Hôm nay,  

Chỉ Vật Truyền Tâm

08/01/202614:40:00(Xem: 2428)

Chỉ Vật Truyền Tâm

Nguyên Giác

Trong Thiền Tổ Sư, thường nói rằng hễ thấy bản tâm xong mới biết tu, còn chưa thấy được thì chỉ là đi mù mờ trong đêm, cứ như chặp sáng chặp tối, không biết gì để tu. Bởi vì, chưa thấy gốc của tâm thì mọi chuyện tu chỉ là tu nơi ngọn của tâm, chỉ mất thêm thì giờ, cho dù là có phước đức. Tuy nhiên, Đức Phật nói rằng thân và tâm đều là rỗng không, vậy thì lấy gì mà gọi là gốc của tâm, hay ngọn của tâm.
 blank


Vâng, nhưng chính nơi cái nhận biết, khi thấy suốt cả trong và ngoài thân tâm đều rỗng không đó, đạo hạnh mới thành tựu, nơi đau khổ phiền não mới tan chảy như tuyết rơi vào lửa. Bởi vì không có chữ nào để gọi cái thấy rỗng không cả trong và ngoài là gì, nên chư tổ mới gọi cái thấy đó là bản tâm. Rằng cái gốc của tâm, nó vốn là không, là rỗng không, là trống trơn, không màu, không hương vị, nhưng rồi sẽ hiển lộ tất cả các màu sắc, các hương vị, các thanh âm trầm bổng  vui buồn...

Ngài Bồ Đề Đạt Ma ngồi nhìn vách đá suốt chín năm (thực tế, không ai ngồi suốt 9 năm, nơi đây chỉ là khuyên hãy tinh tấn). Nhà sư Huệ Khả (487-593) tới xin học Thiền, quỳ nhiều ngày dưới tuyết. Truyền thuyết kể rằng Huệ Khả rút dao tự chặt cánh tay (dĩ nhiên là huyền thoại, không có chuyện chặt tay, nhưng đây là nghệ thuật kể truyện để nêu bật chủ điểm), nói: "Con không an được tâm, xin thầy an tâm cho con."

Bồ Đề Đạt Ma nói: "Đưa tâm cho ta, ta sẽ an cho."

Sư Huệ Khả đáp: "Con không thấy tâm đâu cả." (Không thấy tâm mới là tuyệt vời, vì nơi đây mới thấy không có chỗ nào để bấu víu, dù là thấy ta hay người, dù là thấy có hay không, dù là thấy trong hay ngoài, dù là thấy xanh đỏ tím vàng hay trẩm bổng du dương...)

Bồ Đề Đạt Ma nói: "Ta đã an tâm cho con."

Sư Huệ Khả ngay đó liền đại ngộ. (Nếu nói Sư Huệ Khả thấy gì để đại ngộ đều là hỏng, chỉ nên nói đơn giản rằng đã thấy nơi gốc của tâm, nơi gương tâm trong trẻo tự lìa xa tham sân si, nơi viễn ly chữ nghĩa muôn kiếp nghìn đời, nơi quên sạch sành sanh tất cả những gì đã học của muôn kiếp quá khứ, nơi chẳng nhớ gì của hiện tại, và do vậy chẳng muốn gì của tương lai...)
 

Câu hỏi rằng: vậy thì, làm sao để truyền lại Thiền pháp tâm tông cho đời sau, khi không còn chữ nghĩa nói được? Vậy thì, làm sao truyền được cái cảm xúc khi nhận ra tâm này? Đã là Không, thì làm sao mà truyền?
 

Truyền Đăng Lục có câu rằng: "Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ." Câu này có thể dịch rằng, chỉ vật để truyền tâm, nơi người không hiểu.

Đơn giản, vì chúng ta không thể chỉ vào Không. Chúng ta chỉ có thể chỉ tay vào mây trắng, vào chim bay, vào hoa nở... luôn luôn phải có vật mới chỉ tới, nếu không có vật, thì sẽ không chỉ ra. Do vậy, thỉnh thoảng, chúng ta đọc thấy, khi trả lời câu hỏi Phật Tánh là gì, có sư chỉ vào gốc cây, có sư chỉ vào cánh chim đang bay, có sư bảo là có nghe tiếng chim kêu trên cành không, có sư bảo hãy uống trà đi...
 

