Hôm nay,  

Song ngữ: Khi Tranh Luận Dứt Bặt // When the Quarrels Disappear

09/01/202509:19:00(Xem: 2626)
blank 

Khi Tranh Luận Dứt Bặt
 

Nguyên Giác
 

Chúng ta thường bị mắc kẹt giữa những cuộc tranh luận. Sống trong cõi này mà thoát khỏi những cuộc tranh luận thì rất hy hữu. Nơi đây, không bàn chuyện tranh luận chính trị, hay tranh luận giữa các tôn giáo; những cuộc tranh luận như thế đã dẫn tới những cuộc chiến tranh đẫm máu từ nhiều ngàn năm qua. Trong cổng nhà chùa Việt Nam, chúng ta cũng gặp những cuộc tranh luận. Không chỉ tranh luận giữa các tông phái, mà còn là tranh luận trong tâm của từng người một. Thực tế, với người hiểu đạo, một cách tự nhiên sẽ thấy không cần tranh luận nữa.
 

Trong tâm người tu, cuộc tranh luận lớn nhất là đi tìm lộ trình để xa lìa cõi sinh tử, tức là con đường đi từ cõi luân hồi tới Niết bàn. Cách nói khác: phải biện biệt để đi từ thế giới hữu vi tới thế giới vô vi. Khi chúng ta nói rằng có một thế giới vô vi, ngôn ngữ có thể đánh lừa chúng ta, vì thế giới vô vi, hay Niết bàn không nằm ở phương nào trong bốn hướng Đông, Tây, Nam và Bắc.
 

Thế giới hữu vi là những gì hiển lộ nơi sáu căn cùa chúng ta. Nó là những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, và được tư lường. Tất cả hiện tượng trong thế giới hữu vi là vô thường, là bất như ý, là vô ngã. Trong thế giới hữu vi, chúng ta thấy được các pháp sanh, già, bệnh chết. Tuy nhiên, Thiền Tông nói rằng ngay nơi đó cũng là Niết Bàn, vì sóng không rời nước, và ảnh không rời gương.
 

Mặt ngược lại, tuy rằng Đức Phật và các vị thánh tăng được nhìn thấy đã đi, đứng, nằm, ngồi như những người đời thường, nhưng quý ngài đã sống trong Niết bàn, trong cảnh giới vô vi. Đức Phật và các vị thánh tăng thời xa xưa tuy vẫn thuyết pháp, vẫn khất thực hàng ngày, vẫn nói, vẫn ăn và uống, nhưng quý ngài thực sự là đã sống với vô sanh.
 

Đức Phật đã nói trong Kinh MN 140 rằng khi người lìa xa vọng tưởng thì được gọi là ẩn sĩ tịch tịnh, và lúc đó họ tuy còn ở cõi này, nhưng họ đã không sanh, không già, và không chết. Thời sinh tiền, tuy quý ngài vẫn mọc tóc bạc, nhưng quý ngài không còn già nữa; tuy quý ngài có lúc vẫn ho, vẫn cảm cúm, vẫn đau lưng hay nhức chân, nhưng quý ngài thực sự không còn bệnh nữa; tuy quý ngài vẫn phải tắt thở, phải buông thân mạng để hỏa thiêu khi viên tịch, nhưng quý ngài thực sự không còn chết nữa.
 

Như thế, khi một người tu đã giải thoát, tâm của họ không còn chập chờn giữa chơn và vọng nữa. Toàn bộ sáu căn của Đức Phật và các thánh tăng là toàn chơn. Nhưng không giống như chuyện thay áo hay đổi giấy căn cước, tâm giải thoát không phải là cái gì từ cõi khác tới để thay thế tâm vọng tưởng.

Kinh Lăng Nghiêm nói rằng người tu khi thể hội cái chơn tâm, họ quán sát căn bản phiền não sẽ dứt hết các vọng tưởng. Lúc đó trong khi họ thấy, nghe và nhận biết, thì vọng tưởng đã dứt bặt trong tâm của họ, và hiển lộ sẽ là chân thường. Y hệt như trong một vở kịch, tất cả người trên sân khấu chỉ là các vai diễn. Người nào nhìn thấu suốt hậu trường vở kịch, thấy tận tường các vai diễn, người đó sẽ không còn khóc hay cười theo các diễn viên nữa.

