không khí lạnh của tuyết trên núi cao. Nếu thời tiết tốt, có trời xanh, có ánh nắng. Tuyệt diệu. Bảo đảm quí vị sẽ quên phắt đi những chỉ tiêu, dự đoán. Hoàn toàn thoải mái, thư giãn. Ông gật gù cười cười với tôi:

 

– Tin tôi đi, sẽ là hai ngày hứa hẹn bù đắp cho mấy tuần lễ qua.

 

Tôi nói nhỏ:

 

– Kìa Mike, tôi không có khái niệm gì về trượt tuyết.

 

Chẳng lẽ tôi kể cho ông nghe rằng, tự đó đến giờ, tôi chỉ thấy người ta trượt tuyết trên ti–  vi. Còn những “giao lưu” của tôi với tuyết chẳng mặn mà tí nào. Là những ngày lội tuyết ra trạm xe, đứng chờ xe, phải chạy tới, chạy lui cho đỡ lạnh, đỡ bị cóng chân. Và trượt, là trợt té, là chụp ếch đo đường. May, đôi lần trượt bất đắc dĩ, tuyết cũng nhiều, không ê ẩm, vì nhờ mặc nhiều lớp áo quần, nên coi như có phòng chống. Xếp tôi hứa hẹn:

 

– Yên tâm, tôi tìm cho Thi một ông thầy dạy trượt tuyết.

 

Ông ngừng một chút, nháy nháy mắt:

 

– Một chàng đẹp trai, a good-looking man.

 

Khi chuẩn bị lên lịch, trong nhóm có hai ông đồng nghiệp khác, bỗng nổi máu chướng, bảo ngại, bởi vì chơi tuyết rất dở. Xếp có lẽ lo lắng, không tìm được hai cô giáo đẹp gái cho hai người này, nên cuối cùng chuyển mục trượt tuyết thành đi nếm rượu.

 