Truyền thuyết kể rằng, thời xa xưa, một lần Đức Phật cầm lên đóa hoa, và ngài Ca Diếp mỉm cười. Niêm hoa vi tiếu là một giai thoại Thiền tông nổi tiếng kể về việc Đức Phật Thích-ca dùng hành động im lặng cầm một cánh hoa lên và mỉm cười, truyền đạt tâm ấn Phật pháp. Truyện ghi rằng Tôn giả Ca Diếp, người duy nhất thấu hiểu và mỉm cười lại, thể hiện sự thông suốt kinh nghiệm Phật tánh vượt ngoài ngôn ngữ. Giai thoại này là nền tảng cho sự truyền thừa của Thiền tông, nhấn mạnh việc khai ngộ không cần lời nói.
 

Chỉ vật truyền tâm? Đúng vậy. Chỉ vào cánh hoa (như tích Niêm hoa vi tiếu, khi Đức Phật truyền tâm ấn Thiền tông cho ngài Ca Diếp), hay khi các sư chỉ vào gốc cây, chỉ vào cánh chim đang bay, chỉ vào tiếng chim kêu, hay chỉ vào "hãy ngưng mọi chuyện, ngay lúc này, hãy nâng ly trà lên"... Nghĩa là, chỉ ngay vào cái đang được thấy, cái đang được nghe, cái đang được nếm ở bây giờ và ở đây. Ngoài cái đang được thấy, cái đang được nghe, cái đang được cảm thọ, cái đang được nhận biết ngay bây giờ và ở đây thì không có tâm nào khác. Và tức khắc, cái đang nhận biết đó (cái đang được thấy, được nghe, được cảm thọ) liên tục ngay tức khắc biến mất. Bởi vì, cái tâm tự lìa xa tham sân si, tự viễn ly chữ nghĩa muôn kiếp nghìn đời thì Vô Trụ, thì vô trụ xứ vì không có chỗ để trụ. Với tâm không trụ xứ, thì tất cả khoảnh khắc đều là Niết Bàn, bởi vì, ngay cả với dư tàn khổ não buồn vui hay nhức nhối tay chân mình mẩy cũng rồi sẽ là tuyết tan trong lò lửa, nơi tâm này tự hiển lộ vô thường, vô ngã và Không.
 

Đó là chỉ vật truyền tâm. Nếu không chỉ vật, thì không truyền tâm được. Vì tâm chỉ hiển lộ nơi cái được thấy, cái được nghe... Và "nhân bất hội xứ" nghĩa là "nơi người không hiểu được"... Tại sao?
 

Trước tiên, nên thấy rằng, còn thấy có cái gọi là "người" thì còn hỏng. Thấy thực tướng các pháp. thì sẽ thấy không có gì gọi là ta hay người. Kinh SN 22.95 ghi lời Đức Phật dạy rằng tất cả các pháp chỉ như đống bọt nước trên sông Hằng, nhìn kỹ thì hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Nơi đó, Phật dạy rằng bất kỳ sắc gì (hay thọ, tưởng, hành, thức gì) dù thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần... nhìn kỹ thì sắc (thọ, tưởng, hành, thức) ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Như thế, sẽ thấy không có gì gọi là ta hay người.
 

Chữ "bất hội" có nghĩa là "không hiểu" hay đơn giản, "không có kiến thức" gì hết. Khi nói rằng bạn hiểu, nghĩa là bạn dựa vào chữ nghĩa lý luận để bạn đúc kết thành một kiến thức, kiểu như gói đời sống vào mấy dòng chữ. Nói theo kiểu nghệ thuật làm phim, thì sắp xếp của chữ nghĩa lý luận là "công việc hậu kỳ" trong xưởng phim sau khi bạn quay phim, tức thấy và nghe ở ngoài phố. Dĩ nhiên, bạn cần một số kiến thức để làm toán, để lái xe... nhưng đó là chuyện khác.
 

Nếu bạn nói bạn có kiến thức về nụ hoa hay tiếng chim kêu, thì nụ hoa và tiếng chim kêu không còn là nụ hoa và tiếng chim nữa. Nó là kiến thức hậu kỳ trong xưởng phim, nó không còn là cái được thấy và cái được nghe quay từ ngoài phố nữa. Chính khi bạn đúc kết thành một kiến thức, thì đời sống biến mất.

