Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Họ nói gì về mình, về cõi riêng của mình?

03/06/202200:00:00(Xem: 2629)
Nguyễn Thị Khánh Minh giới thiệu bốn nhà thơ nữ: Đinh Thị Như Thúy, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Thùy Song Thanh & Vũ Quỳnh Hương
  
Một cõi mênh mông các cảnh giới. Cũng là một chiếc kén bé nhỏ gói bí ẩn về giấc mơ một ngày kia sẽ tung ra muôn trùng tơ quấn quít hiện thực. Một khung cửa khép với chờ đợi, với cô lẻ số phận. Một bầu trời cao rộng với những đường bay mạnh mẽ hoan lạc của cánh chim tự do. Một mặt biển bị xao động bởi những con sóng ngầm làm ngạc nhiên thinh lặng của vực sâu. Là cánh cửa được mở tung bởi ngôn ngữ như những tiếng gõ dồn dập. Là bức tường bức phá bởi sức mạnh của ý tưởng. Là con đường hiểm hóc hay mượt cỏ, những bước chân vẫn đi tới đi tới.
 
Ở đó bạn nghe được khát vọng tìm hạnh phúc chân thực như trở về cội nguồn tâm sâu thẳm. Ở đó bạn sẽ thấy cảm xúc mình bung ra như sắc mầu của chiếc kính vạn hoa. Ở đó, những con chữ như nam châm hút cảm xúc người đọc. Ở đó, từ trường say đắm thơ mộng của Đinh Thị Như Thúy, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Thùy Song Thanh, Vũ Quỳnh Hương.
 
 

ĐINH THỊ NHƯ THÚY

 
nhu thuy

 

Người đàn bà không giấc ngủ

 

Người đàn bà trong tôi có giấc ngủ muộn phiền
bị cắt ra bởi ngàn lời đay nghiến
Đêm vẫn bình thản trôi
Đêm cuối cùng mùa hạ
Người đàn bà trong tôi
Có cái nhìn dửng dưng của đôi mắt đá
Ngày cứ bình thản qua
Chuỗi ngọc quí nằm sâu đáy nước

 

Mỗi ban mai

Những ám ảnh của giấc mơ đêm đè nặng

Như chiếc đòn gánh trên vai thiếu phụ

chân đất đầu trần

Gánh đậu hủ qua cầu Bạch Hổ ban trưa

Hai tà áo gió cuốn về hai phía

 

Tôi cố dỗ dành người đàn bà

Bằng lời ca của hòn cuội trắng 

Bằng những bông hoa dại ven đường                       

Bằng vũ điệu của bầy cá loi choi

búng lên từ mặt hồ sương sớm

Rằng yên rằng quên rằng nguôi

Dẫu giấc ngủ sẽ thôi không về nữa

Mỗi ban mai vẫn vàng rực mặt trời


Và, trở về tĩnh lặng

 

Anh lại choán đầy tâm trí em
Như giòng suối mùa mưa bị choán đầy bởi thác ngàn lũ núi
Ơi anh
Mặt trời hoang dã đến nao lòng

Hãy lãng quên và cho em những ngày quên lãng
Em cần tĩnh lặng
Để thu xếp những ý nghĩ ngổn ngang
Như người đi xa trở về
thu xếp đồ đạc trong căn nhà bừa bộn

Em ngắm nhìn những chùm quả xám nặng đung đưa
Và nhớ về màu hoa tím cũ
Và mái tóc em đang ngày một ngắn lại
Vì không đủ sức đợi chờ
Và cả vị trí khuất lấp ấy trong cuộc đời
Dường như cũng không có thực
Và anh

Dẫu đang ở rất gần
Hãy lãng quên và cho em những ngày quên lãng
Em xin sự tĩnh lặng này
Để lẩn vào góc tối
Đắm mình trong nỗi sợ những ngày xa

 

Đinh Thị Như Thúy

 

*

 

PHẠM THỊ NGỌC LIÊN

 
ngoc lien

 

Đến đường hoa mười giờ lúc mười giờ


Run rẩy giữa mênh mông xanh rồi chết lặng

tan như hạt bụi nhỏ nhoi

phía sau là thành phố

 

Chợt nhớ đêm qua giấc mơ thổn thức nặng trĩu

chợt nhớ đuôi mắt nhăn nhiều hơn khi cười

chợt nhớ anh đã lâu không gặp

em đi tìm hoa như tìm một hạnh phúc bé xíu

để tựa vào

 

