Hôm nay,  

Dì Clochette

14/06/202221:07:00(Xem: 3102)
Truyện ngắn -- Văn học kinh điển

old-woman-sewing



Tư tưởng phê bình của Guy de Maupassant [1850-1893] thường nhắm vào luân lý đạo đức xã hội. Cái nhìn căn bản của ông là đề tài hiện thực, ảnh hưởng của Gustave Flaubert, và các khía cạnh về lối tự thuật. Sức khoẻ của Maupassant đã gây nhiều khó khăn cho ông. Có thể nói, tình trạng sức khoẻ của Maupassant đã khiến ông khủng hoảng trầm trọng và ngã quỵ từ tâm hồn đến thể xác. Trong truyện Le Horla, ta thấy rõ bằng chứng của một tâm hồn bất bình thường nơi Maupassant.

 

Chủ nghĩa bi quan, tính hoài nghi là cảm quan chính chi phối nhiều sáng tác của ông và ông còn đi xa hơn thầy Flaubert của mình về "sự tuyệt vọng triết học" (le désespoir philosophique). Tác phẩm của Maupassant là sự thể hiện của niềm thất vọng trước sự bé nhỏ và bất lực của con người trước xã hội và định mệnh, về sự tuyệt vọng đã dập tắt mọi khát vọng, về cái ác... Chính sự tuyệt vọng triết học này đã làm cho quan niệm nghệ thuật về con người của ông trở nên bi quan khi ông cho rằng mình đang phản ánh những con người "chưa bao giờ ít chất người hơn thế".

 

Chỉ trong vòng một thập niên, ông đã viết gần 300 truyện ngắn, 200 bài đăng báo, 6 quyển tiểu thuyết và 3 bút ký du hành, chứng tỏ một sức sáng tác rất mạnh. Anh em trong Viện Hàn Lâm Goncourt đặt tên cho ông là “con bò mộng vùng Normandie”.

 

Trong số tác phẩm nổi tiếng của ông có thể kể Une vie (Một cuộc đời), Bel-Ami (Anh bạn đẹp), Pierre et JeanFort comme la Mort  (Mạnh hơn cái chết ) và Clair de Lune (Sáng Trăng).

 

Dì Clochette là một truyện ngắn của ông do nữ dịch giả Thái Nữ Lan chuyển ngữ. Việt Báo trân trọng giới thiệu.

 

*

 

Quý vị có cùng suy nghĩ như tôi không, kỳ lạ chưa, tại sao lại có những kỷ niệm cứ đeo bám luôn mãi, mình không bao giờ rũ bỏ được cơ chứ!

 

Tôi sẽ kể quý vị nghe câu chuyện này, một câu chuyện xưa như trái đất, xưa như vậy mà tôi không hiểu được làm thế nào mà nó lại có thể mãnh liệt và sống động, vẫn dai dẳng trong trí tôi như thế. Tôi đã từng nhìn thấy không biết bao nhiêu là điều thê thảm, gây xúc động hay thật khủng khiếp, vậy mà thật ngạc nhiên thay, tôi không thể quên được dù chỉ một ngày, gương mặt của Dì Clochette, Dì cứ luôn hiện ra trước mặt tôi như ngày nào, đã rất lâu rồi, vào thuở tôi mới lên mười hoặc mười hai tuổi.

 

Bà ấy là một cô thợ may đã lớn tuổi, bà đến nhà tôi mỗi thứ ba hằng tuần để may vá áo quần ở nhà ba mẹ tôi. Ba mẹ tôi sống trong một căn nhà ngoại ô được gọi là lâu đài, đó chỉ là những ngôi nhà cũ xưa có mái nhọn, và ở vùng phụ cận có khoảng bốn năm nông trại. Cách đó vài trăm thước là thị trấn gồm những ngôi nhà chen chúc quanh ngôi thánh đường, thánh đường xây bằng gạch đỏ qua năm tháng đã trở nên đen xám.

 

Mỗi thứ ba Dì Clochette đến vào khoảng từ sáu giờ rưỡi đến bảy giờ sáng và lên ngay trên phòng đựng vải vóc để bắt đầu làm việc. Đó là một phụ nữ cao và gầy, với gương mặt thật nhiều lông, như là bộ râu kỳ quặc, với nhiều túm quăn tít thật khó hiểu, làm như thể do một tên điên nào rải ra khắp khuôn mặt người cảnh sát mặc váy đó…

 

Bà đi cà nhắc, không cử động như người bị mất một chân, nhưng giống như một con tàu đang thả neo. Khi bà dùng bên chân lành để tì tấm thân cao lớn xương xẩu và nghiêng ngả lên, trông như bà đang lấy đà để lướt lên trên một ngọn sóng khổng lồ, rồi bỗng nhiên bà chìm xuống đất như thể lặn xuống để biến mất trong một cái hố sâu.