Hãy sống Như Thị, vì trong Như Thị thì không có thấy, mà chỉ có cái được thấy. Tương tự, trong Như Thị thì không có nghe, mà chỉ có cái được nghe. Và tất cả đều biến mất trong từng khoảnh khắc, và từng khoảnh khắc đó là xa lìa quá khứ, xa lìa vị lai vả cả xa lìa hiện tại.
 

Nơi cái vô thường chớp nhoáng đó, nơi đó kiến thức sẽ tự khai tử, và vô thường chính là cái thường trụ, nơi đó là vô ngã, là Không, và là nơi xa lìa tất cả tham sân si, vì không có tâm nào hiển lộ nữa, chỉ còn cái tịch lặng, cái vô ngôn. Đó là nơi cái được thấy chỉ là cái được thấy và là nơi cái được nghe chỉ là cái được nghe, nơi dòng vô thường chảy xiết qua thân tâm, và là nơi không có gì để gọi là thân hay tâm.
 

Do vậy, cổ đức gọi ngộ được tâm này chính là "nơi người không hiểu" (nhân bất hội xứ), hay nói đơn giản: nơi tâm này thường trực thấy không có người, và tâm này thường trực thấy không có kiến thức nào để hiểu. Đó chính là Thiền Tổ Sư: chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ.