Giữa mênh mông xanh như tâm hồn người đàn bà đang yêu

bàn chân trần thảnh thơi rón rén

em hồng hào rồi đỏ thắm rồi vàng mơ rồi tím biếc

như hoa mười giờ rực rỡ nở hàng triệu đôi môi thoa son

vào lúc nắng trên cao tít tắp

hoa nở như thể tận hiến tình yêu tận hiến cuộc sống

dẫu có thể ngày mai mưa

 

Gặp hoa như gặp anh sau nhiều ngày xa vắng

trái tim một chút xôn xao một chút ngậm ngùi

anh biết không

vì sao hoa mười giờ chỉ nở lúc mười giờ

vì sao em đỏ thắm ngay cả lúc thiếu anh?

 

Dẫu có thể ngày mai mưa

dẫu thành phố khi em quay về vẫn ngập ngụa khẩu trang và nước sát khuẩn

dẫu anh ở đâu đó trong hàng người bị cách ly em không thể gặp

em cũng sẽ cười như hôm nay nở như hôm nay

dưới nắng

 

Đến đường hoa mười giờ lúc mười giờ

em giống như cánh hoa kia

mỗi ngày đều tận hiến...

 

(Tiền Giang, 18-8-2020)

 

Tự ca của những Eva cô quạnh

 

Em nằm trong danh sách của những người đàn bà
Không có đàn ông
Dầu vẫn có trái tim nóng hổi
(Trái tim thèm một điều tội lỗi
Được yêu và phản bội chính mình !)
Ôi những Eva đôi mắt quầng xanh
Đêm thao thức những nỗi buồn trong ngực
Những vết rạn đầu đời tấm tức
Như con chim che mặt trước cành cong
Khi tình yêu sủi bọt phía sau cùng
Lời tuyên hứa một mình
Đã nổi

Những Eva bối rối
Trái tim khôn ngoan, khờ khạo, ngu đần
Bàng hoàng sau câu nói vĩ nhân
(Vĩ nhân đúng là vĩ nhân khi thốt thành lời nói)
Ôi trái tim em thèm một điều tội lỗi
Được yêu và phản bội chính mình

 

Liên đêm

Liên đêm
con bướm bay vào giấc ngủ
em tha thiết vẫy những mộng mị hoang đường
ngực góa phụ êm như nhung
phơi mở

Khuôn mặt ai rất mờ
thêu dệt từng lời ngọt dịu
tự hỏi mình có thể yêu ai nữa không
những tình yêu cào xé

Hỡi anh
đôi môi ngàn đêm nứt nẻ
ngàn đêm mộng mị thức tỉnh
em đã hôn anh không kể ngậm ngùi
cùng niềm hoan lạc
ngày mai biết đi đâu về đâu
hun hút một hành lang mệt mỏi...

 

Phạm Thị Ngọc Liên

 

*

 

NGUYỄN THÙY SONG THANH

 

song thanh
(Tranh của họa sĩ Nguyễn Văn Đô)

 

Cõi ước

 

Cơn mưa bão suốt một mùa người đã tan hoang

Nước về nguồn tịch mạc

Gió chìm cõi vô vi

Sấm sét chui sâu hang cực lặng

Người ta trả chàng vào lòng đất

Tôi thả theo một bông hoa đẹp nhất

Nụ hôn của Đất và Trời

Và một nắm đất

Nắm đất đã chảy máu thơ chàng thời chiến tranh

Vẫn chưa ngưng thời hòa bình

Và thả thêm sợi tóc run rẩy sinh linh

Từ mái đầu sương bứt xuống

Sẽ dẫn đường liêu trai

Vượt lũy âm dương

Đưa chàng về bên tôi

Và thả cuối cùng ngọn bút với trang giấy thinh không

Để chàng mở cửa niết bàn cực lạc

Mở cửa âm phủ lụy đọa nát tan

Mở cửa thiên đàng cõi sống vĩnh cửu hạnh phúc

Mở cửa trần gian phiêu hốt

Mở hết

Mở hết

Rao truyền sứ điệp chúng ta sẽ thuộc về nơi khác

Tất cả chỉ còn là một Cõi Yên Vui

Hằng hằng duy nhất

 

(3.2015)

 

Bông hồng và những chuyến xe buýt trên đưòng Bolsa

 

Trong dòng luân lưu đại động mạch

hồng cầu nhiễm sắc vàng, đen, nâu

những hạt trân châu

nhộn nhạo cùng sạn cát

xe cộ ùn ùn ngày trơ phiêu dạt

một băng ghế đìu hiu

một bông hồng âm u

làn tóc rối cỏ

lòng quạnh tàn xưa

 

Cô tài xế da đen vừa nhịp chân rầm rập

lên sàn xe vừa bẻ tay lái vừa ca

In that black heaven, we are…

cứ thế khắp phố phường

chúng ta trôi qua

 

Những con đường nằm nghe gian lao

những cây phượng tím khóc đời hư hao

mỗi trạm dừng thả một bước chân xiêu đổ

Cali giàu có và Cali tan vỡ.