Tôi nghe Richard trầm trồ, tiệm rượu này không lớn, nhưng thuộc hàng cao cấp có hạng của thành phố này, nằm ở Haidhausen, một khu phố nho nhỏ, dễ thương của Munich. Đến nơi, chúng tôi được đưa xuống hầm rượu. Dãy bàn dài, tám người chúng tôi và ông chủ xị. Trước mặt mỗi người lủ khủ bao nhiêu là ly. Ông chủ xị, có mái tóc của người Ý, trau chuốt, trai lơ. Nói tiếng Anh với âm giọng Pháp. Ông kể một hồi, tôi mới biết ông là Đức chính hiệu. Bắt đầu đường công danh bằng chạy bồi, rồi đứng quầy rót rượu. Đi làm khắp Âu Châu. Cuối cùng về Đức, mở hai ba nhà hàng không lớn, nhưng rất kén khách. Xếp của tôi là khách hàng đặc biệt lắm, ông mới đích thân ngồi bồi tiếp. Đèn trong hầm rượu ấm cúng, tức là mờ mờ. Đối với cặp mắt bắt đầu nghe gió heo may đã về của tôi, loại ánh sáng này đúng là… thiện tai, thiện tai. Ông giới thiệu loại rượu, rót rượu cho mọi người. Ông ngậm rượu rồi phân tích và chuyền chai cho mọi người xem. Dù ông đã giới thiệu rượu làm năm nào, nho trồng của mùa vụ nào. Nhưng tôi cứ như vịt nghe sấm. Chẳng thể giữ nổi trong trí, mùa nho năm này nhiều nắng, năm kia lắm mưa, nên rượu có vị như thế này, thế nọ. Cầm chai rượu trên tay, cũng chẳng giúp tôi gì hơn. Đèn quá mờ, tôi lại mắc cỡ không dám đem mục kỉnh ra xài. Chỉ thấy đám chữ dính chùm, dính lũ vào nhau. Tôi đành làm người trầm lặng, chuyền chai tiếp cho người bên cạnh. Không dám có lời bàn nào, dù là lời bàn ba phải, huề vốn. Tôi làm đủ mọi thao tác như ông chủ xị hướng dẫn. Cũng ngửi rượu, ngắm rượu, nghe rượu, cảm rượu, rồi cuối cùng mới nuốt ực xuống. Hơn tám giờ tối, người ta mới dọn món khai vị, hai ba lát thịt bò lành lạnh mỏng dính. Vài ba cọng rau vị hăng hăng, the the đi kèm. Dao nĩa rình rang. Phải chi, lát thịt được chút đậm đà của bò khô, nai khô quê nhà cho tôi phá mồi thì đỡ biết mấy. Có lần trong bàn ăn bạn bè, cô bạn kể chuyện, con cò rủ con chuột vượt biển tìm vùng đất hứa. Cò kẹp chuột rồi bay. Dọc đường sơ sảy thế nào. Chuột rơi tòm xuống nước. Cò ráng gắp, nhưng trật vuột mãi. Cuối cùng cò gắp được chuột, nhưng chuột đã phải ních một bụng nước. Chuột bực quá gắt inh ỏi, chú mày cắm đầu gắp thế nào, mà ông đây uống gần chết. Thường trong những lần họp mặt bạn bè, tôi rất thích làm con cò, siêng năng gắp, mặc cho ai thích làm thân chuột. Ôi chào, ở bàn nhậu này có món gì đâu cho tôi gắp. Còn những người khác, muốn uống hơn cũng không được. Nửa tiếng đồng hồ sau, lại thêm một món cũng khai vị, trông tròn tròn như bánh kem, nằm khiêm tốn một góc, với vài cọng rau mùi trang trí chung quanh. Ông chủ xị vẫn thao thao giảng giải về ông Robert Parker nào đó. Ngày xưa là luật sư, đi làm đã đời, bỏ nghề thầy cãi, phóng bút viết về rượu. Ông nếm rượu, cho điểm, từ 50 điểm đến 100 điểm. Hiệu rượu nào được ông cho cao điểm, giá cả tăng vọt như phi thuyền phóng lên không gian. Ông chủ xị tiếp tục rót rượu. Mọi người trầm trồ xuýt xoa khen ngon. Tôi cứ ngay ngáy lo, ông chủ xị hỏi tôi thích loại nào. Chắc tôi sẽ lúng búng câu trả lời, chẳng ai hiểu mà tôi cũng không hiểu nốt. Với tôi bây giờ, đúng thiệt, cả ẩm lẫn thực đều bất tri kỳ vị. Tôi cố nén những cơn ngáp. Tưởng như đang ngồi trong lớp vào những giờ chính trị nhàm chán khô khan thuở sinh viên ở quê nhà. Thời gian sống nơi xứ người đã dài hơn những năm tháng tôi trải qua ở Việt Nam. Thời gian tôi sinh hoạt với đồng nghiệp chắc chắn vượt hẳn những giờ giấc quý giá, hiếm hoi tôi có thể đùm túm với những bạn bè đồng hương. Cũng chẳng thể đổ tội cho trở ngại ngôn ngữ. Tiếng Anh, tiếng Đức tôi có rủng rỉnh trong túi xem ra dư xài. Vậy mà tôi luôn cảm thấy thiêu thiếu những điều nào đó, thật mơ hồ nhưng rất cần thiết. Không biết làm gì, tôi đưa tay vọc vọc dây đồng hồ. Marcel bỗng nói:

 

– Cổ tay của Thi gặp vấn đề với dây đồng hồ há!

 

Tôi cười cười:

 

– Không, ngược lại chứ. Dây đồng hồ gặp rắc rối chứ không phải tôi.

 

Barbara góp chuyện:

 

– Cổ tay của Thi nhỏ nhưng mà tròn. Mình thấy ngồ ngộ.

 

Tôi chống tay lên bàn, cười, gục gặc, như thể xác nhận cái sự ngồ ngộ dễ thương của cổ tay mình. Chợt nhớ câu thơ người bạn xưa ngâm nga: Cổ tay em tròn như đẵn mía, anh về thèm ngọt hết mấy năm. Cổ tay tôi, dường như không phụ thuộc vào thăng trầm của trọng lượng cơ thể, lúc nào cũng có chút hình dáng của lóng mía. Không biết mấy năm của bạn xưa là mấy năm nhỉ. Ly rượu tôi đang uống thử đây có thể được 80, 90 điểm của ông Parker, nhưng sao nhạt quá. Chao ơi, tự dưng tôi thèm ly nước mía dễ sợ.