Thiền sử Việt Nam có kể về Thiền sư Chân Nguyên (1647 - 1726), người đã khôi phục lại thiền phái Trúc Lâm. Ngài Chân Nguyên có bài thơ bốn câu, nội dung giải thích rằng đối với người đã chứng ngộ được pháp vô vi trong tâm, tức là tự tánh của tâm, thì toàn bộ sáu căn đều hiển lộ cái sự thật thường trụ, tĩnh lặng, bất biến.
 

Bản phiên âm Hán-Việt là:

Hiển hách phân minh thập nhị thì,

Thử chi tự tánh nhậm thi vi.

Lục căn vận dụng chân thường kiến,

Vạn pháp tung hoành chánh biến tri.
 

Dịch nghĩa:

Bày hiện rõ ràng, minh bạch được trọn ngày,

Đây là tự-tánh-biết phô bày không bị ngăn ngại.

Sự thật thường trụ ứng dụng được thấy nơi sáu căn,

Muôn pháp dù dọc hay ngang đều được giác ngộ, biết rõ.

  

Thiền sư Trần Thái Tông (1218-1277) nói rằng cái tánh biết thường trực đó không phải từ ngoài chen vào thân tâm chúng ta. Cái biết thường trực đó vốn là thanh tịnh, tròn đầy, vốn không dính một hạt bụi. Trần Thái Tông viết trong sách Lục Thì Sám Hối Khoa Nghi rằng chỉ vì có “Năng sở nương nhau, Phật, ta hai ngả,” nghĩa là vì chúng sanh chấp là có cái-tôi và cái-của-tôi, nên mới thấy hai đằng dị biệt là Phật và tôi.  
 

Thiền sư này lấy hình ảnh vọng tưởng như gió làm dậy sóng trên mặt nước của tâm; tương tự, vọng tưởng cũng như bụi bám đã làm mở ảnh hiện nơi gương tâm. Trần Thái Tông viết rằng muốn cho thân và tâm thanh tịnh, thì hãy để “gió lặng, sóng dừng; bụi hết, gương sáng.”
 

Khi Trần Thái Tông nói Phật và ta bị nhận lầm là hai ngả, tức là Niết bàn và cõi phiền não bị nhận lầm là hai đường dị biệt. Ngài nói, thực sự không có dị biệt nào hết, bởi vì sóng chính là nước, và ảnh chính là gương.
 

Vị Thiền sư Trung Hoa Linh Sơn Quy Hựu (771-853) viết rằng, “Nếu người tu khi thật ngộ được gốc thì họ tự biết, tu cùng với không tu chỉ là lời nói hai đầu.”
 

Nghĩa là, thấy được cội nguồn của tâm giải thoát, thì không còn bận tâm chuyện tu hay không tu nữa. Bởi vì nơi sáu căn, tất cả đều tịch lặng, đều xa lìa ngôn ngữ, đều là gương tâm hiện ảnh, mà ảnh thì lưu chuyển hoài, nhưng gương tâm vẫn bất động, trong trẻo, thanh tịnh.
 

Kinh Snp4.5 Sutta cũng ghi lời Phật nói rằng người nào đã buông bỏ hai đầu, buông hết mọi kiến chấp trong tâm thì họ sẽ không còn tranh cãi gì nữa trong cõi này. Lúc đó, khi người tu gặp tất cả những gì được thấy, được nghe và được nhận biết, sẽ không có một niệm nào khởi lên trong tâm nữa. Đó là thấy, nghe và biết trực tiếp, không hề qua bất kỳ diễn giải nào, ngôn ngữ nào, và cũng không hề lý luận hay mơ tưởng gì nữa. Với họ, các cuộc tranh cãi đã biến mất. Đó cũng là cốt tủy của Thiền Tông.

 

.... o ....
 

When the Quarrels Disappear
 

Written and Translated by Nguyên Giác
 

We often find ourselves caught in the midst of quarrels. It is rare to navigate this world without encountering quarrels. Here, we are not referring to political conflicts or those between religions; such quarrels have sparked bloody wars for thousands of years. Even at the gates of Vietnamese temples, we sometimes encounter quarrels—not only between sects but also within the hearts of individuals. In truth, for those who comprehend the Dharma, it becomes clear that there is no longer a need for quarrels.


 

In the mind of a practitioner, the most significant debate revolves around discovering the path to transcend the cycle of birth and death, specifically the journey from samsara to Nirvana. In other words, we must learn to navigate from the conditioned world to the unconditioned realm. When we assert that an unconditioned world exists, language can mislead us, as the unconditioned world, or Nirvana, is not situated in any of the four cardinal directions: East, West, South, or North.
 