Do vậy, chính trong cái Tâm Không Biết, thì vô lượng cái Được Biết mới hiển lộ. Nơi đó, sẽ không có chỗ cho kiến thức, vì nỗ lực gói đời sống sinh động này vào vài dòng chữ sẽ chỉ làm hỏng mọi thứ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Những người có khuynh hướng cực đoan trong chính kiến, dù hữu khuynh hay tả khuynh, đều có những đặc điểm giống nhau và rất khác người ôn hoà. Bài viết này tóm lược một nghiên cứu tâm lý học đăng trên Sage Journals tháng Giêng 2019. Hy vọng nó sẽ giúp ta hiểu thêm về hiện tượng tâm lý chính trị cực đoan để tránh bị khích động, đồng thời giúp ta tìm ra cách hoá giải. Xin lưu ý “hữu khuynh”và “tả khuynh” trong bài được dùng theo định nghĩa thông thường và hoàn toàn không hàm ý tốt hay xấu. Trong chính trị học, cộng đồng con người thường được chia làm ba nhóm: cấp tiến (liberal), trung hoà (moderate) và bảo thủ (conservative). Sự phân cách này phần lớn xuất phát một cách tự nhiên, nhưng nó cũng có thể được nhào nặn thêm bởi giáo dục, truyền thống, truyền thông, xã hội v.v.
nhà báo kỳ cựu Don Oberdorfer trên tờ Washington Post ngày 3/3/1987 nhấn mạnh lời tuyên bố của trưởng đoàn IRAC: “Chúng tôi (người tị nạn) vẫn bị coi là một vấn đề cần giải quyết. Nay chúng tôi nhất định sẽ góp phần vào giải pháp.”
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Chết phải là một chuyến du lịch tuyệt vời vì chưa có một ai đã trở về!(“La mort doit être un beau voyage puisque personne n'en est revenue”). Thông thường trong những dịp Tết, người đời thường chúc tụng lẫn nhau sống thọ đến trăm tuổi. Không phải ai muốn chết lúc nào là chết được đâu. Phải tới số mới chết. Trời kêu ai nấy dạ mà Sống quá thọ có tốt, có cần thiết không? Không có ai nghĩ giống ai hết. Đặt câu hỏi như trên có thể làm nhiều người cảm thấy khó chịu, nhưng đó là sự thật. Tuổi thọ (longévité) trong điều kiện sức khoẻ bình thường, không ngừng gia tăng thêm lên mãi tại các quốc gia kỹ nghệ giàu có... Sự gia tăng nầy thật ra phải được xem như là một sự kéo dài của tuổi trẻ (jeunesse) hơn là một sự kéo dài của…tuổi già (vieillesse). Tại sao chúng ta già? Tuổi thọ đến lúc nào sẽ dừng lại? Nhân loại đã đạt được đến mức nầy hay chưa?
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Vào lúc 5:00 giờ chiều Chủ Nhật 26/04/2020, Hòa Thượng Thích Phước Tịnh đã có buổi nói chuyện trên mạng lần thứ hai với nhóm Phật tử Giớ Trẻ Mây Từ, với chủ đề những điều Phật tử nên làm trong mùa đại dịch COVID-19 đang tiếp tục hoành hành.
New York bị thiệt hại nặng nề hơn bất cứ khu vực nào tại Hoa Kỳ bởi đại dịch vi khuẩn corona tính đến nay, 26 tháng 4, và ác mộng của tiểu bang vẫn còn chưa hết. Hôm Thứ Bảy, 25 tháng 4, có 5,902 người đã thử nghiệm dương tính với vi khuẩn corona, và trong khi đó là sự sút giảm từ cao điểm của tiểu bang (khi một ngày chứng kiến hơn 10,000 người thử nghiệm dương tính), tiểu bang này vẫn còn nhiều trường hợp bị lây mới hơn 25 tiểu bang đã bị trong tổng số hơn 3 tháng kể từ vụ lây lan của vi khuẩn vào Mỹ bắt đầu.
Nam Hàn tiếp tục đổ nước vào suy đoán gia tăng về sức khỏe của lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Un, nói với CNN rằng ông ấy “còn sống và khỏe.” “Lập trường của chính phủ chúng tôi là vững vàng,” theo Moon Chung-in, cố vấn hàng đầu về chính sách đối ngoại cho Tổng Thống Nam Hàn Moon Jae-in, nói với CNN. “Kim Jong Un còn sống và khỏe. Ông ấy đã và đang ở tại khu vực Wonsan kể từ ngày 13 tháng 4. Không có biến đổi gì đáng nghi ngờ tính đến nay được phát hiện cả.”
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Hiện nay đã có 10 nước trong đó có Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc Châu, và Canada đang bàn tính đưa đơn kiện Trung Cộng phải chịu trách nhiệm về những hành động xấu xa của họ (Chinese government to pay for their malign actions). Việc đòi bồi thường nay thực ra chỉ là con số tượng trưng vì thực tế chưa có một thống kê nào liệt ra được tổn thất về kinh tế, tài chánh, đời sống tinh thần vật chất của 210 nước đang có người bị nhiễm bệnh này lên đến bao nhiêu ngàn ngàn tỷ USD. Đó là chưa kể đến thiệt hại về nhân mạng đã trên 2 triệu 200 ngàn người đang bị bệnh và gần 200 ngàn tử vong trên thế giới. Bởi vì sự thiệt hại nhân mạng quá lớn này, không thể ước tính số tiền như thế nào mới đền bù lại được những đau thương của người thân mất người thân trong suốt hơn bốn tháng qua.
Nước Mỹ hiện nay đã có chừng 50 ngàn người chết vì đại dịch Covid-19. Dịch đến trễ hơn nhiều nơi khác, nhưng Mỹ đã nhanh chóng trở thành quốc gia với số người bị nhiễm cũng như tử vong cao nhất thế giới. Phản ứng của chính phủ Mỹ thay đổi theo đà tăng của đại dịch. Trong khoảng hai tháng, Tổng thống Trump tỏ ra lạc quan và không cho đây là nguy cơ. Đột nhiên, khi dịch đã gia tăng đến mức không chối cãi được nữa, chính phủ vội vã phản ứng. Người ta khám phá là nước Mỹ khắp nơi bị thiếu thốn trầm trọng phương tiện để chống dịch, và số người chết tăng vọt.
Hôm Thứ Bảy, nhiều người ra biển chơi, bất kể lệnh cách ly. Carrie Braun, phát ngôn nhân Ty Cảnh Sát Quận Cam, nói chỉ đóng cửa các sân đậu xe bên bãi biển, nhưng không đóng cửa các bãi biển.
Hôm Thứ Bảy, 25 tháng 4 năm 2020, nhiều tin đồn xoay quanh việc nhà độc tài Bắc Hàn Kim Jong Un đã chết hay gần chết sau cuộc giải phẫu tim, với nhiều bản tin trích thuật từ Nhật và Trung Quốc. Phó giám đốc Đài Truyền Hình Vệ Tinh Hồng Kông HKSTV, hệ thống tại Hồng Kông có trụ sở tại Bắc Kinh, cho rằng Kim đã chết, trích “nguồn tin rất chắc chắn,” và đăng tải thông tin trên ứng dụng nhắn tin Trung Quốc Weibo khiến các phương tiện truyền thông xã hội xôn xao, theo báo International Business Times tường trình cho biết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.