 

Hoàng Quân

 

Ghi thêm:

 

Ngày lễ tình yêu năm nọ, đọc bài thơ Đôi Ta của thi sĩ Trần Mộng Tú, tôi đã ngẩn ngơ thật lâu và nhớ đến “Mía” của tôi. Thắc mắc của tôi sau nhiều năm, xem như có câu trả lời. Thi sĩ Bùi Giáng, tác giả câu thơ Mía bảo rằng:

 

Cổ tay em tròn như đẵn mía

Anh về thèm ngọt đến trăm năm

 

Tôi lại vẩn vơ nghĩ tiếp, bạn xưa của tôi có trí nhớ tốt như thi sĩ Bùi Giáng không nhỉ?

 

Trích lời ca trong nhạc phẩm:

 

Sao Vẫn Còn Mưa Rơi của nhạc sĩ Đức Huy.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Kể từ năm 1558, con ông Nguyễn Kim là chúa Nguyễn Hoàng vào cai trị Thuận Hóa, gọi là Đàng Trong. Đàng Ngoài là ngoài Bắc vẫn thuộc quyền của chúa Trịnh. Họ chia đôi đất nước, lấy sông Gianh làm giới tuyến. Rồi Trịnh Nguyễn đánh nhau suốt 200 năm vẫn không phân thắng bại, con sông Gianh oan nghiệt là đề tài cho bao nhiêu đau thương, bao nhiêu than vãn...
Bà vợ của Martsa đã ra khỏi phòng với thằng bé, còn lại tôi đối mặt với Martsa, không khí trong phòng như cô đặc lại. Toàn bộ sự chú ý của tôi tập trung vào bàn tay phải, tôi nắm chặt cây dao găm. Tôi xua hết ý nghĩ trong tâm trí, chỉ còn trong đầu một ý kiến: giết Martsa để trả thù cho chàng Khampa và cha anh ta...
Đã gần đến Tết. Trời vẫn rét căm căm nhưng có lẽ mùa đông năm nay Seattle không có tuyết. Nhiều năm giờ này băng giá đã phủ kín các cành cây khẳng khiu trụi lá. Toàn cảnh như một cánh rừng bằng pha lê lóng lánh, trông đẹp như trong cảnh thần tiên, nhưng bước ra ngoài trên mặt đất giá băng lại rất nguy hiểm. Trượt té gẫy xương là chuyện thường...
Mấy ngày nay John cứ như một cái xác vô hồn, vẫn ăn uống, vẫn đi làm như mọi người nhưng John chỉ làm theo quán tính; toàn bộ mọi hoạt động và nói năng cứ như thể lập trình sẵn trong người máy chứ không hề có mộtc cảm xúc gì về việc mình làm. Đâu phải chỉ tuần này, đã lâu rồi, cái tình trạng này trong John tiếp diễn khi thì lên cao lúc xuống thấp. John thấy đời mình vô vị và vô nghĩa quá, chẳng biết sống để làm gì...
Không có đồng hồ đeo tay nên tôi chẳng biết Oanh đã vào chợ được bao lâu rồi. Con nhỏ định để tôi chết đứng ở đây. Trời đã trưa, khu chợ vắng dần. Ôm cặp, áo dài trắng đứng trước chợ giờ nầy, chướng ơi là chướng. Tôi cúi mặt, không dám nhìn ai vừa rủa thầm con nhỏ...
Có lời bái hát xưa nào đó mà tôi còn nhớ loáng thoáng trong đầu, “ngoài kia tuyết rơi đầy, sao em không đến bên tôi chiều nay…” chỉ nhớ mỗi câu ấy thôi nên ngân nga cho đỡ buồn khi mỏi mắt nhìn ra cửa sổ… ngoài kia tuyết rơi đầy. Dù sao cũng đỡ nản hơn nhìn vào chỗ làm là những hàng bàn làm việc dài im lặng, những hàng ghế ngồi có bánh xe xếp ngay ngắn; tiếng nói cười của đồng nghiệp hoà quyện vào âm thanh phát ra từ máy móc đã lui về quá khứ như một triều đại huy hoàng đã lụi tàn. Mọi thứ chưa đóng bụi thời gian đã thành phế tích của nền kinh tế đã chết trước cả chính quyền điều hành nó là thực tế nước Mỹ.