The conditioned world is what manifests through our six senses: sight, hearing, smell, taste, touch, and thought. All phenomena in the conditioned world are impermanent, unsatisfactory, and devoid of a permanent self. Within this realm, we observe the cycles of birth, aging, sickness, and death. However, Zen teaches that Nirvana exists within this very experience, for the wave does not separate from the water, and the reflection does not depart from the mirror.
 

Contrarily, despite their appearance as ordinary people walking, standing, lying, and sitting, the Buddha and the holy monks resided in Nirvana, the unconditioned realm. The Buddha and the holy monks of ancient times still preached the Dharma, begged for alms every day, spoke, ate, and drank, but they actually lived with the unborn.
 

In the MN 140 Sutta, the Buddha stated that a practitioner who is free from delusions is known as a tranquil recluse. At that moment, although he remains in this world, he is not subject to birth, aging, or death. During his lifetime, even though his hair may turn white, he is no longer considered old. While he may occasionally cough, experience flu symptoms, or suffer from back or leg pain, he is genuinely free from illness. He is truly no longer dead, even though he must eventually stop breathing and surrender his life for cremation upon passing.
 

Thus, when a practitioner attains liberation, their mind no longer oscillates between truth and delusion. The entirety of the six senses of the Buddha and the holy monks is entirely authentic. However, unlike changing clothes or identity cards, the liberated mind is not an external entity that replaces the deluded mind.
 

The Shurangama Sutra states that when a cultivator realizes the true mind, he observes the fundamental afflictions and ultimately ends all delusions. At that moment, while he sees, hears, and perceives, delusions will cease in his mind, revealing what is true and eternal. Similar to a play, every character on stage is merely a role. Those who see beyond the stage will clearly recognize the roles, and such individuals will no longer cry or laugh along with the actors.
 

Vietnamese Zen history tells of Zen Master Chân Nguyên (1647-1726), who restored the Trúc Lâm Zen sect. Chân Nguyên wrote a four-line poem explaining that for those who have realized the Dharma of the unconditioned in the mind—that is, the true nature of the mind—all six senses reveal the truth of permanence, stillness, and immutability.
 

The poem has been transformed into prose as follows: All phenomena are clearly revealed throughout the day. This is the nature of unobstructed awareness. It is the eternal truth, perceived through the six senses. All dharmas, whether vertical or horizontal, are distinctly recognized and understood.

 

Zen Master Trần Thái Tông (1218-1277) said that the constant nature of awareness does not come from outside and intrude into our body and mind. This constant awareness is intrinsically pure, complete, and untarnished by a single particle of dust. Trần Thái Tông wrote in the book Lục Thì Sám Hối Khoa Nghi that it is only because there is “Năng sở nương nhau, Phật ta hai ngả,” meaning because sentient beings grasp that there is an “I am” and a “mine” that they see two different sides, Buddha and me.
 

This Zen master likened delusion to the wind that stirs up waves on the surface of the mind's water; in a similar vein, delusion can be compared to the dust that obscures the reflection in the mind's mirror. Trần Thái Tông stated that to achieve purity in both body and mind, one must calm the wind so that the waves cease; likewise, when the dust is removed, the mirror becomes clear.

Trần Thái Tông said that people mistakenly perceive Buddha and sentient beings as two distinct paths, i.e., Nirvana and the realm of afflictions. In reality, there is no difference at all, as the wave represents water and the image represents the mirror.
 

The Chinese Zen master Guishan Lingyou (771-853) stated, “If a practitioner truly understands the root, he will recognize for himself that practicing and not practicing are just two-sided words.”
 

When one perceives the essence of a liberated mind, concerns about practicing or non-practicing dissipate. In the realm of the six senses, everything is tranquil and detached from language; they serve as reflections of the mind. Although images continuously circulate, the mind's mirror remains still, clear, and pure.
 

The Snp4.5 Sutta also records the Buddha stating that those who have relinquished all extremes and abandoned all mental views will no longer experience quarrels in this world. Upon encountering everything seen, heard, and perceived, the practitioner's mind will remain devoid of any thoughts. This is direct seeing, hearing, and knowing—free from interpretation, language, reasoning, or daydreaming. For such an individual, quarrels have vanished. That is also the essence of Zen.

.