 

Bước đi của bà khiến ta liên tưởng đến cơn bão, vì bà vừa đi vừa lắc lư, đầu thì luôn đội mũ trùm to rộng, với dải lụa phất phơ trên lưng, nhìn từng động tác ta trông bà như muốn băng qua chân trời, từ bắc chí nam rồi từ nam lên bắc.

 

Tôi rất yêu quý Dì Clochette này. Buổi sáng vừa thức dậy là tôi chạy lên phòng giặt liền, tôi luôn thấy bà ngồi may vá ở đó, dưới chân là cái lồng ấp. Khi vừa trông thấy tôi, bà liền bắt tôi phải lấy cái lồng ấp rồi ngồi trên đó để không bị cảm lạnh trong căn phòng rộng thênh thang lạnh giá, ngay bên dưới mái nhà. Bà nói “Làm như vậy thì cháu sẽ được ấm nhe cháu”.

 

Bà vừa khâu vá, những ngón tay nhanh nhẹn, cong vòng như cái móc vừa kể chuyện cho tôi nghe; đôi mắt sau cặp kính càng dày cộm lên theo số tuổi chồng chất tạo cho tôi cảm giác chúng trở nên to lớn, sâu hoắm một cách kỳ lạ. Với những điều tích trữ trong trí nhớ thơ dại đã làm xúc động trái tim bé nhỏ của tôi, bà là một người có tâm hồn thật cao thượng của một người phụ nữ đáng thương. Bà nhìn thấy mọi việc đều rất bình dị. Bà kể cho tôi nghe những câu chuyện ở thị trấn, như con bò chạy khỏi chuồng rồi lại được tìm thấy ở cối xay gió của Malet, nó đang đứng nhìn cánh quạt quay, hoặc một quả trứng gà được tìm thấy trên gác chuông nhà thờ mà không ai hiểu được con vật nào đã lên đẻ  trứng ở đó, hoặc là chuyện con chó nhà Pilas đã chạy đi xa mười dặm để lấy lại được chiếc quần của chủ nó bị kẻ nào ăn cắp khi bà Clochette để phơi cho khô trước nhà bà.

 

Bà kể cho tôi nghe những biến cố ngây ngô ấy bằng cách nào mà chúng ngự trị trong tôi như những thảm kịch không bao giờ quên được, những bài thơ hùng vĩ và huyền bí vô cùng; và rồi những câu chuyện cổ tích khéo léo do các thi sĩ đa tài dựng nên mà mẹ tôi thường kể cho tôi nghe mỗi tối không thể nào thú vị, sâu rộng, có sức quyến rũ như những câu chuyện đơn sơ về đời sống thường nhật của một người nông dân như vậy.

 

Nhưng rồi, vào một ngày thứ ba, vì nguyên buổi sáng tôi đã ngồi bên Dì Clochette để nghe kể chuyện, nên sau khi đi hái hạt dẻ với người gia nhân ở khu rừng Hallets, phía sau nông trại của gia đình Noirpre, tôi muốn trở lên căn gác lần nữa để chơi với bà. Tôi nhớ như in tất cả những sự việc ấy một cách rõ ràng như thể vừa xảy ra hôm qua.

 

Nhưng rồi, vừa mở cửa phòng giặt, tôi nhìn thấy bà thợ may già nua ấy nằm sóng soài dưới đất, ngay cạnh cái ghế bà thường ngồi, mặt úp xuống, hai cánh tay duỗi ra, một tay còn cầm kim may, còn tay kia là chiếc áo của tôi. Một cái chân, mang vớ màu xanh trời, duỗi dài bên dưới ghế, còn cặp mắt kính thì lấp lánh ở bờ tường, có lẽ chúng đã lăn ra xa khi bà ngã xuống. Tôi bỏ chạy ra vừa kêu thất thanh. Mọi người chạy đến; và rồi sau đó vài phút tôi biết được Dì Clochette đã qua đời.

 

Tôi không biết diễn tả thế nào cảm xúc đau đớn xót xa vô cùng tận làm con tim bé thơ của tôi quặn thắt. Tôi rón rén bước nhẹ xuống phòng khách, tìm một nơi tăm tối ở góc một chiếc ghế bành lớn cổ xưa, rồi quỳ xuống và khóc nức nở. Tôi quỳ như vậy rất lâu, có lẽ hàng giờ, vì đêm tối đang xuống dần. Bỗng nhiên tôi nghe thấy có người đến và có ánh đèn, nhưng họ không thấy tôi, rồi tôi nghe tiếng ba mẹ tôi và tiếng nói quen thuộc của vị bác sĩ gia đình. Người nhà đã vội vàng đi mời ông đến rất nhanh và ông đang giải thích lý do xảy ra tai nạn. Vả lại tôi cũng chẳng hiểu tí gì cả. Rồi ông ấy ngồi ở ghế và dùng một ly rượu nhẹ cùng ít bánh quy.