Tôi lái xe về nhà, trong lòng nặng trĩu nỗi buồn, thương cho Vi và giận chồng của Vi quá, tôi đâm xe thẳng vào garage và xồng xộc đi vào nhà, chồng tôi có lẽ vẫn đang lúi húi trong bếp nên không thấy tôi. Thay quần áo, nằm lăn trên giường, tôi nghĩ đến những lời Thu nói, nếu như tôi lấy phải một người chồng như của Vi?
Đêm đầu tiên về Saigon vì trái giờ nên khoảng 3 giờ sáng tôi đã thức giấc. Háo hức muốn tìm hiểu cuộc sống ban đêm ở Sài Gòn hoa lệ. Tôi trang bị nhẹ với máy ảnh đi lang thang một mình trên đường phố vắng. Ban đầu hơi ái ngại, tôi chỉ định rảo bộ quanh khách sạn ở Q1 cho an toàn. Ra ngoài khách sạn khoảng trăm thước, tôi thấy mấy chị đạp xe chở hàng có lẽ để bán lẻ ở đâu đó trong thành phố...
Trong tận thâm tâm tôi, thầy là một vì sao sáng, một hiền nhân vô cùng tôn kính giữa nhân gian này. Tôi chưa từng diện kiến hay bái sư nhưng toàn tâm ý của tôi thì thầy là thầy tôi từ quá khứ xa xưa chứ chẳng phải chỉ mỗi kiếp này...
Nằm trên giường tôi vươn vai duỗi chân thật thoải mái làm sao ấy, nhìn lên đồng hồ trên bàn đã 9 giờ sáng, bên ngoài trời Montreal tuyết nhè nhẹ bay trắng xóa thật đẹp. Hôm nay thứ hai đầu tuần, mọi người hàng xóm xung quanh đi làm hết, cả khu nhà yên ắng đến lạ thường, tôi mỉm cười thỏa mãn “mình về hưu rồi mà, phải tự sướng chứ!”
Sau dịp lễ Noel là không khí tháng chạp lấp ló đầu ngõ rồi! Thời tiết mùa đông lạnh lẽo đã dần nhường chỗ cho gió xuân về mơ màng trong sương sớm. Khoảng mùng 5 tháng chạp là mọi người đi tảo mộ đông vui. Đươc gặp bà con, họ hàng nội ngoại chào nhau tíu tít sau một năm tất bật là thấy tết đã sắp sửa cận kề. Tết không chỉ là niềm trông đợi của trẻ thơ mà còn là niềm vui của người lớn. Xưa chừ người ta thường nói vui như tết mà!
Con tàu rú lên tràng còi thất thanh. Âm thanh chuyển từ trầm đục sang cao chói. Chuyện gì vậy. Mọi người hỏi nhau. Sao bỗng dưng còi tàu gầm thét như con thú bị thương vậy. Tàu bỗng dưng chạy chậm hẳn lại. Và tiếng rít của bánh sắt trên đường rầy như mũi khoan nhọn xoáy vào lỗ tai. Người soát vé tất tả chạy trên lối nhỏ giữa hai hàng ghế. Chuyện gì thế ông ơi. Những câu hỏi nhao nhao. Something wrong, very wrong. Mọi người vui lòng ngồi yên tại chỗ. Người soát vé nói vội trước khi mất hút sau khung cửa nối sang toa kế tiếp. Khủng bố hay cầu đường xe lửa bị sập. Mưa lũ đã mấy hôm rồi. Người ta xớn xác hỏi nhau. Tin tức truyền miệng lan nhanh như đám cháy rừng. Không ai biết chắc chuyện gì. Chỉ biết tàu không thể tiếp tục chạy. Nhìn qua cửa sổ, chỉ thấy rừng cây đang vùn vụt dạt về phía sau bỗng chậm dần.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.