Tham Khảo / Reference:

Snp4.5 Sutta:

https://suttacentral.net/snp4.5/en/mills

https://suttacentral.net/snp4.5/en/sujato

https://thuvienhoasen.org/a30598/sn-4-5-parama-haka-sutta-kinh-ve-toi-thuong

- Kinh AN 3.47: https://suttacentral.net/an3.47/vi/minh_chau

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2n_Nguy%C3%AAn

.... o ....

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ hiện có hơn 920,000 trường hợp bị lây vi khuẩn corona và 51,919 người đã thiệt mạng, dù con số bị lây thực sự có thể còn cao hơn, như tại New York. Tuy nhiên, nhiều tiểu bang đã không đợi thêm thông tin tốt hơn để hướng dẫn các quyết định của họ. Georgia đang mở cửa cơ sở kinh doanh, dù, như báo New York Times tường trình tiểu bang có tỉ lệ thử nghiệm thấp nhất trên toàn quốc, và số trường hợp bị lây mới tiếp tục gia tăng mỗi ngày. Vì vậy nhiều chuyên gia y tế lo sợ rằng Georgia đang mở cửa quá sớm. Một số tiểu bang khác cũng đang nới lỏng ác hạn chế đối với các cơ sở kinh doanh không quan trọng hôm Thứ Sáu, 24 tháng 4, thách thức các chuyên gia y tế nói rằng quá sớm. Hôm Thứ Sáu Georgia mở cửa các nhà tập thể dục, tiệm hớt tóc, làm móng tay móng chân, tiệm xâm hình và các chỗ chơ bowling, với một số hướng dẫn giữ khoảng cách xã hội.
Trong cuộc chạy đua trên toàn cầu để tìm ra thuốc chủng ngừa COVID-19, nhiều thử nghiệm trên con người hiện đang được thực hiện, nhưng các nhà khoa học từ Đại Học Oxford của Anh là những người có vẻ tự tin rằng họ đang tiến tới việc chữa trị. Giáo Sư Sarah Gilbert lãnh đạo nhóm nghiên cứu ĐH Oxford bên sau thuốc chủng ngừa đầy khả năng đang được phát triển trong sự hợp tác với Viện Jenner. Bà nói rằng có “80% cơ hội” thành công, và có thể sẽ sẵn sàng cho việc sử dụng rộng rãi ngoài công chúng vào tháng 9 này. Thử nghiệm trên người của thuốc chủng ngừa đã bắt đầu hôm Thứ Năm, 23 tháng 4 tại Oxford. Nó được thực hiện với 510 thiện nguyện viên khỏe mạnh tuổi từ 18 tới 55.
Thống Đốc Gavin Newsom hôm Thứ Sáu, 24 tháng 4 tuyên bố hàng loạt sáng kiến để hỗ trợ những người dân California cao niên dễ bị tổn thương là những người đang cách ly tại nhà trong thời gian thực hành lệnh ở trong nhà của California.
Cơ Quan FDA của Mỹ đã mạnh mẽ cảnh báo hôm Thứ Sáu, 24 tháng 4, chống lại việc sử dụng hydroxychloroquine hay một hợp chất, chloroquine, để điều trị hay ngăn ngừa COVID-19 mà không có sự giám sát y tế chặc chẽ trong bệnh viện hay như một phần của thủ nghiệm lâm sàng. Cơ quan này nói rằng các viên chức của họ đã không chấp thuận thuốc chống sốt rét dùng cho mục đích đó – mà không có sự giám sát chặt chẽ đối với các tác dụng phụ, chúng có thể đưa tới đe dọa sinh mạng.
Với nỗ lực tiếp tục thực hiện các biện pháp bảo vệ y tế chung của cộng đồng, Bà Sherry Johnson, Tổng Điều Hành tạm thời của thành phố đã ra chỉ thị Executive Order EO-03, đòi hỏi nhân viên các cở sở thương mại đang mở cửa vì nhu cầu cần thiết trong mùa đại dịch phải đeo khẩu trang.