 

Ơi xe, đừng dừng. Thôi cứ lăn

còn muốn nghe cô tài xế hát khúc ca đen

trân châu cùng sạn cát

khua rền cõi thiên đường

 

Chiều chưa đi chiều còn nấn ná

bông hồng cao quý ơi chớ vội tàn

e nước mắt không kịp với hồn ta khóc lả

Black heaven

 

Nguyễn Thùy Song Thanh

Cali, 2006)

 

*

 

VŨ QUỲNH HƯƠNG

 

quynh huong

 

Đổi giờ

 

Bóng tối tràn lấp mặt trời
tôi vặn kim đồng hồ
tặng mình thêm một giờ mùa đông
một giờ một giờ đầy đặc bóng tối
buổi chiều năm giờ tan sở buồn như nửa khuya
hơi ấm hệ thống sưởi không ấm đủ ngoài vỉa phố

 

Tôi nâng niu trên tay chiếc bóng
một ngày tàn
thở ra khói
mùa đông không lãng mạn
mùa đông những ngày lễ vang động tiếng rộn ràng
dội ngược thành
những tiếng than

 

Tôi vặn kim đồng hồ
xin thêm một giờ hạnh phúc
một giờ một giây một khoảnh khắc
tôi sống ngon lành như ăn uống
ngấu nghiến

 

Tôi vặn kim đồng hồ
nhận thêm một giờ sầu bi
một giờ một đời một thế kỷ
tôi sống nhọc nhằn thiếu dưỡng khí
tôi già tôi da mồi tóc bạc
tôi chết

 

Tôi vặn kim đồng hồ
thêm bớt trả giá kỳ kèo từng phút từng giờ
trái tim thoi thóp

 

Tôi tiếp tục vặn kim đồng hồ
tiếp tục thở

 

Trăng ở Halfmoon Bay

 

Hãy tới hãy tới hãy tới Halfmoon Bay với anh

Ở một nơi trăng biếc gió xây thành

Đêm và mộng và anh cùng ước hẹn

Ở Halfmoon Bay màu trăng rất xanh

 

Hãy bước khẽ hãy ngồi đây với anh

Đêm nguyệt tận bầy chim bay không về

Em muốn thấy sao khuya làm hôn lễ

Nghiêng lòng xuống và ở đây với anh

 

Hãy nói nhỏ hãy nhìn sâu mắt anh

Đêm thở hơi em nồng nàn cỏ biếc

Đi đi với anh qua cửa trăm năm

Trăng đã rụng và môi em đã chín

 

Môi ngực ủ trầm hương em đến đây

Bờ cõi mộng đã đầy lên phương này

Lòng anh đã trải nguyệt tràn năm cửa

Đêm Halfmoon Bay và anh đã say

 

Trăng Halfmoon Bay làm em nhớ thương

Những bờ sông trải lụa tới thiên đường

Những lòng thuyền neo bến chờ thinh vắng

Áo lụa em vàng hơn xiêm áo trăng

 

Những con trăng ở đậu lúc xuân thì

Đợi em về ngủ mộng giữa đôi mi

Cửa thanh xuân khép nhẹ chờ trăng tới

Trăng mặn nồng cúi hôn niềm phân ly

 

Trăng Halfmoon Bay tình yêu xứ này

Thắp sương mù nhẹ mỏng tà váy bay

Phấn son thơm vây ảo lòng thiếu nữ

Buồn lặng ở bên trời không ai hay

 

Ở Halfmoon Bay mùa trăng đã xa

Lối em qua khói sóng đã phai nhòa

Áo em xưa lạnh nguyệt trong tà mộng

Đêm thở dài nghe sao khuya đổi ngôi

 

Đêm và mộng và anh ngoài cõi gió

Ở một nơi trăng khóc nuối tình duyên

Ở một nơi sầu trổ nhánh ưu phiền

Ở Halfmoon Bay em và trăng đã khóc.