 

Vị bác sĩ vẫn đang giải thích mọi chuyện; và những điều ông ấy nói đã khắc sâu trong tim tôi và sẽ không bao giờ sai một lời cho đến lúc tôi lìa đời! Thậm chí tôi nghĩ rằng tôi có thể trình bày lại câu chuyện hầu như bằng chính những lời lẽ ông ấy đã dùng lúc đó.

 

“Ôi! Thật là một người đàn bà đáng thương! Thời ấy bà là người khách đầu tiên của tôi. Bà ấy đã bị gãy chân ngay hôm tôi vừa mới đến thị trấn này, tôi đã không có thì giờ để rửa tay khi vừa bước xuống xe ngựa nữa chứ! Họ đến mời tôi phải đi thật gấp, vì trường hợp này rất, rất là trầm trọng…

 

Cô ấy khoảng chừng mười bảy tuổi, và đó là một cô gái rất đẹp, tôi lặp lại, rất đẹp, rất đẹp! Có ai ngờ rằng cô ta sẽ như thế nào sau này không? Còn câu chuyện của cô ta ngoại trừ tôi và một người nữa đã không còn sống ở đây, thì không ai hay biết cả. Giờ đây cô ấy đã không còn trên cuộc đời, tôi có quyền không phải giữ bí mật nữa.

 

Vào thời ấy có một người phụ giáo trẻ với gương mặt rất điển trai và dáng vẻ rất cao ráo của một viên hạ sĩ quan. Các cô gái trong tỉnh đều theo cậu ta, còn cậu ấy thì ra vẻ khinh thường, hơn nữa cậu ấy cũng khiếp sợ cấp trên của mình là thầy giáo ở trường, lão Grabu, ngày nào cũng cau có khó chịu. Lão Grabu này đã thuê cô Hortense xinh đẹp làm thợ may từ lâu rồi, Hortense là người vừa mới qua đời ở nhà ông bà đây; sau khi bị tai nạn thì Hortense được đổi tên là Clochette.

 

Anh phụ giáo chú ý ngay đến cô bé xinh xắn này, cô bé chắc hẳn cũng thật hãnh diện khi được anh chàng kiêu ngạo khó chinh phục này chọn mình; dù gì thì cô ấy cũng đem lòng yêu anh, và chàng thì lại được cuộc hò hẹn đầu tiên trên căn gác của trường học lúc xế chiều, sau khi nàng xong một ngày may vá. Thế là nàng làm bộ về nhà, nhưng thay vì đi xuống cầu thang ở nhà lão Grabu, nàng lại đi lên, và rồi vào trốn trong đám rơm rạ để chờ người tình.

 

Không bao lâu thì chàng đến với nàng, và bắt đầu buông lời nguyệt hoa, nhưng bỗng nhiên cánh cửa mở bật ra, ông thầy giáo xuất hiện và hỏi:

 

“Này Sigisbert, cậu làm gì trên này vậy hả?” Anh chàng trẻ tuổi thật kinh hãi, cảm thấy mình sẽ bị bắt quả tang, liền trả lời một cách ngốc nghếch:

 

Dạ tôi lên đây để nghỉ xả hơi một tí, thưa thầy Grabu.”

 

Căn gác ấy rất rộng, rộng mênh mông, và tối đen như mực; thế là chàng Sigisbert vừa đẩy cô gái lúc đó đã quá khiếp sợ vào góc trong cùng của căn phòng, vừa lặp đi lặp lại:

 

“Chạy tới đằng kia đi, đi đi, đi trốn đi. Chạy thoát đi, nếu không tôi sẽ bị đuổi việc mất, chạy trốn nhanh đi!”

 

Lão thầy giáo khi nghe tiếng thì thầm, lại hỏi:

 

“ Ủa, không phải chỉ có mình anh ở đây hả?”

 

“Dạ chỉ có mình tôi thôi, thưa thầy Grabu!”

 

“Không đúng, bởi vì anh nói chuyện với ai kia mà?”

 

“Tôi xin thề là tôi chỉ có một mình, thưa ông.”

 

“Để rồi xem”, lão già trả lời, và khi đi ra lão khóa trái cửa hai vòng, rồi đi xuống nhà lấy nến.