Cô Vi lúc mới xuất hiện ở Trung Quốc chẳng ai để ý. Nghe đâu cô ra mắt hồi tháng 11 năm ngoái ở chợ động vật Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc. Cô chẳng được để ý vì không mấy ai biết, hay tại ai đó muốn dấu mặt cô? Đến ngày 31/12 Tổ chức Y tế Thế giới WHO mới công bố cho thế giới biết là cô Vi đã xuất hiện và tung tăng lây lan từ người sang người. Ba tuần sau thì thành phố Vũ Hán với hơn chục triệu dân trở nên hoang vu vắng lặng ngay cả trong những ngày tết, đúng ra là lúc phải nhộn nhịp hội hè đình đám. Rồi cô tung tăng qua Nhật, Úc, Thái, Hàn, Pháp, Anh, Ý đem theo lo lắng, sợ hãi đến độ nhiều nơi phải bịt mũi, bịt miệng.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Chủ tịch Y tế Thế giới Frank Ulrich Montgomery đã chỉ trích mạnh mẽ nhiệm vụ đeo mặt nạ sẽ được áp dụng trên toàn nước Đức trong cuộc chiến chống lại virus corona từ tuần tới. Mặc dù ông ta đeo mặt nạ "vì lịch sự và đoàn kết", nhưng ông ta nghĩ rằng một nghĩa vụ pháp lý là "sai", Montgomery nói với tờ báo Düsseldorf "Rheinische Post" (ấn bản thứ năm).
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Vào khoảng đầu thế kỷ hai mươi, sống được tới tuổi 40, là các cụ ta đã mở tiệc ăn mừng "tứ tuần đại khánh", mà sống tới 70 tuổi thì cả là một sự hiếm có ( nhân sinh thất thập cổ lai hy).Cho nên, chúc tụng nhau, ngoài sự giàu có, ruộng cả ao liền, con cái tốt lành “như tranh, như rối “, các cụ còn chúc nhau
Lúc này trong trận đại dịch, thiên hạ bổng nhiên lây lan nhiễm bịnh ngã ra chết quá nhiều, đúng là những cái chết bất thình lình xảy ra. Không ai biết trước tại sao mới mấy tháng trước còn dắt nhau đi du lịch hà rầm, bây giờ ai nấy bị bắt buộc phải ru rú ở trong nhà trốn con vi khuẩn corona mà nhiều người gọi là cúm tàu suốt bảy ngày trong tuần, 24/24 luôn suốt cả tháng nay như cung nữ thời xưa. Muốn ra khỏi nhà để đi chợ mua thức ăn thì vừa đeo kiếng mát thiệt to, đứng cách nhau cả 2 thước, còn phải mang thêm cái miếng che mũi che miệng, che luôn hơi thở vừa ngộp, vừa bốc hơi mờ cả mắt kiếng hết thấy đường luôn!!!
Các bạn làm nail, làm tóc mến thương, Chúng ta sẽ bắt đầu trở lại nhịp sống của mình sớm. Chúng ta sẽ bắt đầu mở lại tiệm (trận chiến mới) theo một cách an toàn, có tổ chức và rất trách nhiệm. Các bạn sẵn sàng chưa cho trận chiến hoàn toàn mới (với chiến thuật và chiến lượt mới)
Ông xã của em mới ngoài 40 tuổi thôi, nhưng tóc ổng bạc nhiều lắm, nhiều muối hơn tiêu. Em muốn ổng nhuộm tóc nhưng ông không thích. Ra đường người ta cứ tưởng ông là ba của em. Làm sao đây?
Mỗi ngày đều có rất nhiều người muốn xin tái cấp bằng hành nghề, thắc mắc khi phải di chuyển sang tiểu bang khác, đổi địa chỉ nhà ở hay chỗ làm việc, muốn biết tin tức mới nhứt từ Hội Đồng Thẩm Mỹ (HĐTM)...
Nám da xảy ra khi trên làn da xuất hiện những đốm sậm màu, nâu lợt, đậm, thậm chí đen, nhiều hình dạng khác nhau, từ lấm tấm nhỏ gọi là tàn nhang, trên gò má ở tuổi dậy thì, và đầy nhữmg đốm tròn ở tuổi bị lão hóa thường xuất hiện sau độ tuổi 40, chẳng những trên mặt, mà còn có trên lưng bàn tay, và trên thân thể nữa. Nám da có nhiều nguyên nhân lắm, như đốm tàn nhang khi kích thích tố ở tuổi dậy thì hoạt động quá mạnh, ảnh hưởng tia cực tím từ ánh sáng mặt trời, sự lão hóa của da, hoặc trong giai đoạn tế bào tái tạo, sắc tố (Melanin) rối loạn ở tuổi dậy thì, dị ứng thuốc cũng có thể gây nám da.Những loại nám da như tàn nhang, rối loạn nội tiết, sau khi bịnh, lão hóa, thường có hình dạng khác nhau như lấm tấm, hình tròn, to, nhỏ không đều …thường phẳng và màu khác lạ như nâu lợt, nâu đậm, nâu đen.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.