 

Vũ Quỳnh Hương

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Mùa thu dẫu vừa khảy đôi ba nhịp vàng trên tàn cây. Mùa thu dẫu đang đốt hết mình trên hàng cây maple đỏ lá suốt dặm dài. Và mùa thu cho dù cũng vừa khép cánh cửa để ra đi, khép rất nhẹ nhàng như sợ làm thức giấc ai đó đang say ngủ. Tất cả. Những bổng trầm của mùa thu đều rúng động mấy tầng cung bậc cảm xúc của ta. Phiến lá vàng óng kia ẩn mật điều gì. Dấu chân vàng ố chiếc lá cuối thu như thể là những dấu chân cuối cùng để – nhẹ hẫng về mai sau – Ngọn gió của mùa thu ly tan nào vẫn thảng thốt trong nỗi chờ đợi. Hạt mưa nào xám tro quán phố. Và người ngồi nghe gió mùa thu về như – tiếng thổn thức của thời gian. Bạn ơi, xin lắng lòng trong buổi đêm tịch mịch để nghe cảm xúc bạn hòa âm thế nào với âm vang thu, để biết tác động mãnh liệt của thu – phù vân thôi cũng nát đời như chơi…
Phần lớn các nhà thơ nữ sinh sau cột mốc đau thương 1975, đã dường như nhẹ nhàng hơn, những ám ảnh của chiến tranh, ít bị day dứt hơn vấn đề ý thức hệ. Họ ít nhiều đã hưởng được quả ngọt của nữ quyền, thoát ra khỏi khung cửa chật hẹp của định kiến, góp phần nở rộ một dòng thơ mạnh mẽ, tự tin, khao khát tự do, và bản lĩnh, nói rất thực nhân sinh quan của mình về những mối tương quan trong một thế giới vật chất như hiện nay. Họ cũng rất phóng khoáng thể hiện những cảm xúc đam mê dạt dào nữ tính. Mang những trạng thái có vẻ như đối nghịch nhau như thế khiến dòng thơ của lớp thơ nữ này tỏa sức quyến rũ lạ lẫm, tạo nên một lớp độc giả với cảm thụ thi ca mới mẻ.
Khi toàn quốc chiến đấu, người phụ nữ cũng xuất hiện trên các chặng đường của đất nước. Chúng ta đã nhìn thấy hình ảnh người phụ nữ trong cuộc chiến ở Ukraine trên truyền hình, trên YouTube. Họ là các y tá, những chị bếp, hay người nữ chiến binh… nghĩa là tất cả những phương tiện phục vụ cho chiến trường chống lại quân Nga. Nơi đó, giữa những tiếng súng chúng ta nghe được từ màn hình TV, giữa những lời kêu gọi tác chiến, vẫn có những lời thơ đầy nữ tính từ đất nước đau khổ Ukraine. Nhà nghiên cứu Julia Friedrich của Viện Nghiên Cứu Chính Sách Công Toàn Cầu (Global Public Policy Institute - GPPi) tại Berlin trong bài nghiên cứu về hình ảnh phụ nữ tại Ukraine, nhan đề “Feminist Activism in Ukraine Usually Means Demanding More Weapons” (Hoạt động nữ tính tại Ukraine thường có nghĩa là xin thêm vũ khí) đăng trên tạp chí Tagesspiegel Online bằng tiếng Đức ngày 6/8/2022 cho thấy ngoài làn sóng di tản ra hải ngoại, còn rất nhiều phụ nữ ở lại Ukraine để trở thành trụ cột cho một giềng mối mới
Bà nổi tiếng với bộ tự truyện 6 cuốn. Quyển thứ nhất nổi tiếng nhất trên thế giới viết về 17 năm đầu đời của bà, I Know Why The Caged Bird Sings (1969), bà nói: “Đầu tiên người đời phải học cách chăm sóc chính mình để rồi có thể chăm sóc người khác. Đó là lý do làm cho “chim trong lồng hót”. Với tự truyện này bà được xem là một trong những phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên dám công khai bạch hóa đời riêng của mình. Maya Angelou được chọn làm “Người Phụ Nữ của Năm 76” (Woman of the Year) về Truyền Thông của tạp chí Ladies’ Home Journal. Giải Thưởng Matrix của Hội Women in Communications, Inc. vào năm 1983, Giải Thưởng Văn Chương North Carolina vào năm 1987, Giải Thưởng Candace 1990 của Cơ Quan Liên Minh Quốc Gia Phụ Nữ Da Đen (The National Coalition of Black Women).