Thế rồi, anh chàng hèn hạ, loại người mà ta rất thường gấp, đâm cuống cuồng lên và bỗng trở nên hung tợn, la to:

 

“Cô hãy biến đi chứ, chạy đi thôi, không thì ông ta bắt gặp cô ở đây mất. Cô sẽ làm tôi trở nên gã hành khất trong suốt cuộc đời tôi. Cô làm hỏng sự nghiệp của tôi!

Chạy biến mau lẹ đi!”

 

Lại có tiếng chìa khóa tra vào cửa, rồi xoay vòng... Hortense chạy đến ô cửa sổ con bên dưới mái nhà, cửa này nhìn xuống đường, và bất thình lình cô mở ra; bằng một giọng kiên quyết, cô nói nhỏ:

 

“Lát nữa anh xuống đỡ tôi dậy khi ông ấy đi khỏi nhe”.

 

Rồi cô nhảy xuống.

 

Lão Grabu vào phòng không tìm thấy ai nên đành đi xuống, lòng không khỏi ngạc nhiên. Mười lăm phút sau, thầy Sigisbert đến nhà tôi và kể lại câu chuyện cho tôi. Cô gái nằm bất động ở chân tường, không thể nào đứng lên được, vì cô đã ngã từ hai tầng lầu xuống. Tôi đi với cậu ta. Trời mưa như trút, tôi mang cô gái bất hạnh về nhà tôi; bên chân phải bị gãy ba chỗ, xương xẩu đâm xuyên qua thịt da. Cô ấy không hề kêu ca mà chỉ cam chịu thốt lên một cách thật đáng phục: “Tôi đã bị trừng phạt thật đích đáng, thật đáng tội rồi!”

 

Tôi gọi người đến cứu giúp và tin cho ba mẹ cô gái; tôi phải bịa chuyện và kể cho họ rằng một chiếc xe khùng điên chạy quá tốc độ đã hất cô ta ngã và làm cô bị què chân, ngay trước nhà tôi. Mọi người đều tin lời tôi, và cảnh sát đã phải uổng công truy tìm kẻ gây ra tai nạn ấy trong suốt một tháng trời.”

 

“Chuyện như thế đấy! Và tôi phải thêm rằng người đàn bà này là một nữ anh hùng, bà thuộc dòng giống những người thực hiện bao nghĩa cử cao đẹp nhất và thật đáng được ghi vào lịch sử.

 

Đó là mối tình duy nhất của bà ấy. Bà đã giã từ cõi đời với một tấm thân còn trinh nguyên. Đó là một người hy sinh vì lý tưởng, một tâm hồn cao thượng, một Kẻ Hiến Thân siêu việt! Và nếu tôi không cảm phục bà ấy, tuyệt nhiên tôi đã không kể lại câu chuyện này với ông bà, mà khi bà ấy còn sinh thời tôi chưa bao giờ muốn kể cho bất cứ ai, chắc ông bà cũng hiểu lý do”.

 

Vị bác sĩ đã dứt lời.

 

Mẹ tôi khóc rấm rức. Ba tôi nói vài câu gì tôi không nghe rõ. Rồi họ đi ra. Còn tôi thì vẫn quỳ ở chiếc ghế, nức nở; trong khi đó tôi nghe tiếng động kỳ lạ, tiếng những bước chân di chuyển nặng nhọc, tiếng va chạm ở cầu thang.

 

Họ đang mang xác của Dì Clochette đi.

 

Guy de Maupassant

(tháilan dịch)

 

 

Chú thích của người dịch:

 

Clochette: Nguyên nghĩa là cái chuông nhỏ. Theo bài văn, có lẽ là biệt danh của bà sau khi bị tai nạn, để chỉ đôi chân đi khập khiễng của bà (động từ "clocher").