Langston Hughes và Maya Angelou là hai tên tuổi lớn của nền thi ca da đen. Trang thơ xin bắt đầu với Langston Hughes. Ông sinh ở Joplin, Missouri, là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch. Thơ của ông kết hợp nhiều thể loại, mang đậm nét những bài hát dân gian da đen. Ông tôn vinh nền văn hóa người Mỹ gốc Phi châu trong thời kỳ được gọi là Thời kỳ Phục Hưng Harlem.
Là một nhà thơ, một nhà văn, và là một nhà báo. Hẳn là quá nhiều cho một đời người. Và rồi trở thành chiến binh, sau khi quân Nga tiến vào chiếm bán đảo Crimea và tấn công miền Đông Ukraine năm 2014: nhà thơ Borys Humenyuk đã tình nguyện ra trận chống quân Nga. Một số bài thơ của ông được dịch sang tiếng Anh trong tuyển tập Poems From The War, do hai dịch giả Oksana Maksymchuk và Max Rosochinsky thực hiện. Borys Humenyuk ra đời năm 1965 tại ngôi làng Ostriv, thị trấn Ternopil, miền tây Ukraine. Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà báo. Humenyuk đã tham gia tích cực vào những cuộc biểu tình cuối năm 2013 để dẫn tới Cách mạng Nhân phẩm (Revolution of Dignity) của Ukraine trong tháng 2/2014. Những câu chuyện về chiến tranh được kể trong thơ Borys Humenyuk là có thật, không hư cấu.
Chúng ta đều biết rằng Belarus là một nhà nước toàn trị, tuy mức độ cai trị không khắc nghiệt như ở Nga nhưng vẫn là độc tài hơn hầu hết các nước ở Châu Âu. Tuy nhiên văn học Belarus lại là một lĩnh vực không liên hệ bao nhiêu tới những cam kết chính trị của nhà nước Belarus trong nỗ lực hỗ trợ cuộc chiến của Putin tại Ukraine. Những bài thơ được dịch từ tiếng Belarus sang tiếng Anh đang phổ biến trên nhiều mạng trong học giới Hoa Kỳ cho thấy một khuôn mặt văn học Belarus rất mực thơ mộng của một dân tộc đang tìm tới chân, thiện, mỹ. Belarus có khoảng 9 triệu dân, thủ đô là Minsk, từng là một phần của Liên Xô cho tới năm 1991 tới tách ra, được cai trị bởi Tổng Thống Alexander Lukashenko từ năm 1994 (quá lâu, tới 28 năm nắm quyền tối cao). Biên giới Belarus vây quanh bởi Nga, Ukraine, Ba Lan, Lithuania và Latvia. Hơn 40% trong 207,600 cây số vuông (80,200 dặm vuông) là rừng. Belarus bị Thế Chiến 2 tàn phá, mất 1/3 dân số và hơn ½ tài nguyên kinh tế.
Di sản nghệ thuật của nhạc sĩ Cung Tiến không nằm ở số lượng, mà đầy ở phẩm chất. Ngoài những ca khúc, tấu khúc thuần tuý giá trị về âm nhạc, ông còn để lại những bài viết, tiểu luận dưới nhiều đề tài văn học, kinh tế, và truyện dịch. Chúng ta đã đọc, đã nghe khá nhiều về tài hoa và khả năng sáng tác của Cung Tiến từ tuổi 15 cho đến những năm tháng sau cùng. Trong những quà tặng ông để lại tôi đặc biệt yêu thích nghệ thuật phổ thơ thành nhạc của ông, chẳng những cho chúng ta thưởng thức giai điệu bán cổ điển tây phương, ngủ âm đông phương, mà còn mang thơ Thanh Tâm Tuyền, một trong vài thi sĩ hàng đầu trong thời đại của ông đến giới thưởng ngoạn nhạc nghệ thuật và lưu trữ vào kho tàng âm nhạc Việt. Thơ Thanh Tâm Tuyền không dễ phổ thành nhạc.
Như những tiếng cầu xin cứu vớt linh hồn chúng tôi / ngoài khơi bí mật đến tự một con tàu biển; / qua những mảnh danh từ dệt nên hồn mầu nhiệm / em vẫn chỉ là tóc mây cổ nõn và môi./ Sau áo len danh từ là thế giới xa vời, / là đêm không trăng sao là trùng dương thăm thẳm; / qua những chuỗi ngọc cười, em vui nước mất đẫm / vai anh, em buồn. Đêm hồn anh dài không nguôi.
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.