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chuông báo hiệu giờ tan học. Cửa trường vừa mở, bọn nhóc chen chúc nhau để ùa ra cho nhanh . Nhưng thay vì như ong vỡ tổ để bay khắp nơi rồi nhanh nhẹn về nhà ăn cơm như mọi hôm, chúng lại tụm năm tụm bảy, và thì thầm to nhỏ với nhau...
Mới đó, Ba lìa đời đã bốn năm. Hai đứa con út của Ba, nay đã “già” hơn Ba, thuở Ba đi tù cải tạo năm 1975. Giờ đây, mỗi khi bầy con quây quần kể chuyện, nhắc đến Ba ngày xưa, như nhắc một ông cụ, dẫu lúc đó, Ba chưa bước hẳn vào tuổi tri thiên mệnh...
Lớn lên trong thời buổi chiến tranh, 16 tuổi mộng mơ, tôi và Bích Hợp là hai đứa bạn thân cùng xóm, cùng say mê nghe nhạc lính đến nỗi yêu lính và ao ước được là người yêu của lính. Nhưng biết tìm đâu ra chàng lính chiến để mà yêu?...
Ở những quốc gia có "Ngày Của Cha" (Father’s Day) vào ngày chủ nhật thứ ba của tháng 6, người ta đều nhớ đến thân phụ của mình (dù còn sinh tiền hay đã quá vãng). Với người Việt Nam, tháng 6 còn mang về hình ảnh hào hùng của Nguyễn Thái Học và các anh hùng Việt Nam Quốc Dân Đảng với những lời cuối "Việt Nam muôn năm"...
Người cha nào trên trái đất này đều thương con của mình, thương con hơn thương chính mình, và trong máu của người con có máu của người cha. Cha mẹ làm việc vất vả để nuôi con, cho con ăn học thành tài, lo cho con đầy đủ những gì con cần, vì thế những đứa trẻ được thương yêu, đùm bọc sẽ học nhanh hơn những đứa trẻ bản xứ...
Ngày Father’s Day năm nay, lần đầu tiên anh chị em chúng tôi thiếu vắng Ba. Tháng sáu Canada thời tiết đẹp, tôi ngồi bên vườn sau nhà, tưởng tượng bên nghĩa trang Moore ở thành phố Arlington, Texas, phong cảnh đẹp đẽ với những con đường trải sỏi dưới hàng cây Magnolia to cao xòe bóng mát, chắc đang nở những hoa trắng thơm hương tinh khiết và bên những ngôi mộ, là thảm cỏ xanh có ngọn nước phun lên mặt hồ tung bọt trắng xóa, Ba đang nghỉ ngơi trong không gian và thế giới êm đềm đó...
Nhân một người bạn viết thư cho tôi than vãn là anh ta muốn “chửi tục” khi nghe một người bạn khác ba hoa, khoác lác thái quá trong lúc trà dư tửu hậu đêm qua. Tôi chỉ xin được góp ý với các bạn đôi ba lời về chửi, chứ không dính dáng gì tới cá nhân người khoác lác ấy cả...
Một thứ sáu nọ, nhờ trục trặc nhỏ, một tình cờ đáng yêu, tôi đã thay đổi chương trình và có được những giây phút trở về dĩ vãng thật diệu kỳ. Khi cầm cây bút quẹt quẹt để mở nhạc trong điện thoại, tôi lại mở nhầm cửa Facebook. Vừa lúc đó, trong Facebook, hiện lên bài viết CON THÚY trong địa chỉ “nhà” của Thao Tran...
Sau 1975 gia đình tôi còn giữ lại được một số tờ nhạc rời của Phạm Duy, Trần Thiện Thanh và vài cassette tapes tiếng hát Thái Thanh, Nhật Trường. Bà chị Cả của tôi, chồng đi học “cải tạo”, chị tập tành học đờn guitare, tối tối đem bài nhạc Từ Đó Em Buồn của Trần Thiện Thanh ra gảy, tôi nằm kế bên cũng nẫu ruột theo...
Chị Bông đi chợ mang theo cái iPhone đến một cửa hàng bán phone nằm trong chợ Việt Nam để sửa chữa. Chị có cái iPhone, mỗi lần con đổi phone mới là người mẹ được thừa hưởng cái cũ kẻo bỏ không uổng phí, nên iPhone đời nào chị cũng đều có xài...
Chúng tôi thường đến chơi bên đường ray xe lửa. Phải mất khoảng hai mươi phút từ làng để đến đó, và bên dưới cánh đồng rộng lớn Prade là một sườn đồi dốc thẳng phủ đầy cây cọ chạy dài xuống đường xe lửa. Và ngay đó, một mỏm đá hơi nhô ra tạo thành một hốc không sâu, có thể che nắng mưa cho người đến trú, và bọn trẻ chơi đùa vào mùa hè như chúng tôi có thể té ngã trên nền cát ấm êm bên dưới mặt đất mà không bị trầy xước...
Tuyển tập Phóng sự Chiến trường 1972 của Nxb Văn Nghệ Dân Tộc in 1973 không có phần tiểu sử tác giả. Phóng viên Vũ Hoàng là ai? Bút ký của ông chật kín nỗi lòng người Kontum. Một chua xót phải mang gương mặt rỗ chằng chịt vết đạn và hơi thở nồng nặc mùi xác chết… Những trang chữ viết về những gì đã mất và còn lại của một thị trấn. [Trần Vũ].
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.